Lê Thị Hương1,*, Trần Thị Thúy Nga



tải về 46.06 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu25.11.2017
Kích46.06 Kb.
#2930

ĐA DẠNG HỆ THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH Ở XÃ BÌNH CHUẨN THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HUỐNG, TỈNH NGHỆ AN

Lê Thị Hương1,*, Trần Thị Thúy Nga2, Đậu Bá Thìn3

1Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh

2Khoa Nông Lâm Ngư, Trường đại học Kinh tế Nghệ An

3Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Hồng Đức

Tóm tắt: Hệ thực vật ở xã Bình Chuẩn thuộc Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Pù Huống, bước đầu đã xác định được 401 loài thuộc 237 chi, 84 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó ngành Magnoliophyta là đa dạng nhất chiếm 84,04% tổng số loài. Với 10 họ đa dạng nhất là Rubiaceae, Euphorbiaceae, Zingiberaceae, Lauraceae, Annonaceae, Rutaceae, Moraceae, Polypodiaceae, Myrsinaceae và Ceasalpiniaceae. 10 chi đa dạng nhất của hệ là Hedyotis, Mussaenda, Psychotria, Piper, Ficus, Cinnamomum, Litsea, Lasianthus, Alpinia, Ardissia. Phổ dạng sống cho hệ thực vật này như sau: SB = 82,40Ph + 6,70Ch + 1,40Hm + 7,54Cr + 1,96Th. Hệ thực vật Bình Chuẩn được cấu thành bởi bốn yếu tố chính, yếu tố yếu tố nhiệt đới chiếm tỷ lệ lớn nhất (60,12%); tiếp đến là yếu tố đặc hữu (31,92%); yếu tố ôn đới (4,74%), yếu tố cây trồng (2,24%) và thấp nhất là yếu tố liên nhiệt đới (1,50%). Có nhiều loài cây có giá trị sử dụng, cây làm thuốc có số loài cao nhất với 195 loài, cho gỗ 67 loài, làm cảnh 35 loài, cây ăn được 51 loài, cây lấy tinh dầu 45 loài, cây cho công dụng khác với 24 loài. Thuộc hệ thực vật này có 16 loài ở các mức độ nguy cấp khác nhau được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Nghị định 32/CP-2006 và IUCN (2014). Đề ra một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học như: tuyên truyền, phát triển kinh tế, tăng cường công tác bảo vệ rừng và tăng cường nghiên cứu khoa học.

Từ khóa: Thực vật, Bình Chuẩn, Khu BTTN, Đa dạng.

1. Đặt vấn đề

Nghệ An là một tỉnh có diện tích rừng lớn, được đánh giá là một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học cao với khu dự trữ sinh quyển Miền Tây Nghệ An bao gồm các Vườn Quốc Gia và các khu BTTN như: Vườn Quốc Gia (VQG) Pù Mát, khu BTTN Pù Hoạt, Pù Huống. Khu BTTN Pù Huống được thành lập năm 2001 với diện tích 49.806 ha, nằm ở phía Bắc của dải Trường Sơn, có toạ độ 19015 - 19029 vĩ độ Bắc, 104013 - 105016 kinh độ Đông, nằm trong địa giới hành chính của 12 xã thuộc 5 huyện: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tương Dương và huyện Con Cuông với địa hình đồi núi dốc và hiểm trở lại có khí hậu thuộc vào miền khí hậu Trường sơn Bắc nhưng mang tính đặc thù riêng. Chính những nhân tố ấy đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật ở Pù Huống. Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về hệ động thực vật ở đây [9], [11], [14]. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu, đánh giá về tính đa dạng hệ thực vật của xã Bình Chuẩn. Việc nghiên cứu hệ thực vật xã Bình Chuẩn nhằm đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật nơi đây có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Bài báo này bước đầu cung cấp những dẫn liệu về đa dạng của hệ thực vật Bình Chuẩn nói chung và góp phần vào điều tra đa dạng hệ thực vật Khu BTTN Pù Huống.



2. Phương pháp nghiên cứu

Mẫu vật được thu thập theo phương pháp nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [14], đề tài được thực hiện từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 12 năm 2015. Mẫu vật được lữu trữ tại Phòng mẫu Thực vật Khoa Sinh học, Đại học Vinh.

- Định loại: Sử dụng phương pháp hình thái so sánh trong các tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (2000) [7], Nguyễn Tiến Bân (1997) [2]. Chỉnh lý tên khoa học theo Danh mục các loài thực vật Việt Nam [1], Sắp xếp danh lục thực vật theo Brummitt (1992) [4].

- Đánh giá về dạng sống theo Raukiaer (1934) [10] và đánh giá về yếu tố địa lý theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [12].

- Đánh giá về giá trị sử dụng dựa vào phương pháp phỏng vấn có sự tham gia (PRA) và các tài liệu của Võ Văn Chi (2012) [5], Trần Đình Lý và cộng sự (1993) [8].

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Đa dạng về các taxon

Kết quả điều tra, thu thập mẫu thực vật và định loài đã xác định được 84 họ, 237 chi và 401 loài thuộc 5 ngành thực vật bậc cáo có mạch, được thể hiện qua bảng 1.



Bảng 1. Phân bố các taxon ngành của hệ thực vật Bình Chuẩn

Ngành

Họ

Chi

Loài

Số họ

Tỷ lệ (%)

Số chi

Tỷ lệ (%)

Số loài

Tỷ lệ (%)

Lycopodiophyta

2

2,38

3

1,27

8

2,00

Equisetophyta

1

1,19

1

0,42

1

0,25

Polypodiophyta

16

19,05

28

11,81

51

12,72

Pinophyta

4

4,76

5

2,11

6

1,50

Magnoliophyta

62

73,81

200

84,39

337

84,04

Tổng

84

100

237

100

401

100

Từ kết quả bảng 1 cho thấy: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) có tỷ trọng lớn hơn các ngành còn lại chiếm hơn 70,00% về số họ; hơn 80% về số chi và số loài. Tiếp theo là ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) chiếm hơn 10% về số họ, chi và loài. Các ngành Thông đất (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta) và Thông (Pinophyta) chiếm tỷ lệ không đáng kể. Điều này cho thấy ngành Magnoliophyta đóng vai trò chủ đạo trong hệ thực vật Bình Chuẩn và phù hợp với quy luật tiến hóa là ngành chiếm ưu thế về số họ, chi loài trong hệ thực vật nói chung.

Để thấy rõ tính đa dạng hệ thực vật Bình Chuẩn, kết quả phân sâu hơn về ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), kết quả được thể hiện qua bảng 2.



Bảng 2. Phân bố các taxon lớp trong ngành Ngọc lan ở Bình Chuẩn

Tên lớp

Họ

Chi

Loài

Số họ

Tỷ lệ (%)

Số chi

Tỷ lệ (%)

Số loài

Tỷ lệ (%)

Magnoliopsida

50

80,65

172

86

294

87,24

Liliopsida

12

19,35

28

14

43

12,76

Tổng

62

100

200

100

337

100

Tỉ trọng Ma./Li.

4,17

6,14

6,84

Qua bảng và hình trên cho thấy, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế về số loài, chi và họ trên 80%; lớp Hành (Liliopsida) chiếm tỷ trọng thấp hơn hẳn, có số loài là 43 - chiếm 12,76%; số chi là 28 - chiếm 14,0% và số họ là 12 - chiếm 19,35%. Tỷ lệ giữa lớp Magnoliopsida và lớp Liliopsida là 6,84; nghĩa là cứ 6,84 loài thuộc lớp Mộc lan thì có một loài thuộc lớp Hành, tương tự như thế tỷ lệ ở các cấp họ và chi là 4,17 và 6,14. Từ đó, có thể khẳng định được tính ưu thế vượt trội của lớp Magnoliopsida trong ngành Magnoliophyta, thậm chí trong toàn hệ thực vật.

Hệ thực vật Bình Chuẩn với 10 họ (chỉ chiếm 11,91% số họ toàn hệ) nhưng đã có tới 71 chi (chiếm 35,50%) và 187 loài (chiếm 46,63%). Các họ nhiều loài nhất là: Rubiaceae 62 loài, Euphorbiaceae 19 loài, Zingiberaceae 19 loài, Lauraceae 18 loài, Annonaceae 17 loài, Rutaceae 13 loài, Moraceae và Polypodiaceae cùng với 11 loài, Myrsinaceae và Ceasalpiniaceae cùng với 8 loài.



Khi xét đến mức độ chi, chúng tôi đã phân tích 10 chi đa dạng nhất với từ 5 loài trở lên chiếm 5% tổng số chi nhưng có 68 loài chiếm 17,00% số loài toàn hệ. Các chi đa dạng nhất là Hedyotis 11 loài, Mussaenda 8 loài, Psychotria Piper cùng có 7 loài, các chi Ficus, Cinnamomum, Litsea, Lasianthus và Alpinia cùng có 6 loài, Ardissia có 5 loài.

3.2. Đa dạng về dạng sống


Một quần xã thực vật được đặc trưng về mặt cấu trúc bởi các dạng sống của các loài cấu thành hệ thực vật đó. Mỗi loài đều có những đặc điểm hình thái nhất định phân biệt với các loài khác, đó chính là kết quả của quá trình tiến hoá - quá trình biến đổi lâu dài thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Vì thế, đối với một khu hệ thực vật thì việc lập phổ dạng sống là rất quan trọng. Nó giúp cho việc xác định cấu trúc hình thái của hệ và từ đó đưa ra những biện pháp tối ưu trong công tác bảo tồn và khai thác. Áp dụng vào thang phân chia của Raunkiear (1934), kết quả được thể hiện ở bảng 3.

Bảng 3. Thống kê các dạng sống của khu hệ thực vật Bình Chuẩn

Ký hiệu

Dạng sống

Số lượng

Tỷ lệ %

Ph

Chồi trên

338

84,29

Ch

Chồi sát đất

19

4,74

Hm

Chồi nửa ẩn

12

2,99

Cr

Chồi ẩn

22

5,49

Th

Cây một năm

10

2,49

Tổng

401

100

Như vậy, trong số 401 loài đã xác định, nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm ưu thế với tỷ lệ 84,29%, tiếp đến là nhóm cây chồi ẩn (Cr) - 5,49% - tập chung chủ yếu vào các họ Zingiberceae, Dioscoreaceae và một số họ trong ngành Polypodiophyta (Adiantaceae, Aspleniaceae, Schizeaceae...); nhóm cây một năm (Th) – 2,49% - tập trung chủ yếu vào các họ, Asteraceae; nhóm cây chồi sát đất (Ch) - 4,74% - tập trung chủ yếu vào họ Poaceae; nhóm cây chồi nửa ẩn (Hm) – 2,99% - tập chung chủ yếu vào các họ Araceae... Từ kết quả thu được, lập được phổ dạng sống cho hệ thực vật ở đây là:

SB (Spectrum Biology) = 84,29Ph + 4,74Ch + 2,99Hm + 5,49Cr + 2,49Th



Từ những dẫn liệu trên cho thấy: vùng nhiệt đới ẩm nhiệt đới đặc trưng bởi sự ưu thế của các nhóm dạng sống chồi trên (Ph) điều này hoàn toàn phù hợp với những kết quả nghiên cứu và nhận xét của các tác giả như: Raukiaer (1934), Richard (1969), Thái Văn Trừng (1978), Lê Trần Chấn (1999), Nguyễn Nghĩa Thìn (2007),…

3.3. Đa dạng về yếu tố địa lý


Khi nghiên cứu các yếu tố địa lý của hệ thực vật ở Bình Chuẩn, căn cứ vào khung phân loại của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [51] với 6 yếu tố chính được xác định được xác định. Trong đó, yếu tố nhiệt đới nói chung có tỷ lệ rất lớn (60,12%); trong đó nhiệt đới châu Á chiếm tỷ lệ lớn nhất với 52,12%; tiếp đến là yếu tố đặc hữu với 31,92%; đứng thứ ba là yếu tố cổ nhiệt đới chiếm tỷ lệ 7,48%; yếu tố ôn đới chiếm 4,74%, yếu tố cây trồng -2,24% và thấp nhất là yếu tố liên nhiệt đới - 1,50%. Tỷ lệ các yếu tố đặc hữu cho thấy tính chất quan trọng của hệ thực vật bản địa ở Bình Chuẩn nói riêng và Pù Huống nói chung. Khi xét từng nhóm yếu tố, chúng ta thấy trong phạm vi các loài châu Á hệ thực vật Bình Chuẩn được cấu thành bởi các yếu tố: lục địa Châu Á (4.2) chiếm tỷ lệ 10,97% (là lớn nhất); yếu tố Ma lê zi (4.1) chiếm tỷ lệ 8,73%, tiếp đến là Nam Trung Hoa (4.4) chiếm tỷ lệ 5,99%; yếu tố đặc hữu Đông Dương (4.5) chiếm tỷ lệ 5,7% và thấp nhất là Lục địa Đông Nam Á (4.3) chiếm 2,00%.

3.4. Đa dạng về giá trị sử dụng


Kết quả đã thống kê được 264 loài có giá trị sử dụng (trong đó 1 loài có thể cho 1 hoặc nhiều giá trị sử dụng khác nhau) chiếm 65,84% số loài của hệ. Cây được dùng làm thuốc với 195 loài chiếm 48,63% tổng số loài toàn hệ. Còn các loài cho giá trị khác chiếm tỷ lệ thấp hơn: cho gỗ 67 loài chiếm 16,71%; làm cảnh 35 loài chiếm 8,73%; cây ăn được 51 loài chiếm 12,72%; cây lấy tinh dầu 45 loài chiếm 11,22%; cây cho công dụng khác với 24 loài chiếm 5,99% tổng số loài trọng hệ (bảng 4).

Bảng 4. Thống kê các giá trị sử dụng của hệ thực vật Bình Chuẩn

TT

Giá trị sử dụng

Số loài

Tỷ lệ %

1

Cây làm thuốc (M)

195

48,63

2

Cây cho gỗ (T)

67

16,71

3

Cây làm cảnh (Or)

35

8,73

4

Cây ăn được (Ed)

51

12,72

5

Cây lấy tinh dầu (E)

45

11,22

6

Cây có giá trị sử dụng khác (cho độc, tannin, cho sợi, làm gia vị, phân xanh, ...)

24

5,99

3.5. Đa dạng về nguồn gen hiếm


Hệ thực vật Bình Chuẩn nói riêng và Khu BTTN Pù Huống nói chung phải chịu nhiều sức ép do các hoạt động dân sinh. Sức ép dân số đã gây ra những hậu quả trực tiếp và gián tiếp đến hệ thực vật. Đó là nạn phá rừng, chặt gỗ làm nguyên liệu sản xuất hoặc khai thác lâm sản ngoài gỗ,…mà hậu quả của nó là diện tích rừng giảm đi nhanh chóng đi kèm với các nguy cơ sinh thái. Cuối cùng làm cho số loài bị tuyệt chủng có nguy cơ bị tuyệt chủng ngày càng tăng. Trong quá trình điều đã thống kê được 16 loài thuộc các mức độ nguy cấp được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [3], nghị định 32 [6], và IUCN (2014) [12] (bảng 5).

Bảng 5. Thống kê các loài đang bị đe dọa ở Bình Chuẩn

TT

Tên Khoa học

Tên Việt Nam

Tình trạng

SĐVN

NĐ32

IUCN



Anoectochilus setaceus Blume

Lan gấm trung bộ

EN

IA






Chukrasia tabularis A. Juss.

Lát hoa

VU









Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.

Vàng đắng




IIA






Cunninghamia konishii Hayata

Sa mu dầu

VU

IIA

EN



Drynaria bonii C. Chr.

Tắc kè đá

VU









Drynaria fortunei (Kuntze ex Mett.) J. Smith

Cốt toái bổ

EN









Fibraurea tinctoria Lour.

Hoàng đằng




IIA






Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry & H. H. Thomas

Pơ mu

EN

IIA






Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino

Dần toong

EN









Hopea hainanensis Merr. et Chun

Sao hải nam

EN









Hopea mollisima C. Y. Wu

Sao mặt quỷ

VU









Lithocarpus finetii (Hickel & A. Camus) A. Camus

Dẻ đấu đứng

EN









Nageia fleuryi (Hickel) de Laub.

Kim giao







LR



Smilax elegantissima Gagnep.

Kim cang thanh lịch

VU









Stephania longa Lour.

Lõi tiền




IIA






Stephania rotunda Lour.

Bình vôi




IIA




Như vậy, hệ thực vật Bình Chuẩn có 16 loài ở các mức độ nguy cấp. Trong đó, 11 thuộc Sách Đỏ Việt Nam (2007); 6 loài trong nghị đinh 32CP (1 loài thuộc danh mục IA và 6 loài thuôc danh mục IIA), 2 loài trong danh lục IUCN (2014). Những loài thực vật này có thể lấy gỗ, làm thuốc,… cho nên nó bị khai thác quá mức dẫn đến trong tự nhiên đang bị cạn kiệt dần và có nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy, chúng ta cần có những chính sách hợp lý làm giảm sự tác động đến môi trường sống để bảo vệ nguồn gen.

3.6. Một số giải pháp bảo tồn đa dạng hệ thực vật


- Công tác giáo dục, tuyên truyền để cộng đồng dân cư hiểu được giá trị tài nguyên môi trường hết sức cần thiết. Việc làm này phải được quan tâm đúng mức và cần có sự phối hợp của các cấp, các ngành.

- Đẩy mạnh và hoàn thiện công tác giao đất lâm nghiệp và khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, thực hiện cơ chế chia sẻ lợi ích quyền lợi trong quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng đặc dụng. Tăng cường đầu tư và khuyến khích nhân dân trồng cây gây rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng.

- Nâng cao năng lực thực thi Pháp luật cho cán bộ ở khu vực nghiên cứu và chính quyền xã thông qua đào tạo và trang bị phương tiện. Tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội, đặc biệt là phụ nữ tham gia tích cực vào công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học tại các địa phương.

- Lập hồ sơ quản lý Tiểu khu để quản lý chặt chẽ các loại tài nguyên động thực vật, cảnh quan, hang động, xác định được các nguy cơ, tác nhân xâm hại đối với từng Tiểu khu.

- Điều tra cụ thể nguồn tài nguyên thiên nhiên để xác định giới hạn sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên tại các thôn bản mục tiêu; đánh giá hiện trạng săn bắt buôn bán động vật, cây cảnh và ảnh hưởng của nó đến kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương; đánh giá giá trị bảo tồn các loài chim; đánh giá việc buôn bán cây thuốc và các lâm sản ngoài gỗ và ảnh hưởng của nó đến kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương.

- Điều tra cơ sở kinh tế hộ gia đình nông thôn ở khu vực nghiên cứu, hỗ trợ xây dựng các mô hình phù hợp, lồng ghép với các chương trình đầu tư của địa phương, xem xét lựa chọn bổ sung một số hoạt động có tính thời sự và mang tính chiến lược đối với địa phương.



4. Kết luận

- Hệ thực vật ở xã Bình Chuẩn thuộc Khu BTTN Pù Huống, bước đầu đã xác định được 401 loài thuộc 237 chi, 84 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó ngành Magnoliophyta là đa dạng nhất chiếm 84,04% tổng số loài.

- 10 họ đa dạng nhất là Rubiaceae, Euphorbiaceae, Zingiberaceae, Lauraceae, Annonaceae, Rutaceae, Moraceae, Polypodiaceae, Myrsinaceae và Ceasalpiniaceae.

- 10 chi đa dạng nhất là Hedyotis, Mussaenda, Psychotria, Piper, Ficus, Cinnamomum, Litsea, Lasianthus, Alpinia, Ardissia.

- Phổ dạng sống cho hệ thực vật này như sau: SB = 82,40Ph + 6,70Ch + 1,40Hm + 7,54Cr + 1,96Th.

- Hệ thực vật Bình Chuẩn được cấu thành bởi bốn yếu tố chính, yếu tố yếu tố nhiệt đới chiếm tỷ lệ lớn nhất (60,12%); tiếp đến là yếu tố đặc hữu (31,92%); yếu tố ôn đới (4,74%), yếu tố cây trồng (2,24%) và thấp nhất là yếu tố liên nhiệt đới (1,50%).

- Cây được dùng làm thuốc với 195 loài, cho gỗ 67 loài, làm cảnh 35 loài, cây ăn được 51 loài, cây lấy tinh dầu 45 loài, cây cho công dụng khác với 24 loài.

- Thuộc hệ thực vật này có 16 loài ở các mức độ nguy cấp khác nhau được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Nghị định 32/CP-2006 và IUCN (2014).



- Đề ra một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học như: tuyên truyền, phát triển kinh tế, tăng cường công tác bảo vệ rừng và tăng cường nghiên cứu khoa học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên) (2003-2005), Danh lục các loài Thực vật Việt Nam, Tập II-III, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

  2. Nguyễn Tiến Bân (1997) Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

  3. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách Đỏ Việt Nam (Phần II: Thực vật). Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.

  4. Brummitt R. K. (1992), Vascular plant families and genera, Royal Botanic Gardens, Kew.

  5. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội.

  6. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Nghị Định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm.

  7. Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), Cây cỏ Việt Nam, Quyển I-III, Nxb Trẻ, TP HCM.

  8. Trần Đình Lý và cộng sự (1993), 1900 loài cây có ích ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

  9. Nguyễn Thị Hoài Nam, Nguyễn Thành Chung, Đỗ Ngọc Đài (2015), Đa dạng ngành Thông đất và Dương xỉ ở xã Bình Chuẩn thuộc Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống, Nghệ An, Tạp chí Rừng và Môi trường, 71: 56-60.

  10. Raunkiaer C. (1934), Plant life forms, Claredon, Oxford.

  11. Võ Minh Sơn, Phạm Hồng Ban, Lê Thị Hương (2015), Đa dạng họ Gừng (Zingiberaceae) ở ba xã Nga My, Xiềng My và Bình Chuẩn thuộc khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống, Nghệ An, Tạp chí Khoa học Lâm Nghiệp, Số 2: 1-5.

  12. The IUCN species survival Comission (2014), Red List of Threatened species TM 2012 International Union for the Conservation of Nature and Nature Resources, (www.iucnredlist.org).

  13. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

  14. Nguyễn Thanh Tú, Phạm Hồng Ban, Đỗ Ngọc Đài (2015), Đa dạng họ Cà phê ở xã Châu Hoàn và Diên Lãm thuộc khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống, Nghệ An, Báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 6, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công Nghệ, Hà Nội, 22/10/2015, 960-965.

SUMMARY

STUDIES DIVERSITY OF PLANTS IN BINH CHUAN COMMUMNE, PU HUONG NATURE RESERVE, NGHE AN PROVINCE

Le Thi Huong1,*, Tran Thi Thuy Nga2, Dau Ba Thin3

1Faculty of Biology, Vinh University

2Faculty of Agriculture, Forestry and Fishery, Nghe An College of Economics

3Faculty of Natural Science, Hong Duc University

The vascular plants in Binh Chuan commune, Pu Huong Nature reserve, Nghe An province was surveyed and identified with 401 species, 237 genera and 84 families of the 5 divisions (Lycopodiophyta, Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta and Magnoliophyta) Magnoliophyta is the most diverse repesenting 84.04% of the total. In Binh Chuan there are 11 threatened species listed in the Red Data Book of Viet Nam (2007), 6 species in Decree 32/2006/NĐ-CP by Government and 5 species listed in the IUCN (2015). The number of useful plant species of the Binh Chuan flora is categorized as follows: 195 species as medicinal plants, 67 species for timber plants, 35 species edible, 35 species for ornamental, 45 species for essential oil. The plant species in Binh Chuan are mainly comprised of the tropical elements (60,12%), of them, the endemic elements with 31.92%. The Spectrum of Biology (SB) of the flora in Binh Chuan is summarized, as follows: SB = 82.40Ph + 6.70Ch + 1.40Hm + 7.54Cr + 1.96Th. Some solutions biodiversity conservation such as: propagating, economic development, strengthen the forest protection enhance of scientific research.



Keywoods: Diversity, nature reserve, plant, Binh Chuan.


Каталог: app -> webroot -> files -> hoithao
hoithao -> Jatropha curcas L. TẠi thừa thiên huế
hoithao -> Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc cơ bản
hoithao -> Nghiên cứu một số chỉ SỐ thể LỰc của học sinh từ 8-15 tuổI Ở TỈnh bình dưƠng nguyễn Thị Thu Hiền
hoithao -> Ảnh hưỞng của môi trưỜng nuôi cấy không sử DỤng chấT ĐIỀu hòa sinh trưỜng lên khả NĂng tăng sinh khối và XÁC ĐỊnh dư LƯỢng nitrat, kim loại nặng có trong mẫu cây lan gấM
hoithao -> Thực trạng kiến thức, thái độ, hành VI về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
hoithao -> Metfformin – Tác nhân kích thích sự di chuyển và phản ứng acrosome của tinh trùng gà
hoithao -> Piv-chương 1 Lịch Triều Lược Kỷ (1528 1802)
hoithao -> Bùi Thu Hà1, La Thị Mai Loan
hoithao -> Nguyễn Thị Hồng Hạnh1, Bùi Thị Nhung*2, Trần Quang Bình3, Lê Thị Hợp2

tải về 46.06 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương