Kì thi học kì I năm họC 2016 – 2017



tải về 40.78 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích40.78 Kb.

KÌ THI HỌC KÌ I NĂM HỌC 2016 – 2017

MA TRẬN ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN - LỚP 11 CHUYÊN

Mức độ

Chủ đề

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng

Tổng

Thấp

Cao

Nghị luận xã hội










Vận dụng khả năng sử dụng các thao tác lập luận để viết bài nghị luận về vấn đề xã hội




Số câu

Số điểm


Tỉ lệ










1

4.0


40%

1

4.0


40%

Nghị luận văn học










Vận dụng kiến thức lí luận về phong cách nghệ thuật; hiểu biết về VHVN 1930 - 1945; kỹ năng tạo lập văn bản để viết một văn bản nghị luận.




Số câu

Số điểm


Tỉ lệ










1

6.0


60%

1

6.0


60%

Tổng số câu

Tổng số điểm

Tỉ lệ











2

10

100%



2

10

100%





TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG

ĐỀ CHÍNH THỨC

(Đề thi gồm 01 trang)


ĐỀ THI HỌC KÌ I

NĂM HỌC: 2016 - 2017

Môn thi: NGỮ VĂN 11. Khối : CHUYÊN

Thời gian làm bài: 150 phút

(Không kể thời gian giao đề)



Câu 1 (4.0 điểm)

Con người ngày càng trở nên cô đơn hơn bởi thay vì xây những cây cầu, người ta lại dựng những bức tường.

Theo anh/chị, internet là cây cầu hay bức tường ? Viết bài văn nghị luận trình bày ý kiến của cá nhân anh/chị.


Câu 2 (6.0 điểm)

Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng của mình, tìm thấy những ấn tượng có các giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có màu sắc riêng.(M. Gorki)

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy bình luận và làm sáng tỏ “cái riêng” của một số nhà thơ trong phong trào Thơ mới Việt Nam 1932 -1945 .



-------HẾT------

HƯỚNG DẪN CHẤM

Câu 1 (4,0 điểm)

Yêu cầu chung

  • Về nội dung: Hiểu vấn đề nghị luận, có kĩ năng vận dụng các thao tác lập luận, diễn đạt trôi chảy, có cảm xúc.

  • Về hình thức: Biết trình bày một bài văn nghị luận phù hợp với yêu cầu đề bài.

Yêu cầu cụ thể

1. Giới thiệu nội dung nghị luận

2. Giải thích (0,5 điểm)

- Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau.

- Cây cầu: hình tượng về sự gặp gỡ, giao lưu, kết nối giữa con người với con người, con người với các giá trị, hóa giải nỗi cô đơn, cuộc sống trở nên ấm áp, có ý nghĩa.

- Bức tường: Hình tượng về giới hạn, sự ngăn cách, phân chia, đặt con người vào giới hạn tù túng, đẩy con người xa nhau khiến họ cô đơn trong cuộc sống.

=> Cái lợi và cái hại, cái được và cái mất do internet mang lại.



3. Bàn luận (3,0 điểm)

Chấp nhận những cách triển khai khác nhau, song cần chú ý bám sát và làm rõ định hướng bàn luận. Sau đây là một đề xuất:



a. Internet là cây cầu nếu biết sử dụng, bởi:

- Bắc nhịp để con người đến thế giới thông tin trên mọi lĩnh vực, mở rộng tầm nhìn

- Bắc nhịp để con người đến bến bờ tri thức, nâng cao trí tuệ

- Bắc nhịp để con người đến bến bờ tình cảm, mở rộng và làm phong phú thêm thế giới tinh thần.



  • Internet là công cụ tuyệt vời, là cây cầu lý tưởng bắc nhịp cho ta đến được nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, biết được nhiều điều, sống nhiều cuộc đời, thậm chí đổi thay cả cách chúng ta nghĩ và sống.

b. Intetnet là bức tường nếu lạm dụng, bởi:

  • Ngăn cách con người với cuộc sống thực, dễ tước đi những mối quan hệ thật, với những tình cảm, cảm xúc thật của cuộc sống.

  • Ngăn cách con người với cuộc sống thực, thu mình trong thế giới ảo dễ khiến con người ngại tiếp xúc, ít giao lưu, kĩ năng sống bị thui chột...

4. Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm)

  1. Phải nhận thức được internet chỉ là công cụ, phương tiện.

  2. Phải có cách sử dụng đúng đắn, phù hợp.

  3. Phải có lối sống lành mạnh, tích cực và có ý thức vun xới cho các mối quan hệ mang nhân tình, nhân tính ...

Câu 2

a. Yêu cầu chung: Biết làm bài NLVH; vận dụng tốt các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh văn học; biết kết hợp kiến thức lí luận với kiến thức về tác giả, tác phẩm để bàn luận, đánh giá; văn viết có hình ảnh và giàu cảm xúc, có giọng điệu riêng.

b. Yêu cầu cụ thể:

Chấp nhận những cách triển khai khác nhau, song cần bám sát yêu cầu của đề và phải hợp lí, đúng hướng.



1. Giải thích (1.0 điểm)

- Ấn tượng riêng: cách nhìn, cách cảm thụ mang tính chất phát hiện, khám phá về đời sống.

- Màu sắc riêng: các phương thức biểu hiện, thủ pháp kĩ thuật có tính sáng tạo, độc đáo, mang dấu ấn cá nhân.

-> Nội dung nhận định: Người nghệ sĩ phải có cách thức riêng khi tiếp cận và thể hiện đời sống; phải có cá tính sáng tạo, khẳng định được phong cách nghệ thuật của mình.

2. Bình luận (4.0 điểm)

2.1. Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng của mình, tìm thấy những ấn tượng có các giá trị khái quát.

- Đối tượng phản ánh của văn học là đời sống con người. Đó là mảnh đất phong phú phức tạp và luôn vận động, biến đổi; vì vậy mỗi nghệ sĩ cần có cách thức tiếp cận và khám phá riêng nhằm đem đến cho người đọc góc nhìn và những thông tin mới mẻ. Đây là dấu hiệu định hình phong cách nhà văn.

- Muốn có “ấn tượng riêng”, nghệ sĩ phải nhạy cảm khi lắng nghe đời sống; bản lĩnh khi tiếp cận con người; thể hiện được quan điểm và tư tưởng của mình trước các vấn đề của hiện thực… Vì vậy, những “ấn tượng riêng” của nghệ sĩ không đồng nghĩa với sự lập dị mà có giá trị khái quát, hướng tới “nâng sự sống lên”.

- Phân tích cách nhìn, cách cảm thụ đời sống riêng của các nhà thơ trong phong trào thơ Mới: HS có thể chọn 2 – 3 tác giả để phân tích

+ Xuân Diệu nhìn đời sống bằng nỗi ám ảnh thời gian và niềm khát khao giao cảm mãnh liệt với cuộc đời, con người nên thơ bắt rễ vào cuộc đời trần thế, thể hiện quan niệm thẩm mĩ và quan niệm nhân sinh mới mẻ (coi con người là chuẩn mực của cái đẹp, giục giã con người sống vội vàng để tận hưởng từng khoảnh khắc của cuộc đời…)

+ Huy Cận cảm nhận cuộc đời từ niềm khắc khoải không gian nên thơ khám phá sự tương giao giữa con người và vũ trụ, nỗi buồn trong thơ HC vừa là nỗi buồn về sự hữu hạn của kiếp người trước vô tận thời gian không gian vừa là nỗi buồn bơ vơ của cái tôi cô đơn lạc lõng trước cuộc đời….

+ Nguyễn Bính cảm nhận đời sống từ nỗi bất an cái tôi chân quê về sự mai một của văn hóa truyền thống, sự xâm lăng của văn minh đô thị; nhà thơ gợi lại “hồn xưa đất nước”, thấy nỗi niềm của mình trong nỗi đau và sự dở dang lỡ làng của những trai làng, thôn nữ…

+ Hàn Mặc Tử cảm nhận đời sống bằng cảm xúc đau thương nên thế giới nghệ thuật thơ dù trong trẻo thanh khiết hay kì dị ma quái đều là tiếng vọng của một tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời trần thế…

->Mỗi nhà thơ có một ấn tượng riêng về hiện thực đời sống nhưng họ gặp nhau ở giao điểm: ý thức sâu sắc về cá nhân, cô đơn, khát khao giao cảm với cuộc sống con người.

2. Nghệ sĩ phải biết làm cho những ấn tượng của mình có màu sắc riêng.

- Bản chất lao động nghệ thuật là lao động sáng tạo; sáng tác của nghệ sĩ mang tính chủ quan, cá thể hóa cao độ. Nhà văn phải in dấu cái tôi của mình trong câu chữ, hình tượng, giọng điệu để đem đến cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ mới. Đó cũng là những biểu hiện của phong cách nhà văn.

- Muốn trang viết có “màu sắc riêng”, ngoài tài năng, nghệ sĩ cần nỗ lực, công phu trong lao động nghệ thuật để khẳng định bản thân và đóng góp cho sự phát triển của nền văn học.

- Phân tích cách thể hiện sáng tạo độc đáo của các nhà thơ trong phong trào thơ Mới

+ Xuân Diệu: vị thơ “nồng và trẻ”, ngôn ngữ hình ảnh: tân kì, táo bạo mà gợi cảm, tinh tế; giọng thơ sôi nổi, mãnh liệt…

+ Huy Cận: thơ cổ điển mà hiện đại ( thi liệu, bút pháp…)

+ Nguyễn Bính: thơ đậm đà phong vị ca dao dân ca: thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, các phương thức NT…

+ Hàn Mặc Tử: ngôn ngữ thơ cực tả, hình ảnh thơ giàu màu sắc tượng trưng siêu thực…

-> “Màu sắc riêng” trong cách thể hiện đời sống của các nhà thơ làm nên sự phong phú, hấp dẫn của “một thời đại thi ca”.

3. Đánh giá (1.0 điểm).

- Ý kiến đã khẳng định đúng đắn một trong những vấn đề thuộc bản chất VH

- Ý kiến có ý nghĩa

+ Với nhà văn

+ Với lịch sử văn học



+ Với độc giả


Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương