Khảo sát tình hình sử DỤng thuốc paracetamol và CÁc nsaid tại bệnh việN Đa khoa đỒng nai từ 01/11/2015 ĐẾN 31/08/2016



tải về 205.77 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu03.12.2017
Kích205.77 Kb.
#3709

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC PARACETAMOL VÀ CÁC NSAID TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI TỪ 01/11/2015 ĐẾN 31/08/2016

Võ Thị Kiều Vân

Nguyễn Thúy Hằng

Nghiêm Thị Thanh Vân

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Việc lựa chọn thuốc giảm đau đảm bảo hợp lý an toàn hiệu quả luôn là một vấn đề cần quan tâm của ngành y tế.

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát hiệu quả trong công tác dự trù thuốc và tình hình sử dụng thuốc NSAID của các khoa phòng tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai từ 01/11/2015 đến 31/8/2016.

Kết quả và bàn luận: Có 4 hoạt chất giảm đau chiếm số lượng lớn nhất là: dạng hoạt chất phối hợp paracetamol+codein phosphate, paracetamol đơn thành phần, dexibuprofen, nabumeton với tỉ lệ phần trăm lần lượt 24%, 22%, 16%, 12%. 4 hoạt chất giảm đau chiếm giá trị cao nhất: dexibuprofen, hoạt chất phối hợp paracetamol+codein phosphate,nabumeton, aceclofenac với tỉ lệ phần trăm lần lượt 35%, 27%, 10%, 10%.

Các thuốc được sử dụng nhiều, xuyên suốt từ tháng 11/2015 đến hết tháng 8/2016 tại các khoa lâm sàng là dexibuprofen, paracetamol đơn thành phần.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc lựa chọn thuốc NSAID đảm bảo hợp lý an toàn hiệu quả luôn là một vấn đề cần quan tâm của ngành y tế. Kê đơn, sử dụng thuốc chưa phù hợp làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, tăng nguy cơ tương tác thuốc kể cả nguy cơ tử vong. Lạm dụng các thuốc NSAID có nguy cơ gây ra các vấn đề về dạ dày, tim mạch và cao huyết áp, bệnh viêm ruột (IBD), hen phế quản và những tác dụng không mong muốn khác. Đồng thời tác động tới việc dự trù thuốc chưa phù hợp với thực tế sử dụng và tăng khả năng vượt trần thanh toán quỹ BHYT.

Sử dụng thuốc giảm đau hợp lý không chỉ giúp điều trị bệnh lý, cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn góp phần giúp bệnh nhân tăng tuân thủ điều trị. Do vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc paracetamol và các NSAID tại bệnh viện Đa khoa Đồng Nai từ tháng 11 năm 2015 đến tháng 9 năm 2016” với mục tiêu:


  • Đánh giá công tác dự trù thuốc giảm đau, hạ sốt, kháng viêm NSAID

  • Đánh giá sơ bộ tỉ lệ sử dụng thuốc paracetamol và các thuốc NSAID tại các khoa phòng.

I.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng thuốc giảm đau

Thuốc giảm đau nhóm I (paracetamol, aspirin và các NSAID) có khả năng dung nạp tương đối tốt. Các thuốc này không gây ra sự phụ thuộc về thể chất hoặc tinh thần và tất cả đều có một tác dụng trần. Đối với các cơn đau cấp tính có cường độ từ nhẹ đến trung bình, hiệu quả giảm đau gần như tương tự. Trong quá trình sử dụng thuốc, cần lưu ý một số tác dụng không mong muốn tiềm ẩn.

Paracetamol là thuốc cơ bản trong điều trị các cơn đau từ nhẹ đến trung bình cũng như trong các trường hợp cần hạ sốt. Paracetamol hiện được coi là thuốc giảm đau cơ sở, được sử dụng ưu tiên cho cả người lớn và trẻ em do có cân bằng lợi ích/nguy cơ tốt. Liều dùng của thuốc được trình bày trong bảng 1.

 


Bảng 1: Liều paracetamol

Người lớn

3 g/ngày, chia làm 4 hoặc 6 lần, cách nhau ít nhất 4 giờ.

Nhìn chung, không nên vượt quá 3 g/ngày. Trong trường hợp đau nặng, liều tối đa có thể được tăng lên đến 4 g/ngày.



Trẻ em

60 mg/kg/ngày, chia làm 4 hoặc 6 lần, tức là 15 mg/kg mỗi 6 giờ hoặc 10 mg/kg mỗi 4 giờ.

Trên thực tế, liều sử dụng thường cao hơn, dao động từ 10 đến 15 mg/kg mỗi 4 giờ, đặc biệt là đối với cơn đau sau phẫu thuật.

Tổng liều không được vượt quá 80 mg/kg/ngày ở trẻ em có cân nặng dưới 37 kg và 3 g/ngày ở trẻ em có cân nặng trên 37 kg.


 

Paracetamol có tác động giảm đau theo cả cơ chế ngoại vi và trung ương. Thuốc thường được kết hợp với các thuốc giảm đau nhóm II: paracetamol kết hợp với codein phosphat cho tác dụng giảm đau vượt trội so với việc sử dụng đơn độc từng thành phần, với hiệu quả giảm đau kéo dài hơn.

Paracetamol không được khuyến cáo dùng trong các trường hợp đau do viêm vì thuốc hầu như không có tác dụng chống viêm, ngược lại với aspirin và NSAID. Một số trường hợp hiếm gặp xuất hiện dị ứng trên da và giảm tiểu cầu. Hai chống chỉ định chính của paracetamol là quá mẫn với thuốc và suy giảm chức năng tế bào gan (chú ý 1). Rõ ràng, so với NSAID và thuốc giảm đau khác, việc có ít chống chỉ định góp phần làm tăng mức độ tin cậy trong việc sử dụng paracetamol.

Paracetamol ít có nguy cơ tương tác thuốc. Một tương tác thường được nhấn mạnh trong các tờ thông tin sản phẩm là tương tác giữa paracetamol với thuốc chống đông đường uống làm tăng tác dụng của các thuốc chống đông đường uống và nguy cơ chảy máu khi dùng paracetamol với liều tối đa (4 g/ngày) trong ít nhất 4 ngày.

Cần theo dõi thường xuyên giá trị INR để có thể chỉnh liều các thuốc chống đông đường uống trong thời gian điều trị bằng paracetamol và sau khi ngừng thuốc.

Paracetamol có thể sử dụng được cho phụ nữ mang thai và cho con bú ở liều khuyến cáo trong thời gian ngắn. Thuốc cũng có thể được dùng theo đường truyền tĩnh mạch. Tốc độ giảm đau nhanh của thuốc khi sử dụng đường dùng này cho phép điều trị đau cấp tính, đặc biệt đối với các cơn đau hậu phẫu.

 Các NSAID không phải loại salicylat

Các thuốc nhóm này được sử dụng đầu tay với liều cao để đạt hiệu quả chống viêm và liều thấp hơn trong các trường hợp đau nhẹ và trung bình: đau răng, đau đầu, đau nửa đầu, chấn thương nhẹ, đau vùng tai mũi họng. Kết hợp các thuốc này với các thuốc giảm đau mạnh thậm chí có thể tăng hiệu quả trong điều trị đau do ung thư.

Liều dùng cần hiệu chỉnh theo:

- Tuổi của bệnh nhân, cần cân nhắc đến nguy cơ giảm đào thải thuốc ở người cao tuổi;

- Một số tình trạng sinh lý (chú ý trên phụ nữ có thai và người có tiền sử dị ứng);

- Cường độ và độ lặp lại của cơn đau.

Các thuốc nhóm NSAID có nhiều chống chỉ định cần được rà soát và tôn trọng nghiêm ngặt, bao gồm: quá mẫn, dị ứng với các thuốc trong nhóm, loét dạ dày tá tràng tiến triển, suy tế bào gan, suy thận nặng, suy tim, tiền sử mới mắc viêm ruột và chảy máu trực tràng, mất nước hoặc suy dinh dưỡng, trẻ em dưới 15 tuổi, phụ nữ có thai (từ tháng thứ 6) và cho con bú.

Tác dụng không mong muốn của NSAID bao gồm:

- Trên tiêu hóa: đau thượng vị, khó tiêu, buồn nôn, nôn, đau và rối loạn chức năng đường ruột. Tác dụng nghiêm trọng hơn hiếm khi xảy ra: loét và xuất huyết tiêu hóa.

- Trên thận: thuốc có thể gây suy thận cấp trên người bệnh có nguy cơ cao như xơ gan hoặc bệnh thận mạn tính, mất nước hoặc phù (tăng huyết áp, phù chi dưới), suy tim, đang điều trị bằng thuốc lợi tiểu hoặc thuốc ức chế men chuyển và bệnh nhân trên 75 tuổi. Trong những trường hợp này, tốt nhất tránh sử dụng các thuốc NSAID có thời gian bán thải dài và cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận. Cần lưu ý, độc tính trên thận của các thuốc NSAID có thể là nguyên nhân gây tổn thương cơ quan dẫn đến suy thận không hồi phục (khác với các trường hợp suy thận chức năng).

- Trên hô hấp: cơn hen, co thắt phế quản, suy hô hấp cấp, phù phổi, đặc biệt là ở bệnh nhân có cơ địa dị ứng.

- Trên tim mạch: có thể làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp đang được điều trị và giảm tác dụng của thuốc hạ huyết áp.

- Trên da: có thể xuất hiện mề đay, phát ban, ngứa, vàng da, hồng ban có mụn nhỏ ở da. Các phản ứng nghiêm trọng xảy ra với tần suất hiếm gặp như hội chứng Lyell, hội chứng Stevens-Johnson, hồng ban đa dạng, viêm mạch. Điều trị bằng NSAID kéo dài có thể xuất hiện các phản ứng nhiễm độc trên da. Đôi khi có thể gặp phù Quincke, sốc phản vệ.

- Trên huyết học: thiếu máu, giảm bạch cầu, mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và giảm huyết cầu toàn thể. Điều trị kéo dài có thể dẫn đến tác dụng phụ nghiêm trọng hơn như suy tủy.

- Trên gan: NSAID có thể gây viêm gan và vàng da, gây ra những thay đổi nhẹ có thể hồi phục trên chức năng gan (tăng men gan, tăng bilirubin). Nên ngừng thuốc nếu các bất thường về chức năng gan vẫn dai dẳng hoặc xấu đi, hoặc kèm theo các dấu hiệu lâm sàng của suy gan.

Thuốc chống viêm không steroid có thể gây tăng kali máu. Nguy cơ này tăng lên khi sử dụng đồng thời với: muối kali, thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali, thuốc ức chế men chuyển, thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II, heparin (khối lượng phân tử thấp hay heparin không phân đoạn), các thuốc ức chế miễn dịch (ciclosporin, tacrolimus) và trimethoprim.

 

II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


  1. Đối tượng nghiên cứu:

Đơn thuốc điều trị ngoại trú và nội trú và các phiếu lãnh của các phòng khám và khoa lâm sàng BVĐK Đồng Nai từ 01/11/2015 - 31/8/2016.

- Tiêu chuẩn chọn mẫu: các đơn thuốc điều trị ngoại trú và nội trú của các phòng khám và khoa lâm sàng: Nội tổng hợp, Chấn Thương Chỉnh Hình, Hô hấp, Ngoại tổng hợp, Sản bệnh, Răng hàm mặt, Tai mũi họng, Tâm thần kinh, Da liễu, Mắt có chứa paracetamol và các thuốc NSAID.

- Tiêu chuẩn loại trừ: các đơn thuốc không có phối hợp các thuốc giảm đau kháng viêm NSAID, Paracetamol.


  1. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang

Mẫu nghiên cứu: Báo cáo nhập xuất tồn

Thời gian: Trong khoảng thời gian hiệu lực thầu năm 2015 từ 01/11/2015-31/8/2016



III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Đánh giá công tác dự trù thuốc giảm đau, hạ sốt, kháng viêm NSAID

Paracetamol và các thuốc NSAID trúng thầu năm 2015



Tên thuốc

% số lượng

% Thành tiền

Paracetamol
Codein phosphat

24.15

26.62

Paracetamol

21.58

2.91

Dexibuprofen

15.93

35.41

Nabumeton

12.33

9.61

Etodolac

9.25

6.49

Meloxicam

5.65

0.86

Celecoxib

2.88

0.98

Aceclofenac

1.85

10.46

Flurbiprofen

1.23

3.14

Piroxicam

1.23

0.74

Loxoprofen

1.03

0.73

Paracetamol
Chlorpheniramin

1.03

0.10

Paracetamol
Loratadin

1.03

0.66

Diclofenac

0.51

0.03

Tenoxicam

0.21

1.23

Ibuprofen

0.10

0.02

Tổng

100

100




Nhận xét:

Có 4 hoạt chất giảm đau chiếm số lượng lớn nhất là: dạng phối hợp paracetamol + codein phosphate, paracetamol đơn thành phần, dexibuprofen, nabumeton với tỉ lệ phần trăm lần lượt 24%, 22%, 16%, 12%.

4 hoạt chất giảm đau chiếm giá trị cao nhất là: dexibuprofen, dạng phối hợp paracetamol + codein phosphate, nabumeton, aceclofenac với tỉ lệ phần trăm lần lượt 35%, 27%, 10%, 10%.

Các thuốc có số lượng dự trù lớn nhưng giá trị thấp thường ưu tiên sử dụng cho bệnh nhân ngoại trú nhằm giảm thiểu rủi ro vượt trần chi trả của quỹ BHYT.

Đối với các thuốc có số lượng dự trù thấp nhưng giá trị lớn phải lưu ý khi kê toa ngoại trú, đúng theo chỉ định trên tờ hướng dẫn sử dụng, theo quy định tại thông tư số 40/TT-BYT ngày 17 tháng 11 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế nhằm tránh sự xuất toán của cơ quan BHYT.

Đánh giá sơ bộ tỉ lệ sử dụng thuốc giảm đau, hạ sốt, kháng viêm NSAID tại các khoa phòng



Tên thuốc

Số lượng sử dụng

Tháng 11,12,1

Tháng 2,3,4

Tháng 5,6,7,8

Dexibuprofen

410.350

574.841

394.759

Paracetamol

403.109

377.823

540.772

Flubiprofen

99.957

0

0

Meloxicam

14.980

0

0

Etodolac

7.843

4.666

0

Aceclofenac

2.501

1.186

144.690

Tenoxicam

1.119

282

16.997

Paracetamol codein phosphat

0

4.733

105.261

Etodolac

0

4.666

0

Diclofenac

0

997

20.003

Paracetamol loratadin

0

0

23.638

Loxoprofen

0

0

9.989

Celecoxib

0

0

5.537

Nabumeton

0

0

0

Ibuprofen

0

0

0





Số lượng sử dụng thuốc NSAID theo từng mốc thời gian

Số lượng I: tháng 11,12,1

Số lượng II: tháng 2,3,4

Số lượng III: tháng 5,6,7

Nhận xét: Các thuốc được sử dụng nhiều, xuyên suốt từ tháng 11/2015 đến tháng 8/2016: dexibuprofen, paracetamol đơn thành phần. Phần lớn các hoạt chất còn lại tần suất sử dụng chưa ổn định, flubiprofen có số lượng sử dụng lớn 3 tháng đầu thầu, các tháng còn lại không sử dụng. Aceclofenac có số lượng sử dụng tăng mạnh vào 4 tháng cuối thầu. Aceclofenac chiếm giá trị thuốc lớn, giá thành cao, việc sử dụng tập trung vào các tháng cuối thầu có thể dẫn tới nguy cơ BHYT xem xét và không thanh toán nếu không đúng chỉ định.

Paracetamol phối hợp với codein có số lượng sử dụng tăng mạnh trong 4 tháng cuối thầu từ tháng 5/2016 đến tháng 8/2016 so với 6 tháng đầu thầu từ tháng 11/2015 đến tháng 4/2016.

Việc sử dụng các thuốc giảm đau còn dựa trên kinh nghiệm, chưa theo phác đồ điều trị chuẩn, dễ bị tác động từ công ty dược phẩm nên số lượng sử dụng giữa các khoảng thời gian khảo sát dao động nhiều.

Nabumeton có tỉ lệ phần trăm số lượng trúng thầu cao và chiếm phần trăm giá trị lớn nhưng không được sử dụng trong suốt thời gian hiệu lực thầu 2015. Điều này cho thấy cần có sự xem xét phù hợp với nhu cầu sử dụng thực tế trước khi dự trù số lượng thuốc này cho thầu mới.



IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Công tác dự trù cơ số thuốc khá sát sao với nhu cầu sử dụng tại bệnh viện tuy nhiên cần xem xét lại hoạt chất nabumeton.

Với một số phòng khám cần có giải pháp can thiệp để hạn chế hơn nữa việc sử dụng bất hợp lý các thuốc NSAID.

Tài liệu tham khảo

1) Hòang Kim Huyền (2005), Dược lâm sàng đại cương, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.

2) Bộ Y tế (2005). Tài liệu tập huấn hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hợp lý.

3) Bộ Y tế (2006), Tương tác thuốc và chú ý khi chỉ định, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.

4) Trần Nhân Thắng và CS (2006) khảo sát tình hình sử dụng thuốc tại Bệnh viện Bạch Mai, Y học lâm sàng, Volum 1, NXB trẻ Hà Nội, Tr 199-204..7) www.canhgiacduoc.org.vn

5) Trung tâm DI & ADR quốc gia, Sử dụng hợp lý các thuốc giảm đau, www.canhgiacduoc.org.vn

6) www.Medscape, Drugs.com, WedMD.com

7) Martindale: The Complete Drug Reference. 37th Edition, April 2011.



8) British National Formulary 2010-2011.



tải về 205.77 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương