Khái niệm ô nhiễm môi trường nước



tải về 303.15 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu01.11.2017
Kích303.15 Kb.
1   2   3

Độ cứng của nước

Độ cứng là những loại nước có chứa các ion kim loại hóa trị 2 (Ca, Mg, Sr, Fe, Mn). Những loại ion này có khả năng tác dụng với xà phòng tạo ra kết tủa và tác dụng với các ion âm có trong nước tạo ra lớp váng… Các cation này thường liên kết với các anion như HCO3-, SO42-, Cl-, NO3-, SiO32-. Khi dung nước cứng để tắm dặt thì xà phòng ít tạo bọt nên lượng tiêu tốn xà phòng tăng lên đáng kể.

Trong kỹ thuật, nước cứng tạo màng cứng trong các ống dẫn nước nóng, các nồi hơi và các bộ phận khác tiếp xúc với nước nóng.

Độ cứng của nước gây nên bởi các ion đa hóa trị có mặt trong nước. Chúng phản ứng với một số anion tạo thành kết tủa. Các ion hóa trị 1 không gây nên độ cứng của nước. Trên thực tế vì các ion Ca2+ và Mg2+ chiếm hàm lượng chủ yếu trong các ion đa hóa trị nên độ cứng của nước xem như là tổng hàm lượng của các ion Ca2+ và Mg2+.

Độ cứng của nước thay đỏi từ vùng này sang vùng khác, tùy thuộc vào cấu tạo địa chất và các yếu tố khác, nước mặt ít cứng hơn nước ngầm. Thang phân loại nước theo độ cứng:



Nồng độ ion kim loại ( mg CaCO3/l)

Độ cứng

0 – 75

Mềm

75 – 150

Cứng trung bình

150 – 300

Cứng

>300

Rất cứng

Phần lớn độ cứng của nước được tạo ra do tiếp xúc với đất đá. Do hoạt động của vi khuẩn nên CO2 được tạo ra và trong nước có chúa nhiều CO2, lượng CO2 này cân bằng với H2CO3, kết quả lam cho pH của nước giảm, các chất có tính baz đặc biệt là đá vôi bị hòa tan.

Đơn vị đo độ cứng được dùng khác nhau ở nhiều nước: Đức 1 dH = 10 mg CaO/l, Anh 1eH = 10 mg CaCO3/0,7l, Pháp 1 fH = 10 mg CaCO3/l, Mỹ 1 aH = 1 mg CaCO3/l.
Một đơn vị khác cũng hay được dùng để đánh giá độ cứng là ppm (Parts Per Million). 1 dH = 17 ppm.

Phân loại nước theo độ cứng:


Các ion Ca2+ và Mg2+ có thể tạo kết tủa với một số chất khoáng có trong nước, tạo lắng cặn trong nồi hơi, bình đun nước hoặc hệ thống dẫn nước.
Người ta còn phân biệt các loại độ cứng khác nhau :
- độ cứng carbonat (thường được ký hiệu CH : Carbonate Hardness): là độ cứng gây ra bởi hàm lượng Ca2+ và Mg2+ tồn tại dưới dạng HCO3- . Độ cứng carbonat còn được gọi là độ cứng tạm thời vì sẽ mất đi khi bị đun sôi.

to

Ca(HCO3)2 CaCO3 ↓ + CO2 ↑ + H2O

- độ cứng phi carbonat (thường được ký hiệu là NCH : Non-Carbonate Hardness) là độ cứng gây ra bởi hàm lượng Ca2+ và Mg2+ liên kết với các anion khác HCO3- như SO42-, Cl- …Độ cứng phi carbonat còn được gọi là độ cứng thường trực hay độ cứng vĩnh cữu.

Độ cứng của nước có thể từ 0 đến vài trăm mg/l CaCO3 tùy theo nguồn nước và cách xử lý.

Phương pháp xác định:



  • Phương pháp tính: dựa trên việc phân tích riêng lẻ Na, Mg và sau đó dựa vào công thức để tính độ cứng và biểu thị ra mg CaCO3 trong 1 lít.Độ cứng (mg CaCO3/l) = 2,497 × Ca (mg/l) + 4,118 × Mg (mg/l)

  • Phương pháp chuẩn độ: chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn EDTA (trilon B) trong môi ttrường đệm pH = 10 với chỉ thị NET ( Eriochrom đen T), dừng phản ứng chuẩn độ khi dung dịch chuyển từ màu đỏ nho sang xanh chàm.

  1. Hàm lượng sắt và mangan

Khi trong nước có chứa các ion sắt và mangan sẽ gây ra độ đục và màu trong nước do:

Fe2+ Fe3+ (màu nâu đỏ)

Mn2+ Mn4+ (màu đen)

đồng thời ảnh hưởng tới độ cứng, duy trì sự phát triển của một số vi khuẩn gây thối rữa trong hệ thống phân phối nước.

Hàm lượng sắt và mangan có trong nước là do chúng hòa tan trong nước ngầm (dưới dạng Fe2+ hay Mn2+) hay có trong nước thải công nghiệp.

Sắt và mangan thường có trong nước bề mặt và nước ngàm dưới dạng các muối tan hoặc phức chất di hòa tan từ các lớp khoáng trong đá hoặc do ô nhiễm bề mặt bởi nước thải.

Nước có hàm lượng sắt > 0,3 mg/l và mangan > 0,05 mg/l sẽ gây mùi tanh khó chịu, làm nước có màu. Khi bị oxy hóa chúng còn biến thành các hợp chất sắt và mangan hóa trị cao gây keo hoặc kết tủa làm tắc đường ống.


  1. Oxy hòa tan (Disolved Oxygen – DO)

Sau nước, oxy là nguyên liệu tối cần thiết cho những sinh vật hiếu khí. Thiếu oxy thì mọi quá trình trao đổi chất sẽ bị ngưng trệ và sinh vật sẽ chết.

Trong điều kiện tự nhiên oxy hòa tan trong nước khoảng 8-9 mg/lít. Các chất gây ô nhiễm có trong nước thường làm giảm khả năng hòa tan của oxy trong nước. . Khi DO xuống đến khoảng 4 – 5 mg/L, số sinh vật có thể sống được trong nước giảm mạnh.

Oxy có trong nước do hòa tan từ không khí và do các phản ứng tổng hợp quang hóa của tảo và thực vật sống trong nước. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hòa tan oxy vào nước là nhiệt độ, thời tiết, áp suất khí quyển, dòng chảy, đặc điểm địa hình… Giá trị oxy hòa tan trong nước phụ thuộc vào tính chất vật lý, hóa học và các hoạt động sinh học xảy ra trong đó.

Qua đại lượng oxy hòa tan có thể đánh gía mức độ ô nhiễm nước, quá trình tự làm sạch nước và hiệu quả xử lý sinh học nước thải. Nước sông hồ có hàm lượng oxy hòa tan cao, khả năng tự làm sạch lớn và hệ thủy sinh sẽ phong phú. Ngược lại, nguồn nước có oxy hòa tan thấp, điều kiện hô hấp hiếu khí của thủy sinh vật bị hạn chế, một số loài có thể bị chết hoặc biến mất.

DO là yếu tố quyết định các quá trình phân hủy sinh học các chất ô nhiễm trong nước diễn ra trong điều kiện yếm khí hay háo khí, do đó các vi sinh vật yếm khí hay háo khí đóng vai trò phân hủy.

Việc xác định DO được làm cơ sở cho thí nghiệm BOD, thí nghiệm DO được coi là quan trọng nhất dung để đánh giá cường độ nước thải công nghiệp và sinh hoạt.

DO là một yếu tố liên quan đến sự ăn mòn sắt, thép, đặc biệt trong các hệ thống phân phối nước và trong các nồi hơi, việc xác định DO để khống chế sự ăn mòn đó.

Nguyên nhân làm giảm oxy hòa tan trong nước là do xả các loại nước thải, nước mưa chảy tràn từ đô thị, khu công nghiệp và đồng ruộng bón phân hữu cơ…

Nồng độ oxy hòa tan trong 1 thể tích nước phụ thuộc váo các yếu tố sau:


  • Sự khuếch tán oxy từ trong không khí vào nước: Lượng oxy khuếch tán vào trong nước phụ thuộc vào áp suất riêng của phần oxy trên bề mặt nước, sự có mặt của các khí khác, nồng độ oxy trong nước.

  • Sự tiêu hao oxy do quá trình phân hủy sinh học chất hữu cơ: Lượng tổn thất oxy do nhu cầu phân hủy sinh học chất hữu cơ của các vi khuẩn háo khí được coi là lượng oxy tiêu hao lớn nhất trong các thể nước. Lượng tiêu hao này phụ thuộc vào bản chất và lượng chất ô nhiễm hữu cơ, lượng và loại vi khuẩn, nhiệt độ, thể tích ao hồ hay lưu lượng và tốc độ dòng chảy.

  • Sự tiêu hao oxy do quá trình phân hủy chất hữu cơ có trong kết tủa của đáy và từ các nguồn bổ sung: Chất hữu cơ lắng đọng xuống đáy dọc theo dòng chảy hay đáy ao hồ trải qua phân hủy yếm khí tạo ra các sản phẩm phân hủy yếm khí. Những sản phẩm phân hủy yếm khí này tiếp tục được phân hủy khi đi tới lớp nước phía trên, sự phân hủy này do các vi khuản háo khí thực hiện, vì thế oxy bị tiêu tốn.

  • Sự bổ sung oxy do quang hợp: Trong nước luôn diễn ra quá trình quang hợp của các loài thực vật trôi nổi và thực vật bám rễ sống trong nước, dovậy oxy của nước được bổ sung. Nguồn oxy bổ sung phụ thuộc vào mhiệt độ, ánh sáng mặt trời, độ đục của nước, nồng độ các chất dinh dưỡng, nồng độ CO2, lượng thực vật trôi nổi và bám rễ.

  • Sự hao hụt oxy hòa tan do hô hấp của động vật và thực vật sống trong nước: đây là lượng tổn thất mang tính chất liên tục theo thời gian.

Phương pháp xác định:

  • Phương pháp Winkler theo TCVN 5499 – 1995

  • Phương pháp điện hóa ISO 5814 - 1990

  1. Nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand-COD)

Nhu cầu oxy hóa học là lượng oxy cần thiết để oxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ thành CO2 và H2O khi mẫu nước được xử lý với chất oxy hóa mạnh (K2Cr2O7) trong những điều kiện nhất định. Đơn vị tính COD: mg/l.

COD là chỉ tiêu đánh giá mức độ ô nhiễm nước (nước thải, nước mặt, nước sinh hoạt…) kể cả chất hữu cơ dễ phân hủy và khó phân hủy sinh học.

Phương pháp đơn giản nhất để xác định COD là phương pháp brircromate cơ chế phản ứng như sau:

Ag2SO4

Chất hữu cơ + K2Cr2O7 + H+ CO2 + H2O + 2Cr3+ + K

to

Lượng bricromate dư được chuẩn độ bằng dung dịch Mohr Fe(NH4)2(SO4)2 và sử dụng dung dịch ferroin lam chất chỉ thị. Phương trình phản ứng được biểu diễn như sau:

6Fe + Cr2O72- + 14H2O 2Cr3+ + 6Fe + 7H2O

Chỉ thị sẽ chuyển từ màu xanh lam sang màu đỏ nhạt.

Khi xác định COD theo phương pháp dung chất oxy hóa mạnh thì một số chất hữu cơ như các hợp chất thơm, pyridine, không bị oxy hóa, mặt khác một số chất vô cơ như Fe, các sulfur, sulfit cũng bị oxy hóa nên tạo ra 1 COD vô cơ.

Thí nghiện COD được dung rộng rãu trong kiển soát ô nhiễm môi trường nước do những ưu điểm sau:


  • Cho kết quả nhanh chóng (chỉ sau 3 giờ) nên đáp ứng được nhiều yêu cầu thực tế khi cần có số liệu nhanh, đặc biệt khi vận hành các thiết bị xử lý.

  • Có thể tự động hóa việc xác định nên tiết kiệm được thời gian và tăng khả năng phân tích.

  • Số liệu COD thường được dùng để chuyển đổi sang BOD khi việc thí nghiệm đã tiến hành đủ nhiều để rút ra hệ số tương quan và có độ tin cậy lớn.

  • Kết hợp 2 số liệu COD và BOD cho phép đánh giá lượng chất hữu cơ trơ đối với sự phân hủy sinh học.

Phương pháp xác định:

  • Phương pháp oxy hóa bằng K2Cr2O7 trong môi trường acid theo TCVN 6491 – 1999

  • APHA – 5220B: phương pháp hồi lưu mở

  • APHA – 5220D: phương pháp chưng cất hồi lưu đóng

  1. Nhu cầu oxy sinh hóa (Biochemical Oxygen Demand – BOD)

Nhu cầu oxy sinh hóa là lượng oxy cần thiết cho vi sinh vật để oxy hóa và ổn định các chất hữu cơ hoặc vô cơ trong nước trong những điều kiện nhất định. BOD gián tiếp chỉ ra mức độ ô nhiễm do các chất thải có khả năng bị oxy hóa sinh học, mà đặc biệt là các chất hữu cơ. ). Đơn vị đo BOD: mg/l. Trong môi trường nước, khi quá trình oxid hóa sinh học xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng oxigen hòa tan để oxid hóa các chất hữu cơ và chuyển hóa chúng thành các sản phẩm vô cơ bền như CO2, CO32-, SO42- , PO43- và cả NO3-.
Quá trình oxy hóa sinh học này được viết tóm tắt như sau:

Chất hữu cơ CO2

Vi sinh vật Sinh khối vi sinh vật

Quá trình chuyển hóa trên phụ thuộc rất nhiều vao những yếu tố cơ bản sau:



  • Bản chất các chất hữu cơ

  • Số lượng các chất hữu cơ

  • Số lượng và loài sinh vật tham gia

  • Các chất độc, chất kìm hãm sinh vật

BOD5 là thông số được sử dụng phổ biến nhất. Đó chính là lượng oxy cần thiết để oxy hóa sinh học trong 5 ngày xảy ra ở nhiệt độ 200 C. Việc lựa chọn thời gian ủ 5 ngày cũng cho phép loại trừ được ảnh hưởng của các quá trình oxy hóa ammoniac (quá trình nitrat hóa các chất hữu cơ chứa nitơ do các vi khuẩn nitrat hóa thực hiện thường diễn ra sau 10 ngày ủ). Ngoài ra theo yêu cầu nghiên cứu người ta còn xác định đại lượng BOD toàn phần sau thời gian lưu trữ mẫu 20 ngày, sau 60 – 90 ngày (BOD tận cùng – UBOD).

Các phản ứng diễn ra trong thí nghiệm BOD là kết qua của hoạt động sinh học và tốc độ các phản ứng này được quyết định bởi số lượng, loại vi khuẩn và nhiệt độ. Ảnh hưởng của nhiệt độ được giữ không đổi bằng cách tiến hành thí nghiệm ở 20oC. Các vi khuẩn chủ yếu dựa vào phân hủy chất hữu cơ có trong nước tự nhiên là loại vi khuẩn có trong đất. Về mặt lý thuyết, để oxy hóa sinh học hoàn toàn phải mất 20 ngày.

Mục đích của việc xác định lượng oxy hòa tan là để thực hiện một số việc quan trọng như sau:


  • Dùng để tính toán lượng oxy cần thiết oxy hóa các chất hữu cơ dễ phân hủy có trong nước thải

  • Làm cơ sở đẻ tính toán các công trình xử lý nước ô nhiễm và nước thải

  • Đánh giá chất lượng nước trước và sau khi xử lý.

Phương pháp xác định:

  • Phương pháp cấy và pha loãng theo TCVN 6001 – 1995

  • APHA – 5210B (xác định BOD 5 ngày)

  1. Hàm lượng Nitơ

Nitơ là nguyên tố cần thiết cho quá trình tổng hợp các hợp chất hữu cơ chứa nitơ trong cơ thể sing vật. Chúng có mặt trong protêin, trong enzym, trong lipoprotein, trong axit nucleic, trong hoomon, trong kháng sinh và trong nhiều thành phần khác của tế bào. Chính vì thế, nitow cùng với carbon được coi như là thành phần cơ bản nhất không thể thiếu được trong tế bào sinh vật.

Để tiến hành đồng hóa được các hợp chất chứa nitơ có trong môi trường nước, VSV phải tổng hợp được enzym ngoại bào. Enzym protease ngoại bào sẽ phân giải protein hành các axitamin và các thành phần khác. Chính vì thế trong môi trường nước thường tồn tại các dạng nitơ như sau: nitơ amin, nitơ amoniac, nitơ nitrit, nitơ nitrat và nitơ tự do.



  • Amonac (NH3-) là sản phẩm chuyên hóa của các hợp chất chưa nitơtrong nước tự nhiên, do các chất thỉa sinh hoạt và công nghiệp. Trong thể nước, NH3 được tạo ra phần lớndo sự khử các nitrai dưới điều kiện yếm khí của vi khuẩn. Amoniac rất độc với cá và động vật thủy sinh khác. Vì vậy nó cần được giám sát chặt chẽ trong các ao nuôi cá. Để kiểm soát ô nhiễm nước thải và monitoring nguồn nước ngầm, nước uống…amoniac cần được giám sát thường xuyên.

Khi nước có pH thấp, amoniac chuyển sang dạng muối amoni (NH4+). Với sự có mặt của oxy, amoni chuyển thành nitrat theo phương trình:

NH4+ + 2O2 NO3 + H2O + 2H+

Phương pháp xác định:


  • Chưng cất và chuẩn độ theo APHA – 4500C, TCVN 5988 – 1995

  • PP điện cực chọn lọc ion theo APHA – 4500D

  • PP điện cực chọn lọc ion thêm chuẩn theo APHA – 4500E

  • PP trắc quan Nesslerr theo TCVN 4563 – 1988

  • Nitrat (NO3) là dạng oxy hóa cao nhất trong chu trình nitơ và thường đạt đến những nồng độ đáng kể trong các giai đoạn cuối cùng của qua strình oxy hóa sinh học.

  • Nitrat luôn có mặt trong nước do sự phân hủy của các loài rau, cỏ tự nhiên, do sử dụng phân hóa học trong nông nghiệp và phân giải các hợp chất hữu cơ trong nước thải đô thị và nước thải công nghiệp.

Nước uống chứa nhiều nitrat sẽ gây bệnh ung thư thanh quản, bệnh methemoglobinemia đối với trẻ em, đặc biệt đối với trẻ em dưới 4 tháng tuổi. Vì vậy nước dùng để uống thường qui định hàm lượng NO3- tối đa cho phép là 10mg/l. Nước mặt chứa hiều nitrat sẽ gây hiện tượng nước nở hoa.

Trong nước cung cấp cho sinh hoạt thường chỉ chứa NO3- với nồng độ nhỏ, nhưng trong một số nước ngầm thì nồng độ nitrat có thể đạt đến những giá trị lớn.

Phương pháp xác định:


  • Phương pháp trắc quan theo TCVN 6108 – 1996

  • Phương pháp sắc kí ion theo ISO – 10340:1992

  • Phương pháp khử bằng Cadmi theo APHA – 4500NO3- E

  • Nitrit (NO2-) là chất trung gian trong chu trình nitơ, óc thể có mặt trong nước do sự phân hủy sinh học của các chất protein.

Nitrit có mặt trong nước là sản phẩm trung gian trong vòng tuần hoàn nitơ. Nitorit rất độc đối với cá và động vật thủy sinh. Cũng như nitrat, đối với nước thải và nước uống, cân kiểm soát chặt chẽ lượng nitơrit trong đó. Nồng độ nitrit trong nước uống không được vượt quá 0.1mg/l.

Phương pháp xác định:



  • Phương pháp trắc quan Gries – llosway theo TCVN 4516 – 1988

  • Phương pháp sắc ký ion theo ISO – 10340 – 1 : 1992

  1. Hàm lượng Photpho

Trong môi trường nước photpho không chỉ tồn tại dưới dạng phốt phát thông thường ( muối orthophotphat – PO43-) mà còn dưới dạng polyphtphat (P2O74-, P3O105-) và dưới dạng photpho hữu cơ.

Photpho là nguyên tố rất quan trọng đối với sinh vật. Chúng có mặt trong thành phần ATP, ADP, AMP, trong photpholipit, trong axit nucleic. Chính vì thế, nguyên tố photpho rất cần thiết cho sinh vật, nhất là các loại thực vật trong nước.

Photpho có mặt trong nước từ các nguồn:


  • Nước lò hơi

  • Nước thỉa sinh hoạt có chứa các chất tẩy rửa sử dụng polyphốtphat làm phụ gia

  • Từ các nguồn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp

  • Từ xác chết động vật

Photpho là một trong các thành phần dinh dưỡng (NPK) rất cần thiết cho đời sống của sinh vật mà đặc biệt là thủy sinh. Photpho còn có mặt trong trầm tích và bùn sinh học dưới dạng vô cơ và hữu cơ. Với photpho dự trữ trong môi trường nước, chúng sẽ thúc đẩy sự phát triển của cac loài tảo, các thực vật thủy sinh. Nhiều trường hợp, sự phá triển quá mạnh của những thủy sinh này lam tắc nghẽn dòng chảy. Khi các sinh vật thủy sinh này phát triển cực đại, chúng sẽ tự làm nước bị ô nhiểm thứ cấp. Ngoài ra trong quá trình phát triển của chúng làm giảm lượng oxy trong nước, làm chết hàng loạt tôm cá.

Ngoài các tác động làm tăng khả năng ô nhiễm thứ cấp trong nước, thông số photphat cón giúp chúng ta đánh giá mức độ dinh dưỡng trong nước, để lập kế hoạch xử lý nước bằng công nghệ sinh học. Việc xác định photpho là rất quan trọng để đánh giá năng suất sinh học tiềm tàng của nước mặt và trong nhiều vùng, lượng photpho xả vào các thể nước đặc biệt là các hồ chứa phải qui định các giới hạn cho phép. Việc xác định photpho là cần thiết trong vận hành các nhà máy xử lý nước thải và trong nghiên cứu hiện tượng ô nhiễm dòng chảy.

Phương pháp xác định:


  • PP trắc quan dùng amoni molipdat theo TCVN 6202 – 1996

  • APHA – 4500PE (phương pháp acid ascorbic)

Ortho photphat có thể xác định bằng phương pháp so màu với thuốc thử NH4MoO4 và SnCl2. Poly photphat, photphat hữu cơ được chuyển hóa thành ortho photphat qua phản ứng với axit sau đó xác định bằng phương pháp nói trên.

  1. Hàm lượng Sulfat

Sulfat có mặt trong nước do quá trình rửa trôi, xói mòn và oxy hóa quặng pitit. Nồng độ sulfat trong nước có mặt thay đổi từ một đên hàng nghìn gam/lít.

Sulfat sắt luôn có trong nước bị ô nhiễm và nước thải. Lưu huỳnh có mặt trong một số các axitamin, cấu tạo ra protein. Trong khi phân hủy protein hay nói chính xác hơn là khi cystein và methionin, lưu huỳnh sẽ chuyển hóa theo phương trình sau trong điều kiện kị khí:

Vi khuẩn

Chất hữu cơ + SO42- S2- + H2O + CO2

S2- + 3H+ H2S (khí H2S có độc tính cao)

Trong điều kiện háo khí, các sulfat bị khử bởi vi khuẩn thành H2S gây mùi hôi và độc, các vi khuẩn háo khí có khả năng oxy hóa H2S thành H2SO4 ở phần vách cống nằm trên mực nước thải, nơi có mặt oxy:

H2S + 2O2 H2SO4

Sulfat với hàm lượng lớn hơn 250 mg/L gây tổn hại cho sức khỏa con người.

Phương pháp xác định:


  • PP trọng lượng dùng BaCl2 theo CVN 6200 – 1996

  • PP độ đục, APHA 4500 – SO4 E

  1. Clorua (Cl-)

Clorua có mặt trong nước là do các chất thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp mà chủ yếu là công nghiệp chế biến thực phẩm. Ngoài ra clorua xuất hiện trong nước còn do sự xâm nhập của nước biển qua các cửa sông, mạch nước ngầm…

Clor tồn tại trong nước dưới dạng Cl-. Nói chung ở mức nồng độ cho phép thì các hợp chất clor không gây độc hại, nhưng với hàm lượng lớn hơn 250 mg/L làm cho nước có vị mặn. Nước có nhiều Cl- có tính xâm thực xi măng.

Khi nồng độ Cl- trong nước cao, giá trị sử dụng của nước giảm. Hàm lượng Cl- trong nước được coi là một yếu tố quan trọng khi lựa chọn nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt. Nồng độ Cl- được dùng để kiểm soát quá trình khai thác nước ngầm ở những nơi có hiện tượng xâm nhập mặn.

Phương pháp xác định:



  • Phương pháp More: chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn gốc AgNO3 với chỉ thị màu Kali cromat K2CrO4 (YCVN 6194 – 1996)

  • Phương pháp sắc ký ion theo ISO 103400-1:1992

  1. Các kim loại nặng

Phần lớn các kim loại có trong nước bị ô nhiễm và nước thải thường tồn tại dạng ion. Các kim loại nặng gây độc hại đến người và động vật. Các kim loại nặng bao gồm asen, thủy ngân, niken, selen, bạc và kẽm.

Kim loại nặng có trong nước do nhiều nguyên nhân: quá trình hòa tan các khoáng sản, các thành phần kim loại có sẵn trong tự nhiên hoặc sủ dụng trong các công trình xây dựng, các chất thải công nghiệp. Ảnh hưởng của kim loại nặng đối với môi trường phụ thuộc và thành phần và nồng độ của chúng. Kim loại năng có ích nếu chúng ở nồng độ thấp và ngược lại, sẽ rất có hại khi ở nồng độ cao. Kim loại nặng trong nước thường keo tụ hoặc bị hấp phụ bởi các hạt sét, phù sa lơ lửng trong nước. Các chất lơ lửng này dần dần sa lắng, làm cho nồng độ kim loại nặng trong trầm tích thường cao hơn rất nhiều trong nước. Các loài động vật thủy sinh, đặc biệt là động vật đáy sẽ tích lũy lượng lớn kim loại nặng trong cơ thể. Thông qua chuỗi thức ăn mà kim loại năng được tích lũy trong con người và gây độc với tính chất bệnh lý rất phức tạp. Vì chúng được tích tụ và cơ thể tiêu thụ thực phẩm nên việc xác định hàm lượng kim loại nặng rất có ý nghĩa trong đánh giá ô nhiễm môi trường.

Phương pháp xác định:


  • PP quang phổ hấp thụ nguyên tử (Fe, Mn, Pb, Zn, Cd, Cr, Hg, As): TCVN 6193 – 1996, TCVN 6222 – 1996, TCVN 5989 – 1995, TCVN 5990 – 1995, TCVN 5991- 1995.

  • Phương pháp cực phổ

  • PP trắc quan:

  • Xác định Mn bằng PP trắc quan dùng fomaldoxim theo TCVN 6002 – 1995

  • Xác định Fe bằng trắc quan theo TCVN 6177 – 1996

  1. Hàm lượng chất dầu mỡ

Chất dầu mỡ trong nước có thể là chất béo, axit hữu cơ, dầu, sáp,…Chúng có thể gây khó khăn cho quá trình vận chuyển nước, ngăn cản oxy hòa tan do tạo lớp phân cách trên bề mặt nước với khí quyển.

  1. Thông số sinh học

    1. Nguồn gây ô nhiêm

Các sinh vật gây ô nhiễm môi trường nước thường theo phân gia súc, phân người xâm nhập vào môi trường nước hoặc chúng sinh trưởng ngay trong những môi trường nước thuận lợi.

Các sinh vật thường gây ô nhiễm trong nước gồm:



  • Vi khuẩn gây bệnh: samonella sp, shigella sp, vibrio sp, leptoshina sp, E.coli

  • Virut

  • Nấm:Histoplasma sulatim.

  • Amip: Entameba histolytica, Negleria gruberi

  • Nguyên sinh động vật: Giardia lambia.

  • Các loài giun sán.

    1. Thông số đánh giá

Trong nước thiên nhiên còn có nhiều loại vi trùng, siêu vi trung, rong tảo và các đơn bào. Chúng xâm nhập vào nước từ môi trường xung quanh hoặc sống và phát triển trong nước.

Trên thực tế không thể xác định tất cả các loài vi sinh vật gây bệnh có trong nước vì rất phức tạp và tốn thời gian. Do vậy thường chỉ xét mẫu nước có bị ô nhiễm bởi các vi trùng gây bệnh có trong phân người và động vật. Có 3 nhóm vi sinh chỉ thị ô nhiễm phân là:



  • Nhóm Coliform đặc trưng là Eschsrichia Coli (E. Coli)

  • Nhóm Streptococci đặc trưng là Streptocossus fecalis

  • Nhóm Clostridca khử sulfit đặc trưng là Clostridium Perfringents

Trong 3 nhóm vi sinh vật chỉ thị trên, thường dùng nhóm Colifom vì chúng là nhóm vi sinh vật quan trọng nhất (chiếm 80% số vi khuẩn) và có đầy đủ các tiêu chuẩn của loại vi sinh chỉ thị lý tưởng, dễ dàng được xác định hơn trong diều kiện thực địa so với các vi sinh vật khác.

Trong nhóm Colifom chia lam 2 loại:



  • Fecal Colifom (E. Coli) có nguồn gốc từ phân người và động vật, thương sống trong ruột người, động vật có vú và chim. Nó gây các bệnh như viêm dạ dày, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, sinh dục, ỉa chảy cấp tính. E Coli ở diều kiện ngọa cảnh được tìm thấy trong nước và đất.

  • Non – fecal Colifom có thể đi vào nước từ các nguồn thưc vật ruỗng và đất.

Ở châu Âu và Bắc Mỹ thường dùng Coli tổng thể đánh giá chất lượng nước. Ở các nước có khí hậu nóng ẩm thì thường tách 2 chỉ tiêu riêng do hai nhóm phản ứng với nhiệt độ cao của môi trường xung quanh rất khác nhau.

Vì vậy có thể coi vi khuẩn E. Coli là vi khuẩn đặc trưng cho mức độ nhiễm nước bởi vi trùng. Chỉ số E. Coli chính là số lượng vi khuẩn có trong 1lít nước. Vi khuẩn E. Coli là vi khuẩn đặc trưng cho mức độ nhiễm trùng nước.

Về mặt vi sinh học thì hiện tượng nhiễm bản nước bởi phân người là diều đáng lo ngại nhất, vì nhiều VSV gây bệnh đường ruột từ phân người được nước mang theo, lúc này nước được coi là phương tiện lây lan bệnh. Trong phân người, bên cạnh các VSV gây bệnh luôn có một số rất lớn vi khuẩn Escherichia Coli (E.Coli). Ước tính mỗi người trong một ngày bài tiết khoảng 2.1011 E.Coli. Sự có mặt của E.Coli trong nước được dùng làm dấu hiệu về khả năng tồn tại của các vi sinh vật gây bệnh khác.

E.Coli có sức đề kháng yếu. Các chất sát khuẩn thông thường như nước javel (1/200), phenol (1/200) tiêu diệt được E.Coli sau 2 – 4 phút. Nhiệt độ 55oC tiêu diệt được E.Coli sau 1 giờ. Nhiệt độ 60oC tiêu diệt E.Coli sau 30 phút.

Thông thường E.Coli không gây bệnh nhưng trong điều kiện thuận lợi nào đó thì nó sẽ trở thành vi khuẩn gây bệnh. Khả năng gây bệnh của E.Coli: nhiễm đường ruột, tiêu chảy, phần lớn các bệnh nhiễm đường niệu, viêm túi mật, viêm màng bụng, viêm vòi trứng, viêm màng não ở trẻ sơ sinh.

Phương pháp xác định E.Coli: xác định theo TCVN 6187 – 1 – 1996; TCVN 6187 – 2 – 1996.

Tổng số vi sinh vật hiếu khí cũng là một thông số quan trọng để đánh giá chất lượng nước và giúp ta định hướng xử lý nước bằng phương pháp sinh học.


  1. Các phương pháp đánh giá chất lượng môi trường nước

  1. Phương pháp đánh giá chất lượng nước theo các chỉ tiêu hóa học

Mức độ ô nhiễm cũng như chất lượng nguồn nước, nước thải có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu hóa học và vật lý. Người ta có thể dùng các thông tin về nồng độ các chất ô nhiễm để biết được tình trạng vệ sinh của nguồn nước. Hiện nay về phương diện hóa học, mức độ ô nhiễm nước được đánh giá theo 2 phương pháp: đánh giá trực tiếp theo các chỉ tiêu ô nhiễm đặc trưng và đánh giá tổng hợp chất lượng nước.

    1. Đánh giá trực tiếp theo các chỉ tiêu ô nhiễm đặc trưng

Thông qua các thông số chọn lọc, đặc trưng cho nguồn thỉa hoặc yếu tố tác động, người ta có thể phát hiện ra nguy cơ và tình hình ô nhiễm cũng như khả năng sử nước nguồn vào mục đích mong muốn. Thông thường, chỉ tiêu chọn lọc phân tích mẫu nước nguồn là các chỉ tiêu hóa học đặc trưng cho loại chất bẩn, xả vào nguồn gây ô nhiễm nước. Ví dụ, để đánh giá tình trạng ô nhiễm nước do nước thải mạ, người ta phân tích các thông số như CN-, Cr(III), Cr(IV), Ni…trong nước nguồn và so sánh chúng với các mẫu nước lấy trước khi xả thải.

Các thông số chọn lọc để đánh giá ô nhiễm nước có thể xác định theo bảng 2. Phương pháp đánh giá ô nhiễm nước theo các thông số đặc trưng cho ta biết nhanh chóng thông tin về chất lượng nước do một vài yếu tố tác động. Phương pháp này thực hiện đơn giản, ít tốn kém. Tuy nhiên, các thông tin thu được từ phương pháp này còn hạn chế, nhiều lúc không chính xác do số liệu không đầy đủ.

Bảng 2. Các thông số chọn lọc để đánh giá nhanh tình trạng ô nhiễm nước


Vấn đề ô nhiễm cần đánh giá

Các thông số chọn lọc

Ô nhiễm do chất hữu cơ

DO, BOD hoặc COD

Ô nhiễm do chất dinh dưỡng (phú dưỡng)

N-NO3-, tổng N

P-PO43-, tổng P



Ô nhiễm do vi khuẩn

Tổng Coliform, vi khuẩn E. coli

Độ dục của nước

Độ đục, hàm lượng chất lơ lửng

Độchua của nước

pH

Độ mặn của nước

Độ dẫn điện hay tổng các chất rắn hòa tan, SO42-

Dầu mỡ

Tổng lượng dầu khoáng

Kim loại nặng

Cu, Zn, Hg, Cr, Cd, Pb, As…

Các Phênol

Tổng hợp các chất Phênol

Các hóa chất bảo vệ thực vật

Các hợp chất hữu cơ bền vững chứa Clo



    1. Đánh giá tổng hợp chất lượng nước

Để đánh giá tác động tổng hợp của đối tượng gây ô nhiễm cũng như khả năng tự làm sạch, khả năng sử dụng nước nguồn trong mục đích sinh hoạt và sản xuất cần thiết phải phân tích đầy đủ các hông số hóa học chỉ thị môi trường.

Hiện nay người ta đánh giá chất lượng nước mặt (sông, suối, ao, hồ,…) theo 6 mức: nước rất sạch, nước sạch, nước hơi bẩn, nước bị bẩn, nước bẩn nặng và nước rất bẩn. Nồng độ các chất ô nhiễm chính (thông số chỉ thị môi trường) có quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau, sẽ thay đổi theo các mức độ này. Hệ thống đánh giá tổng hợp nguồn nước mặt theo các chỉ tiêu hóa học có thể xác định theo bảng 3.



Bảng 3. Hệ thống đánh giá tổng hợp chất lượng nước mặt

Chỉ tiêu

Trạng thái chất lượng nước

Rất sạch

Sạch

Hơi bẩn

Bẩn

Bẩn nặng

Rất bẩn

pH

7,0 – 8,0

6,5 – 8,5

6,0 – 9,0

5,0 – 9,0

4,0 – 9,5

3,0 - 10

NH4+, mg/l

< 0,05

0,05 – 0,4

0,4 – 1,5

1,5 – 3,0

3,0 – 5,0

> 5.0

NO3-, mg/l

< 0,1

0,1 – 0,3

0,3 – 1,0

1,0 – 4,0

4,0 – 8,0

>8,0

PO43-, mg/l

< 0,01

0,01 – 0,05

0,05 – 0,1

0,1 – 0,15

0,15 – 0,3

>0,3

Độ oxy bão hòa, %

100

100

50 – 90

20 – 50

5 – 20

< 5

COD, mg/l

< 6

6 – 20

20 – 50

50 – 70

70 – 100

>100

BOD5, mg/l

< 2

2 – 4

4 - 6

6 – 8

8 - 10

>10

Để đánh giá sự nhiễm bẩn và chất lượng nguồn nước, cần phải sử dụng số liệu trung bình, thu thập trong thời kì nguồn nước ở trạng thái ô nhiễm tới hạn. Ví dụ đối với các sông hồ tiếp nhận nước thải thành phố, trạng thái chất lượng của chúng phải được đánh giá về mùa khô hoặc tại thời điển đầu mùa mưa, khi nồng độ chất bẩn trong nước thải lớn nhất.

  1. Đánh giá ô nhiễm nước theo phương pháp chỉ thị sinh học

Thành phần loài của một quần thể sinh vật ở nước ở một vùng cụ thể nào đó được xác định bởi các yếu tố môi trường mà các yếu tố này chính là điều kiện cho các quần thể sinh vật đó tồn tại và phát triển. Nếu có một lúc nào đó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, các yếu tố môi trường trở nên gây hại cho một sinh vật nào đó thì sinh vật náy đã phải loại trừ ra khỏi quần thể, kể cả khi các điều kiện gây hại này chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn. Chính điều kiện đã làm cho các sinh vật trở thành vật chỉ thị cho các yếu tố môi trường.

Chất ô nhiễm khi thải vào nước sẽ gây tác hại đến đời sống sinh vật ở nước bằng nhiều cách. Những thay đổi này bao gồm sự gia tăng các chất dinh dưỡng hòa tan, tăng hoặc giảm nồng độ oxy hòa tan, tăng độ đục, thay đôi nền đáy vực nước, tăng nhiệt độ nước, sản sinh ra các chất độc dẫn xuất khác… Mức độ biến đổi và gây hại phụ thuộc vào đặc tính, khối lượng chất ô nhiễm và đặc tính vực nước nhận chất ô nhiễm. Tính chất phục hồi của vực nước một khi nhận các chất ô nhiễm phụ thuộc vào điều kiện sinh thái khác nhau. Theo Kolkwitz và Marsson, khi xả vao nguồn, nước thải sinh hoạt có thể gây nhiễm bẩn sông hồ theo bốn mức độ:



  • Độ nhiễm bẩn polixaprobe (P)

  • Độ nhiễm bẩn α-mezoxaprobe (α-m)

  • Độ nhiễm bẩn β-mezoxaprobe ( β-m)

  • Độ nhiễm bẩn Oligoxaprobe (O)

    1. Độ nhiễm bẩn polixaprobe (P)

Trong vùng nàyđặc trưng hóa học là hàm lượng của các phức hợp phân hủy cao gồm các alumin, polipeptid, cacbonhydrat dẫn xuất từ ô nhiễm nước thải chảy tới.

Nước có hàm lượng chất hữu cơ trong vùng này lớn (BOD5 thường trên 15 mg/l), tích tụ nhiều các khí độc hại là sản phẩm của quá trình phân hủy hiếm khí chất hữu cơ (H2S, CH4…). Hàm lượng oxy hòa tan thấp do tiêu thụ sinh hóa trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ. Oxy xâm nhập vào nguồn nước chủ yếu qua khuếch tán bề mặt. Nito chủ yếu là nitơ amôn và nitơ protein. Trong vùng này không có quang hợp. Vi khuẩn và động vật nguyên sinh là các nhóm phổ biến, dặc biệt là vi khuẩn Bacterium coli rất nhiều nếu bị ô nhiễm hữu cơ. Số lượng vi khuẩn từ hàng trăm nghìn đến hàng triệu đơn vị trong một ml. Cặn đáy có màu đen của FeS. Vi khuẩn dị dưỡng phân hủy chất hữu cơ như Sphaerotilus, vi khuẩn lưu huỳnh Beggiatoa, Thiothris, các loại thảo trùng,…là những vi sinh vật đặc trưng cho vùng nước này.



    1. Độ nhiễm bẩn α-mezoxaprobe (α-m)

Trong vùng này bắt đầu quá trình phân hủy các chất hữu cơ và amôn hóa diễn ra mạnh mẽ. BOD5 dao động từ 6 đến 15 mg/l. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước tăng lên (độ bão hòa có thể tới 50%) do có mặt các vi khuản quang hợp. Trong nước chứa nhiều CO2 tự do. Sự oxy hóa FeS thành Fe2O3 làm cho bùn đổi từ đen sang vàng. Số lượng vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ khoảng vài trăm đơn vị/ml. Vi khuẩn có số lượng cao thường trên 100.000/ml. Động vật nguyên sinh có rất nhiều. Một số loài vi khuẩn và thảo rừng phát triển mạnh. Điển hình là các loại nấm Leptomitus, nấm Carchesium, ấu trùng Brachionus riparius…

    1. Độ nhiễm bẩn β-mezoxaprobe (β-m)

Đặc trưng hóa học của vùng này là quá trình oxy hóa tiếp tục và là khu có chứa các phức hợp NH3 và axit béo. Trong vùng này hầu hết các chất hữu cơ kém bền sinh học đã được khoáng hóa hoàn toàn và BOD5 của nước nằm từ 3 đến 6 mg/l. Trong nước hàm lượng nitrat và nitrit tăng lên. Độ bão hòa oxy trên 50%.hàm lượng oxy hòa yan và CO2 thay đổi theo thời gian trong ngày: ban ngày oxy ở mức bão hòa còn ban đêm thường xảy ra thiếu hụt oxy. Quần thể vi khuẩn và động vật nguyên sinh giảm về số lượng trong khi đó động vật cỡ lớn tăng dần số lượng loài. Số lượng vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ khoảng dam nghìn đến chục nghìn đơn vị/ml và có thể tăng lên và mùa thủy sinh vật chết. Trong nước có nhiều loại thủy sinh vật khác nhau. Trong mùa ấm, phù du thực vật phát triển mạnh nên gây phú dưỡng. Trong bùn xuất hiện ấu trùng muỗi. Tuy nhiên thủy sinh vật đặc trưng cho vùng này là các loài tảo Osillatoria Rubescens, Scenedesmus Quadricauda, trùng bánh xe Vorticella, xạ khuẩn Actinosphaerium…

    1. Độ nhiễm bẩn Oligoxaprobe (O)

Trong vùng này nước bắt đầu phục hồi về trạng thái chất lượng ban đầu. Quá trình khoáng hóa đã hoàn thành. Trong nước chỉ còn lại chủ yếu là chất hữu cơ bền vững. BOD5 của nước ≤ 3 mg/l. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước tương đối ổn định. Tuy nhiêm cũng thường xuống thấp về ban đêm do sự nở hoa của tảo. Vi khuẩn có số lượng ít (dưới 100/ml). Trong nước xuất hiện thực vật bậc cao và cá. Trong bùn đáy ít gặp vi sinh vật tự dưỡng hoặc động vật đáy. Nguồn nước sạch thường được đặc trưng bởi một số loại hồng tảo: Thorea, Batrachospermum, trùng bánh xe Vorticella Nebulifera, trùng Mallomonas Caudata, động vật không xương sống Ephmerrela…

Các nghiên cứu của Liebman (1942), Butcher (1946), Kabler(1957), Patric (1963)… xem vi sinh vật, đặc biệt là vi khuẩn, là thủy sinh vật chỉ thị cho sự ô nhiễm hữu cơ của nguồn nước mặt. Donroff (1957) coi cá là sinh vật chỉ thị cho trạng thái vật lý của vực nước. Tuy nhiên đa số nghiên cứu đều cho thấy rằng các động vật không xương sống cỡ lớn với ưu điểm là dễ thu thập, dễ bảo quản, dễ định loại, có rát nhiều loài với các sức chống chịu khác nhau đối với môi trường… được xem là sinh vật chỉ thị cho các vùng nhiễm bẩn và khả năng tự làm sạch của nguồn nước.

Mức độ ô nhiễm của vực nước được đánh giá chính xác hơn khi xem xét sự xuất hiện nhiều hay ít của các loài sinh vật chỉ thị. Các sinh vật sống ở nước hình thành nên các quần xã sinh vật. Tùy theo chất lượng môi trường mà thì thành phần loài của quần xã và số lượng cá thể của từng quần thể của quần xã sẽ khác nhau. Nước thải chảy vào vực nước sẽ dẫn đến sự giảm sút số lượng các loài nhưng cũng có thể gia tăng số lượng cá thể của những loài chống chịu được. Nhìn chung, sự đa dạng của quần xã giảm khi môi trường bị ô nhiễm. Công thức đơn giản nhất để xác định trạng thía chất lượng nguồn nước theo các quần thể động vật không xương sống cỡ lớn ở đáy được Wilhin đề xuất:

d= S/N


trong đó: S-số lương các loài;

N- tổng số các cá thể;

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nước ta, quá trình phân hủy chất bẩn hữu cơ trong nguồn nước diễn ra rất mạnh. Trên cơ sở nghên cứu tình trạng ô nhiễm nước sông hồ ở các thành phố phía Bắc, Trần Hiếu Nhuệ và Trần Đức Hạ dã hiệu chỉnh hệ thống phan vùng nhiễm bẩn của Kolkwitz và Marsson phù hợp với điều kiện ở Việt Nam (bảng 4).

Bảng 4. Đặc tính các vùng nước nhiễm bẩn trong điều kiện khí hậu nhiệt đới



Các yếu tố chỉ thị

Vùng polyxaprobe (P)

Vùng α-mezoxaprobe (α-m)


Vùng β-mezoxaprobe (β-m)

Vùng oligoxaprobe (O)

Oxy hòa tan

0-1 mg/l

1-3 mg/l

3-5 mg/l, DO giao động theo thời gian trong ngày

>5 mg/l, DO ổn định

BOD5

>40 mg/l

20-40

10-20

< 10

Chế độ phân hủy chất hữu cơ

Yếm khí

Bắt đầu phân hủy hiếu khí tạo NH4+ và NO2-

Phân hủy hiếu khí, bắt đầu nitrat hóa

Chất hữu cơ bền vững cuối đoạn nitrat hóa

Đặc điểm dinh dưỡng

Giàu dinh dưỡng

Giàu dinh dưỡng, nước nở hoa,

Giàu dinh dưỡng, nước nở hoa mạnh

Kết thúc giai đoạn nước nở hoa

Đặc điểm thủy hóa

Tồn tại NH4+ (>10 mg/l), lớp bùn đáy hình thành CH4 và H2S

NH4+ ở mức 8-10 mg/l, bắt đầu xuất hiện NO2-.

NO2-. Và NO3- ở mức vài mg/l

Hàm lượng NO3- một vài mg/l

Đặc điểm thủy sinh

Các loại vui khuẩn dị dưỡng phát triển mạnh

Mật độ vi khuẩn hoại sinh từ hàng chục đến hàng trăm ngàn con/ml

Mật độ vi khuẩn giảm (dăm nghìn vi khuẩn/ml)

Xuất hiện hồng tảo và thủy sinh vật bậc cao



  1. Chỉ số ô nhiễm nước WQI

    1. Định nghĩa

WQI(Water Quality Index) :là một phương tiện có khả năng tập hợp một lượng lớn các số liệu, thông tin về chất lượng nước, đơn giản hóa các số liệu chất lượng nước, để cung cấp thông tin dưới dạng dễ hiểu, dễ sử dụng cho các cơ quan quản lý tài nguyên nước, môi trường và công chúng.

Chỉ số này được tính toán tổng hợp trên nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường nước. Cho người quan sát một đánh giá tổng quan về chất lượng môi trường nước.

Chỉ số chất lượng nước thông thường là một con số nằm trong khoảng từ 1 – 100,nếu chỉ số càng cao nghĩa là chất lượng nước càng tốt.Tùy vào từng phương pháp mà các chỉ số này biểu thị chất lượng nước khác nhau.Nhìn vào các chỉ số này người xem sẽ dễ dàng nhân biết, xếp hạng, so sánh chất lượng nước ở các điểm phân tích một cách dễ dàng.

Theo bộ tài nguyên môi trường thì: Chỉ số chất lượng nước là một chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đó; được biểu diễn qua một thang điểm.

Các chỉ số này được đánh giá qua các thông số (WQISI).


    1. Sự ra đời

    2. Ưu điểm và nhược điểm

  • Ưu điểm:

  • Đánh giá nhanh chất lượng nước mặt lục địa một cách tổng quát

  • Có thể được sử dụng như một nguồn dữ liệu để xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước

  • Cung cấp thông tin môi trường cho cộng đồng một cách đơn giản, dễ hiểu, trực quan.

  • Nâng cao nhận thức về môi trường.



  • Nhược điểm: WQI chỉ đánh giá một cách khái quát chất lượng nước cho một lưu vực, một dòng sông, một hồ nước cụ thể. WQI không phải là tiêu chuẩn, hoặc quy chuẩn kỹ thuật.

Qua hệ thống WQI chúng ta sẽ quản lý được chất lượng nước tại từng thời điểm, từng khu vực cụ thể, các cơ quan chức năng có thể dựa vào đó để đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục chất lượng nước cho phù hợp với từng mục đích sử dụng. Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia hệ thống này được đánh giá là có hiệu quả cao trong bảo vệ tài nguyên nước.

    1. Nguyên tắc đánh giá

- Bảo đảm tính phù hợp;

- Bảo đảm tính chính xác;

- Bảo đảm tính nhất quán.

- Bảo đảm tính liên tục;

- Bảo đảm tính sẵn có;

- Bảo đảm tính có thể so sánh.



    1. Phương pháp đánh giá

Tính toán các thông số về chất lượng nước sau đó sử dụng các thông số này thông qua thang điểm WQI để đánh giá chất lượng môi trường nước.

Khi tính toán các thông số về chất lượng nước cần phải thực hiện các yêu cầu sau:



  • WQI được tính toán riêng cho số liệu của từng điểm quan trắc.

  • WQI thông số được tính toán cho từng thông số quan trắc. Mỗi thông số sẽ xác định được một giá trị WQI cụ thể, từ đó tính toán WQI để đánh giá chất lượng nước của điểm quan trắc.

  • Thang đo giá trị WQI được chia thành các khoảng nhất định. Mỗi khoảng ứng với một mức đánh giá chất lượng nước nhất định.

Để tính toán các giá trị WQI theo thông số chúng ta cần thu thập, tập hợp số liệu quan trắc, lựa chọn các thông số phù hợp để đánh giá. Sau đó áp dụng các công thức để tính toán WQI. Cuối cùng so sánh các WQI với bảng các mức đánh giá chất lượng nước.
1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương