Khái niệm ô nhiễm môi trường nước



tải về 303.15 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu01.11.2017
Kích303.15 Kb.
  1   2   3

  1. Khái niệm ô nhiễm môi trường nước

  1. Khái niệm

Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người.

Nước bị ô nhiễm khi tính chất lý học, hóa học và điều kiện vi sinh của nước bị thay đổi. sự thay đổi này có tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.

Hiến chương Châu Âu định nghĩa ô nhiễm môi trường nước như sau:

Sự ô nhiễm nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp, cho nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi – giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loài hoang dại.

Việc thải các chất thải hoặc nước thải vào môi trường nước sẽ gây ra ô nhiễm nước về mặt vật lý, hóa học, hữu cơ, nhiệt hoặc phóng xạ. việc thải đó không được gây nguy hiểm đối với sức khỏe cộng đồng và phải tính đến khả năng đồng hóa các chất thải của nước (khả năng tự pha loãng, tự làm sạch..) những hoạt động kinh tế, xã hội của các cộng đồng. những biện pháp xử lí nước đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề này.


  1. Nguồn gây ô nhiễm

Sự ô nhiễm nước có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo:

Sự ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên là do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt, nhiễm phèn, nhiễm mặn, núi lửa, động đất… nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, đường phố đô thị, khu công nghiệp…kéo theo các chất bẩn lắng xuống sông, ao, hồ hoặc các sản phẩm của hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng..

Sự ô nhiễm nhân tạo:

Chủ yếu do xả nước thải từ các vùng dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón trong nông nghiệp vào trong môi trường nước. Những hoạt động sống của con người rất đa dạng và gây ô nhiễm nước và gây ô nhiễm nước thường xuyên và rất phong phú. Những tác động đó có thể là hiện tượng thải nước thải vào môi trường, có thể là hiện tượng tràn dầu, dịch bệnh hoặc chiến tranh, vận tải và sản xuất nông nghiệp.Toàn bộ quá trình đó được mô tả trên hình:




Tác động của điều kiện tự nhiên



Hiện tượng khác

mưa

Núi lửa

Động đất



Nước tự nhiên



Nước thải

Tràn dầu

Hoạt động khác



Tác động của điều kiện tự nhiên

Hình 1: Nguồn ô nhiễm nước



Bảng 1: Một số thành phần cơ bản của nước thải đô thị

Nguồn thải

Thành phần

Ảnh hưởng trong nước

Hầu hết các chất hữu cơ, chât cặn bã do người

Các chất có nhu cầu oxy

Tiêu thụ oxy hòa tan

Chất thải công nghiệp và sản phẩm sinh hoạt

Các chất hữu cơ ít khả năng phân hủy

Độc hại cho thủy sinh vật

Chất thỉa từ cơ thể người

Vi khuẩn truyền bệnh, virut

Gây bệnh lây lan, ngăn cản quá trình tái sinh nước

Chất tẩy rửa sinh hoạt

Chất tẩy rửa

Thiếu thẩm mỹ, cản trở quá trình vận chuyển oxy, độc hại cho sinh vật

phosphat

Làm chất dinh dưỡng cho các loài rong tảo

Nhà bếp, xí nghiệp chế biến thực phẩm, chất thỉa công nghiệp

Dầu mỡ

Mất thẩm mỹ, độc hại cho sinh vật

Kim loại nặng

Độc hại cho sinh vật

Các muối

Tăng độ muối trong nước

Các hợp chất hữu cơ

Vận chuyển và hòa tan ion kim loại nặng



  1. Các thông số đánh giá ô nhiễm môi trường nước

  1. Thông số vật lý

    1. Nguồn gây ô nhiễm

  • Các nhà máy có sử dụng lò hơi: Làm thay đổi nhiệt độ trong nước. Nhiệt độ cao trong nước sẽ tiêu diệt vi sinh vật và các loài thủy sinh khác, làm giảm khả năng tự là sạch của nước. Nhiệt độ thấp trong nước làm hạn chế sự phát triển và các chuyển hóa trong nước.

  • Các nhà máy hóa chất, thực phẩm: làm thay đổi pH trong nước, làm thay đổi thành phần vi sinh vật trong nước, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của chúng trong nước.

  • Các nhà máy nhuộm, các nhà máy luyện kim màu, các nhà máy thực phẩm, hóa chất: làm thay đổi màu sắc của nước, ảnh hưởng đến cảnh quan và quá trình quang hợp, quá trình hòa tan oxy.

    1. Các thông sô đánh giá

  1. Độ pH

  • pH là đơn vị biểu thị nồng độ ion H+ có trong nước được tính theo công thức Sorenson:

pH= - log[H+]

pH là một trong những thông số quan trọng và được sử dụng thường xuyên nhất trong hóa nước, dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm nguồn nước, chất lượng nước ngầm, nước thải, đánh giá độ cứng của nước, sự keo tụ, khả năng ăn mòn… và nhiều tính toán cân bằng axit – bazơ. pH có giá trị từ 0 đến 14. Giá trị của nó chỉ ra mức độ axit (khi pH < 7) hoặc kiềm (khi pH > 7), thể hiện ảnh hưởng của hóa chất khi xâm nhập vào môi trường nước. Giá trị pH thấp hay cao đều có ảnh hưởng nguy hại đến thủy sinh.



  • Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam quy định giá trị pH của một số nguồn nước nằm trong khoảng từ 5 đến 9.

pH là một chỉ tiêu quan trọng đối với mỗi giai đoạn trong kĩ thuật môi trường. Trong lĩnh vực cấp nước, phải xem xét giá trị pH trong các quá trình như đông tụ hóa học, sát trùng, làm mềm nước, kiểm soát ăn mòn. Trong quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học, phải khống chế pH trong phạm vi thích hợp đối với những vi sinh vật liên quan:

  • Hầu hết các vi sinh khuẩn có pH tối ưu nằm gần trung tính và các giá trị pH cực đại và cực tiểu tương ứng gần 5 và 9.

  • Hầu hết các loại nấm ưa thích môi trường axid, có ác giá trị pH cực tiểu từ 1 đến 3 với giá trị ph tối ưu xấp xỉ 5.

  • Hầu hết vi khuẩn xanh lục có pH tối ưu lớn hơn 7.

  • Hầu hết động vật đơn bào có khả năng phát triển trong khoảng pH từ 5 – 8 , với giá trị pH tối ưu gần 7.

  • Phương pháp xác định pH: đo bằng máy đo theo:

  • TCVN 4559 – 1998

  • TCVN 6492 – 1999

  1. Nhiệt độ

  • Nhiệt độ có ảnh hưởng đến sự hòa tan oxy, đến khả năng tổng hợp quang hóa của tảo và các thực vật thủy sinh. Nhiệt độ ảnh hưởng đến độ pH, đến các quá trình hóa học và sinh hóa xảy ra trong nước. Nhiệt độ phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xung quanh, vào thời gian trong ngày, vào mùa trong năm… Trong ao hồ, nhiệt độ nước phụ thuộc vào độ sâu. Hoạt động của con người cũng có thể làm tăng nhiệt độ của nước và gây ra các tác đông sinh thái nhất định. Việc chặt cây cối bên bờ làm cho ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp xuống nước, sự xói mòn đất, phá rừng, xây dựng nhà cửa…gây đục nước làm cho khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời tăng lên, xả nước thải làm nguội thiết bị nhiệt điện… làm tăng nhiệt độ nước sông hồ. Nhiệt độ cần được xác định tại chỗ (tại nơi lấy mẫu).

  • Mỗi loài sinh vật có khả năng phát triển trong một khoảng nhiệt độ phù hợp với chúng, ngoài phạm vi nhiệt độ này chúng không thể phát triển được, thậm chí không tồn tại được. Như vậy, nhiệt độ là một yếu tố quan trọng quyết định loài sinh vật nào tồn tại và phát triển một cách ưu thế trong hệ sinh thái nước. Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến tốc độ và dạng phân hủy các hợp chất hữu có trong nước, nồng độ oxy hòa tan và dây chuyền thức ăn.

  • Chế độ phân bố nhiệt độ trong nước cũng là điều quan trọng. Đối với các dòng sông, do nước chảy nên xáo trộn trường xuyên xảy ra sự chênh lệch nhiệt độ giữa các lớp nước có độ sâu khác nhau và không đáng kể. Đối với các thể nước tĩnh như hồ chứa thì sự phân tầng nhiệt (đặc biệt về mùa hè) là điều quan trọng.

  • Thông số nhiệt độ được dùng để tính các dạng độ kiềm, để nghiên cứu mức độ bão hòa oxy, cacbonat, tính toán độ muối và các hoạt động thí nghiệm khác. Yếu tố nhiệt độ cũng rất cần thiết khi chuyển các đại lượng đo đạc hiện trường về điều kiện tiêu chuẩn.

  • Ở Việt Nam, nhiệt độ trong nước được xác định theo phương pháp:

TCVN 4557 – 1998 sử dụng máy đo tại hiện trường.

  1. Màu sắc

  • Nước nguyên chất không có màu. Màu sắc gây nên bởi các tạp chất trong nước (thường là do chất hữu cơ (chất mùn hữu cơ – acid humic), một số ion vô cơ (sắt…), một số loài thủy sinh vật…Màu sắc mang tính chất cảm quan và gây nên ấn tượng tâm lý cho người sử dụng.
    Độ màu thường được so sánh với dung dịch chuẩn trong ống Nessler, thường dùng là dung dịch K2PtCl6+ CaCl2 (1 mg K2PtCl6 tương đương với 1 đơn vị chuẩn màu). Độ màu của mẫu nước nghiên cứu được so sánh với dãy dung dịch chuẩn bằng phương pháp trắc quang.

  • Những thành phần gây màu chủ yếu trong nước: chất manh màu sinh ra do sự tiếp xúc của nước với các mảnh vụn vỡ hữu cơ của lá cây, gỗ,…trong mọi giai đoạn phân hủy, sự phân hủy lignin tạo ra tannin, acid humic, các humat,…

  • Màu sắc tự nhiên tồn tại trong nước phần lướn dưới dạng các hạt keo mang điện tích âm nên có thể loại bỏ màu tự nhiên bằng cách gây đông tụ bởi một muối của ion kim loại hóa trị 3 như Al hay Fe. Có 2 loại màu sắc trong nước là màu biểu kiến (do các chất hữu cơ lơ lửng mang màu gây ra) và màu thực (do chất hữu cơ dưới dạng keo gây ra). Cường độ màu tăng lên theo sự tăng của pH.

  • Ý nghĩa của màu sắc của nước thể niện ở các điểm:

  • Mỹ quan: Khi nước có màu, giá trị thẩm mỹ của nước bị giảm. Các chất hữu cơ có màu trong nước có thể tác dụng với Clo, trong quá trình khử trùng nước bằng Clo sẽ tạo ra những hợp chất có tính độc như Cloroform.

  • Kinh tế: Nhiều ngành sản xuất ccông nghiệp cần dung đến nước không có màu. Loại trừ màu trong nước rất tốn kém kinh phí đầu tư cơ bản và chi phí vận hành, vì vậy, chỉ nên xử lý nước có màu để sử dụng khi không thể tìm được nguồn cấp nước khác.

  • Trong xử lý màu: Khi cần xử lý màu của nước thì các số liệu màu sắc của nước được dung cùng với các thông tin khác đẻ quyết định mức độ xử lý, loại và liếu lượng hóa chất cần dùng. Trong quá trình vận hành thiết bị xử lý màu thì việc xác định màu của nước ban đầu và nước sau khi xử lí dùng để hiệu chỉnh liều lượng hóa chất nhằm làm cho việc xử lý đạt cả yêu cầu về kinh tế và kĩ thuật.

  • Màu sắc của nước được xác định theo phương pháp Standard methods for the examination of wate and wastewaters (SMWW 2100-Color).

  • Nước mặt: phương pháp so màu bằng mắt

  • Nước mặt, nước thải công nghiệp: phương pháp so màu quang điện



  1. Hàm lượng chất rắn

Những thành phần tồn dư sau khi làm bay hơi và sấy khô ở 130oC – 150oC đều được xem là chất rắn.

  • Tổng hàm lượng chất rắn (Total Solid-TS)

Các chất rắn trong nước có thể là những chất tan hoặc không tan. Các chất này bao gồm cả những chất vô cơ lẫn các chất hữu cơ. Tổng hàm lượng các chất rắn là lượng khô tính bằng mg của phần còn lại sau khi làm bay hơi 1 lít mẫu nước trên nồi cách thủy rồi sấy khô ở 105oC tới khi khối lượng không đổi (đơn vị tính bằng mg/L).

  • Tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng (Suspension Solid-SS)

Các chất rắn lơ lửng (các chất huyền phù) là những chất rắn không tan trong nước. Việc nhiên cứu chất rắn lơ lửng đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu hiện tượng ô nhiễm nước. Hàm lượng các chất lơ lửng là lượng khô của phần chất rắn còn lại trên giấy lọc sợi thủy tinh khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc rồi sấy khô ở 105oC cho tới khi khối lượng không đổi. Đơn vị tính là mg/L. Số liệu về chất rắn lơ lửng là một trong những thông số dùng để đánh giá cường độ nước sinh hoạt và đánh giá hiệu quả của thiết bị xử lý.

Phương pháp xác định:



  • Phương pháp khối lượng sau khi lọc, sấy mẫu ở nhiệt độ 150oC đến khối lượng không đổi theoTCVN 4560 – 1988 .

  • Công thức hàm lượng:

(m2 – m1) – ( m2t – m1t)

SS (mg/l) = × 1000



V (ml)

  • Tổng hàm lượng chất rắn hoà tan (Diluted Solid-DS)

Các chất rắn hòa tan là những chất tan được trong nước, bao gồm cả chất vô cơ lẫn chất hữu cơ. Hàm lượng các chất hòa tan DS là lượng khô của phần dung dịch qua lọc khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc có giấy lọc sợi thủy tinh rồi sấy khô ở 105oC khi khối lượng không đổi. Đơn vị tính là mg/L.
DS = TS – SS

  • Tổng hàm lượng các chất dễ bay hơi (VS)

Để đánh giá hàm lượng các chất hữu cơ có trong mẫu nước, người ta còn sử dụng các khái niệm tổng hàm lượng các chất không tan dễ bay hơi (VSS : Volatile Suspended Solids), tổng hàm lượng các chất hòa tan dễ bay hơi (VDS : Volatile Dissolved Solids).
Hàm lượng các chất rắn lơ lửng dễ bay hơi VSS là lượng mất đi khi nung lượng chất rắn huyền phù (SS) ở 550oC cho đến khi khối lượng không đổi (thường được qui định trong một khoảng thời gian nhất định)
Hàm lượng các chất rắn hòa tan dễ bay hơi VDS là lượng mất đi khi nung lượng chất rắn hòa tan (DS) ở 550oC cho đến khi khối lượng không đổi (thường được qui định trong một khoảng thời gian nhất định).

  1. Độ đục

  • Độ đục của nước là mức độ ngăn trở ánh sáng xuyên qua nước do các chất lơ lửng gây ra.

  • Nguyên nhân gây ra độ đục của nước là do sự có mặt của các chất rắn lơ lửng, các hạt keo sét, cát hoặc các chất vô cơ, hữu cơ phân tán tinh, xác sinh vật, phù du, tập đoàn vi sinh…nguồn gốc từ các quá trình xói mòn, rửa trôi đất, xả nước thải và phú dưỡng sông hồ.

  • Nước có độ đục cao làm tăng khả năng hấp thụ ánh sáng do đó làm tăng nhiệt độ nước dẫn đến làm mất tính đa dạng thủy sinh, đồng thời làm giảm khả năng truyền qua của ánh sáng dẫn đến làm giảm quá trình tổng hợp quang hóa, gây giảm oxy hòa tan. 1 đơn vị độ đục là sự cản quang gây ra bởi 1 mg SiO2 hòa trong 1 lít nước cất. Độ đục được đo bằng máy đo độ đục (đục kế – turbidimeter). Đơn vị đo độ đục theo các máy do Mỹ sản xuất là NTU (Nephelometric Turbidity Unit).

  • Độ đục là một chỉ tiêu quan trọng trong cấp nước sinh hoạt vì:

  • Mỹ quan: độ đục lớn, giá trị thẩm mỹ của nước giảm nên giá trị sinh hoạt của nước cũng giảm. Mặt khác, bất kỳ một độ đục nào của nước cũng được coi một cách tự nhiên là gắn liền với khả năng ô nhiễm nước thải, dẫn tới nguy hại về mặt y tế.

  • Khả năng lọc: độ đục của nước tăng thì quá trình lọc nước sẽ khó khăn và tốn kém (làm giảm thời gian làm việc của thiết bị lọc và lam tăng chi phí rửa).

  • Quá trình khử trùng: khi nước có độ đục lớn thì nhiều vi sinh vật gây bệnh có thể hấp thụ lên các hạt lơ lửng, có thể tránh được tác dụng của các tác nhân khử trùng (Clo hoặc ozon) nên không bị tiêu diệt. Vì vậy người ta phải quy định gí trị độ đục lớn nhất cho phép đối với cấp nước

  • Trong xử lý nước: có quá trình đông tụ hóa học nên việc đo đạc độ đục được sử dụng để xác định hiệu quả xử lý đối với các hóa chất và liều lượng khác nhau đem dùng. Độ đục được dùng làm cơ sở cho việc lựa chọn hóa chất dùng với yêu cầu có hiệu quả và tiết kiệm nhất. Việc đo độ đục giúp xác định lượng hóa chất cần dùng hàng ngày trong vận hành các nhà máy xử lý nước và để kiểm tra sự sai sót trong vận hành thiết bị lọc.

  • Phương pháp xác định: Đo bằng máy đo độ đục với các thang đo NTU hoặc FTU theo TCVN 6184 – 1996



  1. Thông số hóa học

    1. Nguồn gây ô nhiễm

Ô nhiễm nước hóa học gây ra do nước thải sinh hoạt, hoạt dộng trồng trọt, chăn nuôi, các nhà máy thực phẩm, các khu khai thác dầu, lọc dầu, các nhà máy phân bón thuốc trừ sâu, nhà máy hóa chất, công nghiệp thuộc gia làm giấy, chất tẩy rửa, hoạt đọng khai thác khoáng sản,…

    1. Các thông số đánh giá

  1. Độ acid

  • Độ acid cuả một loại nước là khả năng nhường proton của nước đó. Độ acid được đo bằng mg/l tính theo CaCO3. Nguyên nhân gây ra độ acid trong nước là các acid yếu (acid carbonic, acid tanic,…), các muối chịu sự thủy phân: FeSO4, Al2(SO4)3,…, các acid mạnh ( khi pH của nước < 4.5).

  • Nguồn phát sinh CO2:

  • CO2 có thể đi vào nước do khuếch tán từ không khí

  • Sinh ra trong nước do sự oxy hóa sinh học chất hữu cơ, đặc biệt là trong nước bị ô nhiễm.

  • Nước ngầm và nước vùng yếm khí của hồ phân tầng nhiệt thường chứa lượng lớn CO2 do CO2 là một sản phẩm cuối cung của quá trình oxy hóa sinh học trong cả điều kiện háo khí và yếm khí.

  • Nguồn phát sinh acid vô cơ trong nước:

  • Có trong chất thải công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp luyện kim, công nghiệp sản xuất các chất hữu cơ tổng hợp.

  • Nước tiêu từ các mỏ đã ngừng hoạt động, chứa những lượng lớn acid sunfuric hay các muối sulfat nếu trong các vùng mỏ này có sulfua, sulfit hay pyrit sắt (các thành phần này bị chuyển hóa thành acid sunfuric do các vi khuẩn oxy hóa lưu huỳnh trong điều kiện hóa khí gây nên).

3S + 3O2 + 2H2O 2H2SO4

FeS2 + 3,5O2 + H2O FeSO4 + H2SO4



  • Độ acid của nước là một yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát tính ăn mòn đối với các loại vật liệu. thành phần ăn mòn trong hầu hết các loại nước là CO2, trong nhiều loại nước thải công nghiệp lại là do các acid vô cơ gây nên. Trong quá trình làm mềm nước bằng phương pháp Na2CO3 thì CO2 là một yếu tố được đề cập khi tính lượng hóa chất dùng. Trong các quá trình xử lý nước bằng sinh học, độ acid được dùng làm cơ sở cho việc tính toán lượng các hóa chất thích hợp vần dùng để diều chỉnh pH nằm trong phạm vi thuận lợi cho vi sinh vật hoạt động.

  • Hầu hết các loại nước thải công nghiệp có độ acid vô cơ phải được trung hòa nước khi thải ra sông hay hệ thống thoát nước hoặc qua một quá trình xử lý nào đó. Khối lượng hóa chất cần dùng, chi phí và những vấn đề liên quan khác được dùng xác định bằng thực nghiệm dựa trên số liệu đo đạc độ acid.

  • Phương pháp xác định: chuẩn độ bằng dung dịch NaOH với chỉ thị Phenolphtalein và Metyl cam.



  1. Độ kiềm

Độ kiềm của một loại nước là khả năng tiếp nhận protoncủa nước đó. Độ kiềm được đo bằng mg/l tính theo CaCO3.

Độ kiềm toàn phần (Alkalinity) là tổng hàm lượng các ion HCO3-, CO32-, OH- có trong nước. Độ kiềm trong nước tự nhiên thường gây nên bởi các muối của acid yếu, đặc biệt là các muối carbonat và bicarbonat. Độ kiềm cũng có thể gây nên bởi sự hiện diện của các ion silicat, borat, phosphat… và một số acid hoặc baz hữu cơ trong nước, nhưng hàm lượng của những ion này thường rất ít so với các ion HCO3-, CO32-, OH- nên thường được bỏ qua.



Nguyên nhân gây ra
Nguồn gốc gây nên độ kiềm: Nguồn gốc tự nhiên là CO2 làm các thành phần có tính kiềm trong đất ( CO2 + CaCO3 + H2O Ca(HCO3)3 ), sự phát triển của tảo làm giảm hàm lượng CO2 nên pH của nước tăng lên. Nguồn gốc nhân tạo là các nguồn nước thải khác nhau.
Khái niệm về độ kiềm (alkalinity – khả năng trung hòa acid) và độ acid (acidity – khả năng trung hòa baz) là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá động thái hóa học của một nguồn nước vốn luôn luôn chứa carbon dioxid và các muối carbonat.
Xét một dung dịch chỉ chứa các ion carbonat HCO3- và CO32- Ở các giá trị pH khác nhau, hàm lượng carbonat sẽ nằm cân bằng với hàm lượng CO2 (cân bằng carbonat) vì trong nước luôn diễn ra quá trình :
2HCO3- ↔ CO32- + H2O + CO2

CO32- + H2O ↔ 2OH- + CO2


Giả sử ngoài H+ ion dương có hàm lượng nhiều nhất là Na+ thì ta luôn luôn có cân bằng sau :
[H+ ] + [Na+ ] = [HCO3-] + 2[CO32- ] + [OH- ]
Độ kiềm được định nghĩa là lượng acid mạnh cần để trung hòa để đưa tất cả các dạng carbonat trong mẫu nước về dạng H2CO3.Như vậy ta có các biểu thức :
[Alk] = [Na+ ]
Hoặc [Alk] = [HCO3-] + 2[CO32-] + [OH- ] + [H+ ]
Người ta còn phân biệt độ kiềm carbonat (còn gọi là độ kiềm m hay độ kiềm tổng cộng T vì phải dùng metyl cam làm chất chỉ thị chuẩn độ đến pH = 4,5; liên quan đến hàm lượng các ion OH-, HCO3- và CO32- với độ kiềm phi carbonat (còn gọi là độ kiềm p vì phải dùng phenolphtalein làm chất chỉ thị chuẩn độ đến pH = 8,3; liên quan đến ion OH-). Hiệu số giữa độ kiềm tổng m và độ kiềm p được gọi là độ kiềm bicarbonat.
Trên sơ đồ cân bằng carbonat trong nước cho thấy, ở pH = 6,3, nồng độ CO2 hòa tan trong nước và nồng độ ion HCO3- bằng nhau, còn ở pH = 10,3 thì nồng độ các ion HCO3- và CO32- sẽ bằng nhau. Ở pH < 6,3 các ion carbonat chuyển sang dạng CO2 hòa tan, ở pH > 10,3 dạng tồn tại chủ yếu là dạng CO32- còn trong khoảng 6,3 < pH < 10,3 dạng tồn tại chủ yếu là HCO3-.
Tùy từng nước qui định, độ kiềm có những đơn vị khác nhau, có thể là mg/L, đlg/L (Eq/L) hoặc mol/L. Trị số độ kiềm cũng có thể qui đổi về một hợp chất nào đó, ví dụ Đức thường qui về CaO, Mỹ thường qui về CaCO3. Khi tính theo CaCO3, cách tính được thực hiện như sau :
mg CaCO3/L = đương lượng gam CaCO3/đương lượng gam ion (mg ion/L).

Phương pháp xác định độ kiềm: Chuẩn độ bằng dung dịch acid sulfuric với chỉ thị phenolphtalein (độ kiềm phenlphtalein) và metyl cam (độ kiêmg tổng số).





  1. Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương