Lục vân tiêN



tải về 0.53 Mb.
trang1/11
Chuyển đổi dữ liệu11.11.2017
Kích0.53 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11
    Навигация по данной странице:
  • Phần 1.

LỤC VÂN TIÊN


LỤC VÂN TIÊN
MỘT TÁC PHẨM CHẤN HƯNG PHONG HOÁ DÂN TỘC


Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) là một nhà nho yêu nước chân chính tiêu biểu của Nam Bộ trong thế kỷ XIX.

Cùng chung số phận với nhiều văn thi hào và sĩ phu kiệt hiệt khác như Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Trương Định..., Nguyến Đình Chiểu sống vào một giai đoạn vô cùng đen tối của lịch sử dân tộc. Triều đình nhà Nguyễn (với những ông vua thủ cựu như Tự Đức...) đang trên đà suy sụp, đã mất hẳn khả năng lãnh đạo nhân dân kể cả trong công cuộc xây dựng cũng như công cuộc bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Xã hội Việt Nam thời đó rơi vào tình trạng ngưng trệ và lạc hậu thảm hại. Rốt cuộc, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, cái triều đình ươn hèn, bất lực đó đã không thể đối phó, không thể lập được "thế cân bằng" với ngoại bang, và đã để đất nước ta rơi trọn vào tay chúng.

Trước vận mệnh bi đát của đất nước, trước cảnh "sinh dân nghiêng nghèo" ấy, Nguyễn Đình Chiểu cũng như bao người hiền tài khác, đã đau lòng nhức óc biết là nhường nào!

Trước kia Nguyễn Trãi đã từng nhận định rằng trên đất nước ta, các thời đại "tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt không bao giờ thiếu" (Bình Ngô đại cáo).

Nguyễn Đình Chiểu là một người con hào kiệt của vùng đồng bằng Nam Bộ, là một nhân cách lớn mà sự nghiệp và tên tuổi của ông sẽ mãi mãi sáng ngời. Là nhà thơ suốt đời bị mù loà, nhưng không những ông là tác giả của tác phẩm bất hủ Lục Vân Tiên, của "Ngư tiều y thuật vấn đáp", "Dương Từ Hà Mậu"..., ông còn là tác giả của những bài thơ, những bài văn tế nổi tiếng, trong đó ông đã tưới máu và nước mắt của mình hoà chung với những bi kịch mà nhân dân anh hùng bất khuất và đau thương của ông phải chịu đựng khi chống trả bọn xâm lược. Có những câu thơ của ông đã khắc sâu vào lòng người:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Lịch sử văn học đã xác nhận Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn, nhà thơ tiên khu vĩ đại, người mở đầu cho dòng văn học yêu nước và cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Lục Vân Tiên là tác phẩm "tiểu thuyết bằng thơ nôm" sau chót của văn học Việt Nam, được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác ngay trong thời kì cận đại. Đó là điểm son cuối cùng của loại hình tác "truyện nôm", "diễn ca nôm" như Chinh phụ ngâm, cung oán ngâm khúc, Hoa Tiên, Phan Trần, Nhị Độ Mai, Bần nữ thán, Truyện Kiều, truyện nôm khuyết danh...

Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác Lục Vân Tiên với động cơ gì?

Như trên đã nói, trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam, trong cơ chế của một chế độ phong kiến phương Đông ngưng trệ, lạc hậu, đương trượt dài trên con đường suy thoái. Khắp đất nước phơi bày tình cảnh nghèo đói xác xơ, đạo đức con người cũng như phong hoá dân tộc ngày một sa sút.

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho chân chính, cho nên trong lòng ông lúc nào cũng đau đáu những ý tưởng về sự "kinh bang tế thế". Do hạn chế về lịch sử, ông chưa nhận thức được rằng những ý tưởng của những sĩ phu phong kiến như ông muốn khôi phục lại một xã hội lý tưởng thời Nghiêu - Thuấn, thực ra đã lỗi thời rồi...

Tuy nhiên với tâm huyết sôi sục của một con người nhập thế tích cực, nhất thiết ông phải hành động để phụng sự đất nước và dân tộc ông. Chính vì thiết tha muốn "đem lời nói đốt cháy lòng thiên hạ" (thơ Puskin) mà ông viết Lục Vân Tiên. Với ông, trong lúc đời đang suy, việc viết một tác phẩm đứng đắn và mang đầy nhiệt huyết như Lục Vân Tiên chính là một diệu kế, khả dĩ cứu vãn được sự suy thoái của đất nước và chấn hưng được phong hoá của dân tộc.

Lục Vân Tiên là bản trường ca đề cập về luân lí đạo đức của con người, nói cách khác: về "Đạo lý Việt Nam".

Đạo lý ấy rất giản dị: Trai thì trung với nước, hiếu với cha mẹ, có chí tiến thủ, giúp nước cứu dân; gái thì tiết hạnh và cao quý; đồng bào ăn ở với nhau thì có thuỷ có chung, luôn luôn sẵn sàng cứu giúp nhau trong những cơn hoạn nạn, không vì danh lợi mà chà đạp lên tình người, không vì những đố kị và oán hận riêng tây mà hại người, không nên "hành" những nghề lừa bịp tức cười như lang băm, thầy bói, thầy pháp nhảm nhí...

Cái đạo lý rất mực dân dã ấy thực ra lại là rường cột của nền đạo đức của cả một dân tộc, là cội nguồn của hạnh phúc con người. Cái kết thúc "có hậu" của Lục Vân Tiên phản ánh quan niệm của nhân dân đối với những ai biết giữ gìn đạo đức (như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Hớn Minh...). Ngược lại, những nhân vật như Võ Công, mẹ con Thể Loan, Trịnh Hâm, đã phải trả giá đắt chỉ vì họ đã vứt bỏ cái đạo làm người đó.

Là tác phẩm viết cho quảng đại quần chúng, chuyên luận bàn về luân lí đạo đức, Lục Vân Tiên được sáng tác, cốt truyện mạch lạc và hấp dẫn, đậm đà màu sắc văn hoá Nam Bộ.

Đọc Lục Vân Tiên chúng ta cảm nhận được cái tinh thần đạo đức cao quý và tình người chan chứa hiện ra phơi phới trong mỗi trang thơ.

Các nhân vật chính như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Vương Tử Trực, Tiểu Đồng, và các nhân vật phụ như Thể Loan, Kiều Công, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm... được tác giả miêu tả nkhá sinh động, có cá tính.

Đặc biệt nữ nhân vật Kiều Nguyệt Nga - người con gái Việt Nam đức hạnh nết na - rõ ràng có một cuộc sống nội tâm khá phong phú, sâu sắc, một sự thông minh dễ thương và một đức kiên trinh đáng khâm phục, khiến chúng ta không thể không xúc động và yêu quý nàng.

Tất cả những điều đó giải thích vì sao Lục Vân Tiên đã được đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân Nam Bộ, mến mộ suốt hơn một thế kỷ qua; vì sao Lục Vân Tiên đã đi vào ca dao:

Vân Tiên Vân Tiển Vân Tiền

Cho tôi một tiền, tôi kể Vân Tiên...

TP. Hồ Chí Minh tháng 10-1996
Thiên Chương

Phần 1.


LỤC VÂN TIÊN

Trước đèn xem truyện Tây minh, (1)

Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le.

Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,

Dữ răn việc trước lành dè thân sau.
Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.

Có người ở quận Đông Thành,

Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền.


Đặt tên là Lục Vân Tiên,

Tuổi vừa hai tám nghề chuyên học hành.(2)

Theo thầy nấu sử xôi kinh,

Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao (3)


Văn đà khởi phung đằng giao, (4)

Võ thêm ba lược sáu thao ai bì.

Xảy nghe mở hội khoa thi,

Vân tiên vào tạ tôn sư xin về:


"Bấy lâu cửa thánh dựa kề,

Đã tươi khí tượng lại xuê tinh thần.

Nay đà gặp hội long vân,

Ai ai mà chẳng lập thân buổi này.


Chí lăm bắn nhạn ven mây, (5)

Danh tôi đặng rạng tiếng thầy bay xa.(6)

Làm trai trong cõi người ta,

Trước là báo bổ sau là hiển vang".(7)


Tôn sư khi ấy luận bàn:

"Gẫm trong số hệ khoa tràng còn xa.

Máy trời chẳng dám nói ra,(8)

Xui thầy thương tới xót xa trong lòng.


Sau dầu tỏ nỗi đục trong.

Phải toan một phép để phòng hộ thân.

Rày con xuống chốn phong trần,

Thầy cho hai đạo phù thần đem theo.(9)


Chẳng may mà gặp lúc nghèo, (10)

Xuống sông cũng vững lên đèo cũng an".

Tôn sư trở lại hậu đàng,

Vân Tiên ngơ ngẩn trong lòng sinh nghi:


"Chẳng hay mình mắc việc chi,

Tôn sư người dạy khoa kì còn xa?

Hay là bối rối việc nhà,

Hay là đức bạc hay là tài sơ?


Bấy lâu lòng những ước mơ

Hội này chẳng gặp còn chờ hội nao?

Nên hư chẳng biết làm sao,

Chi bằng hỏi lại lẽ nào cho minh.


Đặng cho rõ nỗi sự tình,

Ngõ sau ngàn dặm đăng trình mới an".

Tôn sư ngồi hãy thở than,

Ngó ra trước án thấy chàng trở vô.


Hỏi rằng : "Vạn lý trường đồ,

Sao chưa cất gánh trở vô việc gì?

Hay là con hãy hồ nghi,

Thầy bàn một việc khoa kì ban trưa?"


Vân Tiên nghe nói liền thưa:

"Tiểu sanh chưa biết nắng mưa buổi nào.

Song đường tuổi hạc đã cao,(11)

Xin thầy nói lại âm hao con tường".(12)


Tôn sư nghe nói thêm thương,

Dắt tay ra chốn tiền đường xem trăng.

Nhân cơ tàng sự dặn rằng:(13)

"Việc người chẳng khác việc trăng trên trời.


Tuy là soi khắp mọi nơi,

Khi mờ khi tỏ khi vơi khi đầy.

Sau con cũng rõ lẽ này,

Lựa là con phải hỏi thầy làm chi.


Số con hai chữ khoa kì,

Khôi tinh đã rạng tử vi thêm loà.(14)

Hiềm vì ngựa chạy đường xa,

Thỏ vừa ló bóng gà đà gáy tan.(15)


Bao giờ cho tới bắc phang,

Gặp chuột ra đàng con mới nên danh.

Sau dầu đặng chữ hiển vinh,

Mấy lời thầy nói tiền trình chẳng sai.(16)


Trong cơ bĩ cực thới lai,

Giữ mình cho vẹn việc ai chớ sờn".

Vân Tiên vội vã tạ ơn,

Trăm năm dốc giữ keo sơn mọi lời.


Ra đi vừa rạng chân trời,

Ngùi ngùi nhớ lại nhớ nơi học đường.

Tiên rằng: "Thiên các nhứt phương.(17)

Thầy đeo đoản thảm tơ vương mối sầu.


Quản bao thân trẻ dãi dầu,

Mang đai Tử Lộ quảy bầu Nhan Uyên.(18)

Bao giờ cá nước gặp duyên,

Đặng cho con thảo phỉ nguyền tôi ngay".(19)


Kể từ lướt dặm tới nay,

Mỏi mê hầu đã mấy ngày xông sương.

Đoái nhìn phong cảnh thêm thương,

Vơi vơi dặm cũ nẻo đường còn xa.


Chi bằng kiếm chốn lân gia,

Trước là tìm bạn sau là nghỉ chân.

Việc chi than khóc tưng bừng,

Đều đem nhau chạy vào rừng lên non?


Tiên rằng: "Bớ chú cõng con,

Việc chi nên nỗi bon bon chạy hoài?"

Dân rằng: "Tiểu tử là ai,

Hay là một đảng sơn đài theo tao?"(20)


Tiên rằng: "Cớ sự làm sao,

Xin ngừng vài bước sẽ trao một lời".

Dân nghe tiếng nói khoan thai,

Kêu nhau dừng lại bày lời phân qua:


"Nhơn rày có đảng lâu la,

Tên rằng Đỗ Dự hiệu là Phong Lai.

Nhóm nhau ở chốn sơn đài,

Người đều sợ nó có tài khôn đương.


Bây giờ xuống cướp thôn hương.

Thấy con gái tốt qua đường bắt đi.

Xóm làng chẳng dám nói chi,

Cảm thương hai gã nữ nhi mắc nàn.


Con ai vóc ngọc mình vàng,

Má đào mày liễu dung nhan lạnh lùng.(21)

E khi mắc đảng hành hung,

Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu.(22)


Thôi thôi chẳng dám nói lâu,

Chạy đi cho khỏi kẻo âu tới mình".(23)

Vân Tiên nổi giận lôi đình,

Hỏi thăm: "Lũ nó còn đình nơi nao?


Tôi xin ra sức anh hào,

Cứu người cho khỏi lao đao buổi này".

Dân rằng: "Lũ nó còn đây,

Qua xem tướng bậu thơ ngây đã đành.(24)


E khi hoạ hổ bất thành(25)

Khi không mình lại xô mình xuống hang".(26)

Vân Tiên ghé lại bên đàng,

Bẻ cây làm gậy nhắm làng xông vô.


Kêu rằng: "Bớ lũ hung đồ,

Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân".

Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:

"Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây?


Trước gây việc dữ tại mầy.

Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng".

Vân Tiên tả đột hữu xung,

Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dương.(27)


Lâu la bốn phía vỡ tan,

Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.

Phong Lai trở chẳng kịp tay,

Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.


Dẹp rồi lũ kiến chòm ong,

Hỏi: "Ai than thóc ở trong xe này?"

Thưa rằng: "Tôi thiệt người ngay,

Sa cơ nên mới làm tay hung đồ.


Trong xe chật hẹp khôn phô,

Cúi đầu trăm lạy cứu cô tôi cùng".

Vân Tiên nghe nói động lòng,

Đáp rằng: "Ta đã trừ dòng lâu la.


Khoan khoan ngồi đó chớ ra,

Nàng là phận gái ta là phận trai.

Tiểu thơ con gái nhà ai,

Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ?


Chẳng hay tên họ là chi,

Khuê môn phận gái việc gì đến đây?

Trước sau chưa hãn dạ này, (28)

Hai nàng ai tớ ai thầy nói ra".


Thưa rằng: "Tôi Kiều Nguyệt Nga,

Con này tì thiếp tên là Kim Liên.

Quê nhà ở quận Tây Xuyên,

Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.


Sai quân đem bức thơ về,

Rước tôi qua đó định bề nghi gia.

Làm con đâu dám cãi cha,

Ví dầu ngàn dặm đường xa cũng đành.


Chẳng qua là sự bất bình,

Hay vầy cũng chẳng đăng trình làm chi.

Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,

Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.


Trước xe quân tử tạm ngồi,

Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.

Chút tôi yếu liễu đào thơ,

Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần.


Hà Khê qua đó cũng gần,

Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng.

Gặp đây đương lúc giữa đàng,

Của tiền chẳng có bạc vàng thì không.


Gẫm câu báo đức thù công,(29)

Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi".

Vân Tiên nghe nói liền cười:

"Làm ơn há dễ trông người trả ơn?


Nay đà rõ đặng nguồn cơn,

Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.

Nhớ câu kiến ngãi bất vi,

Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.(30)


Đó mà biết chữ thỉ chung,

Lựa là đây phải theo cùng làm chi".

Nguyệt Nga biết ý chẳng đi,

Hỏi qua tên họ một khi cho tường.


Thưa rằng: "Tiện thiếp đi đường,

Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?"

Phút nghe lời nói thanh tao,

Vân Tiên há nỡ lòng nào phôi pha:


"Đông Thành vốn thiệt quê ta,

Họ là Lục thị tên là Vân Tiên".

Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên,

Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.


Thưa rằng: "Nay gặp tri âm,

Xin đưa một vật để cầm làm tin".

Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,

Nguyệt Nga liếc thấy lòng thìn nết na: (31)


"Vậy chi một chút gọi là,

Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.

Của này là của vất vơ,(32)

Lòng chê cũng phải lòng ngơ sao đành".


Vân Tiên khó nỗi làm thinh,

Chữ ân buộc lại chữ tình lây dây.(33)

Than rằng: "Đó khéo trêu đây,

Ơn kia đã mấy của này rất sang.


Đương khi gặp gỡ giữa đàng,

Một lời cũng nhớ ngàn vàng chẳng phai.

Nhớ câu trọng ngãi khinh tài,

Nào ai chịu lấy của ai làm gì".


Thưa rằng: "Chút phận nữ nhi,

Vốn chưa biết lẽ có khi mích lòng.

Ai dè những đứng anh hùng,

Thấy trâm thôi lại thẹn cùng cây trâm".


Riêng than: "Trâm hỡi là trâm,

Vô duyên chi bấy ao cầm mà mơ?

Đưa trâm chàng đã làm ngơ,

Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ".


Vân Tiên ngó lại rằng: "ừ,

Làm thơ cho kịp bấy chừ chẳng lâu".

Nguyệt Nga ứng tiếng xin hầu,

Xuống tay liền tả tám câu văn vần:


"Thơ rồi này thiếp xin dâng,

Ngửa trông lượng rộng văn nhân thế nào?"

Vân Tiên xem thấy ngạt ngào,(34)

Ai dè sức gái tài cao bực này.


Đã mau mà lại thêm hay,

Chẳng phen Tạ nữ cùng tày Từ phi.(35)

Thơ ngâm dũ xuất dũ kì,(36)

Cho hay tài gái kém gì tài trai.


Như vầy ai lại thua ai,

Vân Tiên hoạ lại một bài trao ra.

Xem thơ biết ý gần xa,

Mai hoà vận điểu, điểu hoà vận mai(37)


Có câu xúc cảnh hứng hoài,(38)

Đường xa vòi vọi dặm dài vơi vơi.

Ai ai cũng ở trong trời,

Gặp nhau lời đã cạn lời thời thôi.


Vân Tiên từ giã phản hồi,

Nguyệt Nga than thở: "Tình ôi là tình.

Nghĩ mình mà ngán cho mình,

Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương.


Nặng nề hai chữ uyên ương.

Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.

Nguyệt cùng Nguyệt lão hỡi ông,

Trăm năm cho vẹn chữ tùng mới an.(39)


Hữu tình chi bấy Ngưu lang, (40)

Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.

Thôi thôi em hỡi Kim Liên,

Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê".


Trải qua dấu thỏ đường dê,(41)

Chim kêu vượn hú tứ bề nước non.

Vái trời cho đặng vuông tròn,

Trăm năm cho trọn lòng son với chàng.


Phút đâu đã tới phủ đàng,

Kiều công xem thấy lòng càng sinh nghi.

Hỏi rằng: "Nào kẻ tuỳ nhi,(42)

Cớ sao nên nỗi con đi một mình?"


Nguyệt Nga thưa việc tiền trình,(43)

Kiều công tưởng nỗi sự tình chẳng vui.

Nguyệt Nga dạ hãy bùi ngùi,

Nghĩ mình thôi lại sụt sùi đòi cơn:(44)


"Lao đao phận trẻ chi sờn,

No nao trả đặng công ơn cho chàng".(45)

Kiều công nghe nói liền can,

Dạy rằng: "Con hãy nghỉ an mình vàng.


Khi nào cha rảnh việc quan,

Cho quân đến đó mời chàng đến đây.

Sao sao chẳng kịp thời chày,(46)

Cha nguyền trả đặng ơn nầy thời thôi.


Hậu đường con hãy tạm lui,

Làm khuây dạ trẻ cho vui lòng già".

Tây lầu trống điểm sang ba,

Nguyệt Nga còn hãy xót xa phận mình.


Dời chân ra chốn hoa đình,(47)

Xem trăng rồi lại chạnh tình cố nhơn.

Than rằng: "Lưu thuỷ cao sơn,

Ngày nào nghe đặng tiếng đờn tri âm.


Chữ tình càng tưởng càng thâm,(48)

Muốn pha khó lợt muốn dầm khôn phai.

Vơi vơi đất rộng trời dài,

Hỡi ai nỡ để cho ai đeo phiền".


Trở vào bèn lấy bút nghiên,

Đặt bàn hương án chúc nguyền thần linh.

Làu làu một tấm lòng thành,

Hoạ ra một bức tượng hình Vân Tiên.


Than rằng: "Ngàn dặm sơn xuyên,(49)

Chữ ân để dạ chữ duyên nhuốm sầu".

Truyện nàng sau hãy còn lâu,

Truyện chàng xin nối thứ đầu chép ra.(50)


Vân Tiên từ cách Nguyệt Nga,

Giữa đường lại gặp người ra kinh kì.

Xa xem mặt mũi đen xì,

Mình cao sồ sộ dị kì rất hung.


Nhớ câu bình thuỷ tương phùng,(51)

Anh hùng lại gặp anh hùng một khi:

"Chẳng hay danh tánh là chi,

Một mình mang gói ra đi việc gì".


Đáp rằng: "Ta cũng xuống thi,

Hớn Minh tánh tự, Ô Mi quê nhà

Vân Tiên biết lẽ chính tà,

Hễ người dị tướng ắt là tài cao.


Chữ rằng: "Bằng hữu chi giao,(52)

Tình kia đã gặp lẽ nào làm khuây.

Nên rừng há dễ một cây,

Muốn cho có đó cùng đây luôn vần.


Kìa nơi võ miếu hầu gần,

Hai ta vào đó nghỉ chưn một hồi".

Cùng nhau bày họ tên rồi,

Hai chàng từ tạ đều lui ra đường.


Hớn Minh đi trước tựu trường,

Vân Tiên còn hãy hồi hương viếng nhà.

Mừng rằng: "Nay thấy con ta,

Cha già hằng tưởng mẹ già luống trông.





Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương