Kế hoạch quản lý môi trường (emp) – Tiểu dự án …


Danh mục, máy móc, thiết bị phục vụ thi công



tải về 7.42 Mb.
trang6/24
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích7.42 Mb.
#3271
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   24

Danh mục, máy móc, thiết bị phục vụ thi công.


Căn cứ vào khối lượng công việc, tư vấn thiết kế dự kiến số lượng thiết bị chủ yếu phục vụ thi công công trình như sau:

Bảng 4: Danh mục dự kiến máy móc, thiết bị phục vụ thi công

TT

Loại thiết bị

Đơn vị

Tình trạng

Tổng số

1

Máy đào 0.7-1.3 tấn

Cái

Đã qua sử dụng

1

2

Ôtô tự đổ 10-12 tấn

Cái

Đã qua sử dụng

18

3

Máy ủi 110Cv

Cái

Đã qua sử dụng

5

4

Máy trộn bê tông di động 500lít

Cái

Đã qua sử dụng

9

5

Máy đầm bê tong

Cái

Đã qua sử dụng

20

6

Máy bơm nước 250 m3/h

Cái

Mua mới

9

7

Cần cẩu bánh lốp 10-15 tấn

Cái

Đã qua sử dụng

1

9

Ôtô stéc chở dầu 5m3

Cái

Đã qua sử dụng

1

10

Ôtô stéc chở nước 5 m3

Cái

Đã qua sử dụng

1

11

Máy phát điện 50KVA

Cái

Mua mới

4

14

Máy cắt sắt

Cái

Mua mới

1

15

Máy uốn sắt

Cái

Mua mới

1

16

Máy cưa

Cái

Mua mới

1
    1. Nguyên nhiên liệu và nguồn cung cấp phục vụ dự án.


2.5.1. Vật liệu đất đắp

Để đáp ứng trữ lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu đất đắp cho công trình, trong giai đoạn này tư vấn thiết kế đã tiến hành khảo sát bãi vật liệu đất đắp nằm ngay tại vị trí vai phải của đập trên diện tích 1ha, trữ lượng khai thác khoảng 100.000m3, cự ly vận chuyển từ 200m - 1.000m, điều kiện khai thác và vận chuyển bằng thủ công hoặc cơ giới đều thuận tiện. Đây là khu vực sườn núi thấp, do địa phương quản lý, Chủ dự án đã hoàn thành công tác đền bù mặt bằng trong năm 2009.



2.5.2. Đá

Tại vị trí xây dựng công trình không có, sử dụng đá tại mỏ đá Bảo Lộc, khoảng cách đến chân công trình khoảng 70km.



2.5.3. Cát, cuội sỏi

Được khai thác tại sông Đạ Quay, khoảng cách đến công trình khoảng 10km.



2.5.4. Vật liệu khác

Các vật liệu khác được lấy từ trung tâm huyện Đạ Tẻh, đến công trình khoảng 10km hoặc vận chuyển từ Thành phố Hồ Chí Minh về (khoảng 150km).



    1. Tiến độ thi công.


Tổng thời gian thực hiện TDA dự kiến là 24 tháng, thời gian dự kiến để hoàn thiện các phần còn lại cũng như các công tác hoàn trả mặt mặt bằng là 3 tháng cuối cùng.Thời gian tránh mưa bão khoảng 3 tháng, như vậy thời gian trực tiếp thi công là 18 tháng.

CHƯƠNG 3: KHUNG CHÍNH SÁCH, THỂ CHẾ VÀ CÁC QUI ĐỊNH

    1. Khung chính sách, thể chế và các qui định của chính phủ Việt Nam.


Chương này cung cấp bản tóm tắt của các chính sách môi trường và xã hội có liên quan của Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới. Chi tiết về các chính sách của Chính phủ và Ngân hàng thế giới được mô tả tại Phụ lục I.

3.1.1. Môi trường.


Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 và Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 là khung pháp lý quan trọng để quản lý môi trường ở Việt Nam. Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) cung cấp các quy định pháp luật về hoạt động bảo vệ môi trường; biện pháp và nguồn lực được sử dụng cho mục đích bảo vệ môi trường; quyền hạn, nhiệm vụ và nghĩa vụ của cơ quan quản lý, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Luật sẽ áp dụng đối với cơ quan quản lý, các cơ quan công cộng, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Luật BVMT quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường. Theo Điều 10, Chương II của Luật BVMT, Trách nhiệm lập quy hoạch bảo vệ môi trường như sau:

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia.

2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) tổ chức xây dựng nội dung hoặc lập quy hoạch bảo vệ môi trường trên địa bàn.

Việc tham vấn cộng đồng, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường đã được quy định cụ thể tại Điều 11, Chương II và tại phụ lục I, II của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của CP:



  • Bộ Tài nguyên và Môi trường lấy ý kiến các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bằng văn bản và tổ chức tham vấn cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia;

  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lấy ý kiến các sở, ngành, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh bằng văn bản và tổ chức tham vấn cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh.

Thẩm định và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường được quy định như sau:

a) Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội đồng thẩm định liên ngành và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia;

b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh sau khi lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường bằng văn bản.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan Chính phủ có trách nhiệm thành lập hội đồng hoặc tổ chức lựa chọn các tổ chức dịch vụ xem xét lại để xem xét báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án trong phạm vi thẩm quyền quyết định và phê duyệt, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh


Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thành lập hội đồng hoặc tổ chức lựa chọn các tổ chức dịch vụ xem xét lại để xem xét báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án diễn ra trong phạm vi lãnh thổ và chủ thể thẩm quyền quyết định phê duyệt của mình và của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Quản lý: Đơn vị cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao theo quy định tại Nghị định 29/2008 / NĐ-CP ngày 14 / 03/2008 của Chính phủ về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.
Mục 3 Chương II của Luật BVMT mô tả các yêu cầu đánh giá tác động môi trường. Chủ dự án quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này thực hiện, ngày của riêng mình, hoặc thuê tổ chức tư vấn để thực hiện việc đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm theo luật định cho kết quả kết luận sau khi tiến hành đánh giá như vậy. Việc đánh giá tác động môi trường phải được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị của dự án. Kết quả mang lại kết luận sau khi tiến hành đánh giá tác động môi trường phải được thể hiện trong các hình thức của báo cáo đánh giá tác động môi trường. Chi phí phát sinh từ việc xây dựng và kiểm tra các báo cáo đánh giá tác động môi trường, và bao gồm trong tổng ngân sách đầu tư được bao phủ bởi các chủ dự án.

Điều 21 của Luật BVMT quy định tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường nhằm mục đích hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường, hạn chế thấp nhất các tác động xấu đến môi trường và con người, bảo đảm sự phát triển bền vững của dự án. Chủ dự án có nghĩa vụ phải tham khảo ý kiến ​​với các cơ quan quản lý, tổ chức và cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án.

Nội dung chính của báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định tại điều 22 của Luật BVMT. Bao gồm: (1) Xuất xứ của dự án, chủ dự án, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án; phương pháp đánh giá tác động môi trường; (2) Đánh giá việc lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và các hoạt động của dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường; (3) Đánh giá hiện trạng môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội nơi thực hiện dự án, vùng lân cận và thuyết minh sự phù hợp của địa điểm lựa chọn thực hiện dự án. (4) Đánh giá, dự báo các nguồn thải và tác động của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. (5) Đánh giá, dự báo, xác định biện pháp quản lý rủi ro của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. (6) Biện pháp xử lý chất thải. (7) Các biện pháp giảm thiểu tác động đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. (8) Kết quả tham vấn. (9) Chương trình quản lý và giám sát môi trường. (10) Dự toán kinh phí xây dựng công trình bảo vệ môi trường và thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường. (11) Phương án tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường.

Điều 23 của Luật BVMT xác định thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM:

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án sau: (i) Dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; (ii) Dự án liên ngành, liên tỉnh thuộc đối tượng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 18 của Luật này, trừ dự án thuộc bí mật quốc phòng, an ninh; (iii) Dự án do Chính phủ giao thẩm định.

2. Bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của mình nhưng không thuộc đối tượng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.

3. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của mình và các dự án thuộc bí mật quốc phòng, an ninh.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư trên địa bàn không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

Điều 26 của Luật BVMT quy định trách nhiệm của chủ đầu tư dự án sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt, bao gồm:

1. Thực hiện các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

2. Trường hợp thay đổi quy mô, công suất, công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt nhưng chưa đến mức phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 của Luật này, chủ đầu tư dự án phải giải trình với cơ quan phê duyệt và chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận của cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Điều 27 của Luật BVMT quy định trách nhiệm của chủ đầu tư dự án trước khi đưa dự án vào vận hành, bao gồm:

1. Tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường theo quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

2. Phải báo cáo cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường phục vụ vận hành dự án đối với dự án lớn, có nguy cơ tác động xấu đến môi trường do Chính phủ quy định. Những dự án này chỉ được vận hành sau khi cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường.

Điều 28 của Luật BVMT quy định trách nhiệm của cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, bao gồm:

1. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định và quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của chủ đầu tư dự án được quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này, cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường phải tổ chức kiểm tra và cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của dự án. Trường hợp phải phân tích các chỉ tiêu môi trường phức tạp thì thời gian cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của dự án có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

Điều 13 của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định tổ chức được thực hiện đánh giá tác động môi trường.



  1. Chủ dự án hoặc tổ chức tư vấn khi thực hiện tiến hành ĐTM phải đáp ứng tất cả các yêu cầu sau: (i) Có cán bộ thực hiện ĐTM đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này; (ii) Có cán bộ chuyên ngành liên quan đến dự án với trình độ đại học trở lên và (c) có phòng thí nghiệm, thiết bị kiểm chuẩn và hiệu chuẩn đủ điều kiện để thực hiện đo đạc, lấy mẫu, xử lý và phân tích các mẫu môi trường phục vụ các ĐTM của dự án; nếu không có bất kỳ phòng thí nghiệm với các thiết bị kiểm chuẩn đáp ứng yêu cầu phải có hợp đồng thuê đơn vị có đủ năng lực thực hiện.

  2. Các cán bộ thực hiện ĐTM phải có trình độ đại học trở lên và phải có chứng chỉ tư vấn ĐTM đúng chuyên ngành.

  3. Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý đào tạo và cấp Giấy chứng chỉ tư vấn ĐTM.

Các điều sau đây của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định phê duyệt, lập báo cáo ĐTM:

  • Điều 14: Thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM;

  • Điều 15: Lập lại báo cáo ĐTM;

  • Điều 16: Trách nhiệm của chủ dự án sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt;

  • Điều 17: Kiểm tra, xác nhận các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành dự án;

  • Điều 21: Chế độ báo cáo.

3.1.2. Chính sách quốc gia về an toàn đập


Nghị định số 72/2007/NĐ-CP ngày 07/05/2007 của Chính phủ Việt Nam quy định về quản lý an toàn đập. Theo Nghị định này, một con đập lớn là đập với chiều cao tính từ mặt nềnđến đỉnh đập bằng hoặc lớn hơn 15 mét hoặc đập của hồ chứa nước với quy mô công suất bằng hoặc lớn hơn 3.000.000 m3 (ba triệu mét khối). Đập nhỏ là đập với chiều cao tính từ mặt nền đến đỉnh đập nhỏ hơn 15 mét. Chủ sở hữu đập là tổ chức, cá nhân sở hữu đập để khai thác các lợi ích của hồ chứa nước hoặc được giao quản lý, vận hành và khai thác hồ chứa nước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn đập. Bộ Công nghiệp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức thẩm định, phê duyệt hoặc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy trình vận hành hồ chứa thủy điện. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về an toàn đập trong khu vực.

Tại chương 4 của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015, từ Điều 12 đến Điều 17 đã quy định việc lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, việc thực hiện các dự án và các các biện pháp giảm nhẹ được thiết kế để bảo vệ môi trường trước và sau khi dự án chính thức hoạt động. Trong Điều 12 của Nghị định này cũng liên quan đến quy trình đánh giá tác động môi trường để thực hiện dự án, chủ dự án phải tổ chức cuộc họp để tư vấn công chúng, chẳng hạn như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương (cấp Uỷ ban- CPC nhân dân xã), bị ảnh hưởng (trực tiếp hoặc gián tiếp) hoặc Uỷ ban nhân dân trong địa phương bằng việc thực hiện dự án, bắt buộc; phân tích các ý kiến ​​phản hồi, ý kiến ​​thu được từ các nhóm bị ảnh hưởng, và xem xét lợi thế hay bất lợi tác động của dự án đến cộng đồng và để thiết kế các biện pháp giảm thiểu để giảm các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học, cộng đồng. Theo phụ lục số 2 của Nghị định, dự án phải thực hiện EIA nếu dung tích hồ chứa là 100.000m3 hoặc nhiều hơn. Theo quy định của Chính phủ Việt Nam, tất cả các tiểu dự án được đề xuất trong dự án DRSIP phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐGTĐMT).


3.1.3. Thu hồi đất


Khuôn khổ pháp lý của Chính phủ Việt Nam: Các khuôn khổ pháp lý liên quan đến thu hồi đất, bồi thường và tái định cư có được dựa trên Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi), và các nghị định/hướng dẫn có liên quan khác. Các văn bản pháp luật chủ yếu áp dụng cho việc quản lý, thu hồi đất bao gồm các nội dung sau:

  • Hiến pháp Việt Nam năm 2013

  • Luật đất đai số 45/2013/QH13 được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày ngày 29/11//2013;

  • Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, ngày 15/05/2014 về hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai năm 2013;

  • Nghị định số 44/2014/NĐ- CP, ngày 15/05/2014 về quy định giá đất;

  • Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, ngày 15/05/2014 về quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;

  • Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013 về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Thế giới

  • Nghị định số 72/2007 / NĐ-CP ngày 07 Tháng Năm 2007 của Chính phủ về quản lý an toàn đập

  • Nghị định số 201/2013 / NĐ-CP ngày November 27, 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước

  • Thông tư số 36/2014 / TT-BTNMT ngày 30 tháng sáu năm 2014, phương pháp định giá đất quy định; xây dựng, điều chỉnh giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn định giá đất

  • Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, ngày 30/06/2014 quy định chi tiết về bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;

  • Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

  • Quyết định số 1956/2009 / QĐ-TTg, ngày 17 tháng 11 2009, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể về đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020;

  • Quyết định số 52/2012 / QĐ-TTg, ngày 16 Tháng Mười Một 2012, về các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp đã được Nhà nước thu hồi;

  • Các loại khác.

Các luật, nghị định và các quy định liên quan đến quản lý đất đai, thu hồi đất và tái định cư gồm Luật Xây dựng 50/2014/QH13, ngày 18/6/2014, các hoạt động xây dựng, quyền và nghĩa vụ của tổ chức và cá nhân đầu tư vào các công trình xây dựng dân dụng và các hoạt động xây dựng; Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thay thế bằng Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/2/2013 về quản lý chất lượng công trình xây dựng Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng và thay thế Nghị định 16/2005/NĐ-CP, Nghị định 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng chính thức Hỗ trợ phát triển (ODA) Quỹ, và Nghị định 126/2014/NĐ-CP về thi hành Luật hôn nhân và gia đình, quy định rằng tất cả các văn bản đăng ký tài sản gia đình và quyền sử dụng đất phải ghi tên của cả vợ và chồng; Quyết định của các tỉnh dự án liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh cũng sẽ được áp dụng cho mỗi tỉnh dự án có liên quan.

3.1.4. Người bản địa/ Dân tộc thiểu số


Việt Nam có một số lượng lớn các chính sách và các chương trình được thiết kế đặc biệt để hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số. Chính phủ Việt Nam (GOV) đã rất quan tâm đến phúc lợi của các nhóm dân tộc thiểu số. Có một cơ quan chính phủ ngang Bộ, Ủy ban Dân tộc và Miền núi giao (UBDT), mà là phụ trách các chức năng quản lý cho người dân tộc thiểu số và miền núi. Một hồ sơ quốc gia của Việt Nam được xuất bản bởi các Nhóm làm việc quốc tế về các vấn đề bản địa (IWGIA) báo cáo rằng:

"Người bản địa là công dân đầy đủ của nhà nước Việt Nam và hưởng các quyền hiến pháp bảo đảm với các ngôn ngữ và truyền thống văn hóa .... Ở cấp độ lập pháp," Hội đồng Dân tộc "có nhiệm vụ tham mưu cho Quốc hội về vấn đề dân tộc thiểu số và giám sát và kiểm soát việc thực hiện các chính sách dân tộc thiểu số của chính phủ và các chương trình phát triển ở các vùng dân tộc thiểu số. "



Tài liệu này cũng báo cáo rằng từ những năm 1960, một số chính sách và các chương trình đã được thiết kế đặc biệt cho các dân tộc thiểu số, nhưng những chủ yếu là nhằm mục đích tích hợp chúng vào xã hội chứ không phải là cho phép họ tăng cường các thể chế của họ. Về vấn đề đất đai, nó báo cáo rằng "điều quan trọng là để làm nổi bật rằng pháp luật hiện nay tại Việt Nam cho phép để có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, trong năm 2004, Quốc hội đã thông qua một luật đất đai mới, phù hợp nhất cho người dân bản địa, hiện nay bao gồm các chủng loại "đất xã". Bằng việc giới thiệu các khái niệm về đất xã, luật mới quy định về khả năng của cộng đồng để xin giấy chứng nhận đối với đất đai xã.


    1. tải về 7.42 Mb.

      Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   24




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương