Kế hoạch quản lý môi trường (emp) – Tiểu dự án …


CÁC TÁC ĐỘNG XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG TIỀM TÀNG



tải về 5.04 Mb.
trang7/16
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích5.04 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   16


CÁC TÁC ĐỘNG XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG TIỀM TÀNG



    1. Lịch sử của tuyến đập và hồ chứa


Công trình hồ chứa nước Ngòi Là 2 được xây dựng vào năm 1973, được nâng cấp, sửa chữa lần đầu vào năm 1999. Trong lần sửa chữa này, đáy tràn và dốc nước được bọc lại bằng bê tông cốt thép. Cầu qua tràn được nâng cao, mở rộng để đảm bảo giao thông. Hệ thống kênh được kiên cố hóa một phần.

Năm 2012, đỉnh đập và đường quản lý được trải thảm.

Theo kết quả điều tra hiện trạng tháng 3 năm 2015, vùng thấm dài khoảng 215m trên thân đập chính tồn tại từ năm 1973 đến nay, tập trung ở cao độ 31,0m ÷ 35,0m ở lòng sông và cao độ 34,0m ÷ 37,0m ở phạm vi cống. Cho tới nay, công trình chưa xảy ra sự cố nào nghiêm trọng, chưa gây ảnh hưởng tới môi trường, xã hội. Đập bị thấm chủ yếu qua thân.

Dự án được đề xuất sẽ giúp giải quyết các vấn đề trên và nâng cao an toàn hồ đập.


    1. Sàng lọc DTTS


Theo hệ thống, một phần của đánh giá xã hội, là các DTTS đang sống trong khu vực tiểu dự án được đánh giá và sự có mặt của họ trong khu vực tiểu dự án được khẳng định thông qua sàng lọc về người DTTS (theo Ngân hàng, chính sách OP 4.10), bao gồm tham vấn với họ một cách tự do, thông báo trước và thông tin tới người DTTS theo cách thức phù hợp , để xác định rằng có cần hỗ trợ cho cộng đồng người DTTS bị ảnh hưởng tại địa phương khi thực hiện tiểu dự án hay không. Sàng lọc DTTS được tiến hành theo hướng dẫn OP 4.10 của Ngân hàng Thế giới, và đã được thực hiện trong phạm vi và khu vực các đánh giá xã hội tương ứng với phạm vi đánh giá môi trường (theo OP 4.01).

Kết quả sàng lọc DTTS đã chỉ ra rằng không có người DTTS có mặt trong khu vực TDA, bao gồm quanh hồ chứa và cả diện tích 354ha được tưới và các công trình khác liên quan trong dự án được xác định bởi việc đánh giá môi trường. Do không có người DTTS trong khu vực dự án, không cần phải chuẩn bị một kế hoạch phát triển DTTS cho TDA này.

    1. Phân tích về giới


Có một vài vấn đề về giới trong khu vực TDA.

  1. Lao động và phân chia lao động: Hầu hết các phụ nữ tham gia vào các hoạt động nông nghiệp. Phụ nữ có thể làm việc 9 -10 giờ / ngày trong khi đàn ông chỉ làm việc 8 giờ/ ngày). Kiến thức hạn chế và việc sử các phương pháp sản xuất nông nghiệp truyền thống khiến người dân địa phương thường xuyên phải đối mặt với rủi ro cao của mất mùa, dịch bệnh cho gia súc và suy dinh dưỡng.

  2. Tiếp cận giáo dục: Tất cả nam và nữ có quyền bình đẳng để đi học tuy nhiên tỷ lệ đi học của các em gái luôn luôn thấp hơn so với em trai.

  3. Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động nhóm: Trong khu vực tiểu dự án, hầu hết phụ nữ là dân tộc Kinh. Phụ nữ chưa biết cách cũng như chưa được tập huấn và trao quyền để thể hiện quyền lợi của mình trước cộng đồng. Do đó trong các cuộc họp cộng đồng, họ rất ít phát biểu.

  4. Sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính quyền địa phương: Thông qua các cuộc phỏng vấn với Chủ tịch UBND xã, báo cáo ghi nhận rằng phụ nữ chiếm 20% trong hệ thống UBND xã Trung Môn. Không có người phụ nữ đóng vai trò như chủ tịch ủy ban. Hầu hết phụ nữ không đảm nhận vị trí lãnh đạo có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định.

  5. Sức khỏe: Tình trạng sức khỏe của phụ nữ ở xã Trung Mon không có gì là nghiêm trọng. Tuy nhiên, nguy cơ cao mắc các bệnh như tiêu chảy, dị ứng da và các hình thức nhiễm trùng khác không chỉ ở riêng phụ nữ mà còn ở cả cộng đồng.

  6. Phân tích giới : Sơ đồ dươi đây cho thấy việc xác định vai trò và trách nhiệm liên quan đến quản lý nước, sử dụng nước và lấy nước trong vùng dự án



Nam giới

Phụ nữ

Ít mối quan tâm hơn tới an ninh nước, sức khỏe gia đình và nước không đảm bảo cũng như ảnh hưởng của nó tới sức khỏe gia đình.

NHIỀU MỐi QUAN TÂM tới nguồn nước đảm bảo cho sức khỏe gia đình và tác hại của nó

Ít tham gia hơn và việc giao dục vệ sinh.

THAM GIA chính vào giáo dục vệ sinh

ĐẢM NHẬN VAI TRÒ NHỎ trong việc giáo dục trẻ em và các thành viên khác trong gia đình vê sinh cá nhân như tắm giặt thường xuyên, uống nước đun sôi v.v...

ĐẢM NHẬN VAI TRÒ CHÍNH trong giáo dục trẻ em và các thành viên khác trong gia đình về vê sinh cá nhân như tắm giặt thường xuyên, uống nước đun sôi







HOÀN TOÀN ra quyết định trong việc sử dụng nước, phân phối nguồn nước và dự trữ nước

KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG ra quyết định trong việc sử dụng nước, phân phối nguồn nước và dự trữ nước

THƯỜNG XUYÊN quyết định việc xây dựng, thiết kế và vị trí của nó.

HẦU NHƯ KHÔNG ra quyêt định trong việc sử dụng nước, phân phối nguồn nước và dự trữ nước

THƯỜNG XUYÊN đảm nhận trách nhiệm quản lý và bảo vệ hồ chứa nước

HẦU NHƯ KHÔNG đảm nhận trách nhiệm quản lý và bảo vệ hồ chứa nước



    1. Các tác động tích cực tới môi trường và xã hội


Những tác động xã hội và môi trường của các tiểu dự án được đề xuất nói chung là tích cực. Cải tạo đập sẽ giúp giảm thiểu rủi ro về an toàn đập, cộng đồng địa phương và cơ sở hạ tầng hiện có ở hạ nguồn sẽ được bảo vệ tốt hơn.

Xử lý rò rỉ nước trên thân đập và cống lấy nước sẽ cải thiện khả năng trữ nước của hồ, đặc biệt là trong mùa khô. Điều này sẽ giúp nâng cao tính ổn định, tin cậy của các dịch vụ tưới tiêu từ hồ. 354,13 ha lúa và 6,11 ha cây rau màu của xã Trung Môn, Kim Phú của huyện Yên Sơn, các phường Ỷ La, Tân Hà, Hưng Thành thuộc Thành phố Tuyên Quang sẽ được hưởng lợi từ các dịch vụ tưới được cải thiện; đảm bảo cấp nước cho diện tích 15ha nuôi trồng thủy sản.
Nâng cấp tràn xả lũ sẽ giúp làm tăng khả năng thoát lũ, giảm nguy cơ vỡ đập, đặc biệt là trong trường hợp PMF. Việc mở rộng tràn sẽ tăng khả năng thoát lũ, mực nước trong hồ sẽ giảm nhanh hơn so với hiện trạng, áp lực cột nước trong hồ lên tới mặt thượng lưu của đập sẽ giảm đi, do đó sẽ giúp tăng an toàn của hồ trong trường hợp có lũ. Do mực nước lũ trong hồ giảm nhanh, thời gian nước lũ lắng đọng lại trong hồ sẽ giảm dẫn đến lượng bồi lắng lòng hồ giảm.
Phục hồi và cải tạo đập, mở rộng tràn và nâng cấp đường sẽ giúp cải thiện cảnh quan khu vực. Khu vực TDA sẽ có diện mạo sạch và đẹp hơn.
Tuy nhiên, việc phục hồi đập và các công trình phụ trợ cũng gây ra những tác động tiêu cực tiềm tàng với môi trường và xã hội như được đề cập dưới đây.

    1. Các tác động tiêu cực tiềm tàng tới môi trường và xã hội

      1. Giai đoạn trước khi thi công



Thu hồi đất. Tác động tiềm tàng chủ yếu trong giai đoạn trước khi thi cong là tác động thu hồi đất. Diện tích đất sẽ bị thu hồi vĩnh viễn là 22,100 m2 phục vụ cho TDA, trong đó 17,880 m2 sẽ được thu hồi để nâng cấp đường giao thông, 3920 m2 sẽ được thu hồi sử dụng thi công tràn và đập. 1 hộ gia đình sẽ bị tác động di dời do 300 m2 diện tích đất ở của họ sẽ bị thu hồi vì nằm trong hành lang an toàn của tuyến đập. Tuy nhiên, hộ gia đình BAH chỉ ở tại đó để theo dõi lồng cá họ sở hữu trong hồ đang được Chi cục thủy sản tỉnh Tuyên Quang thực hiện thử nghiệm.
11 hộ gia đình khác cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất trên diện tích 2,245 m2. 115 cây, chủ yếu là cây ăn quả như thanh long, bưởi, xoài, … của 11 hộ gia đình sẽ bị chặt bỏ. Két quả từ khảo sát cho thấy đối với người Kinh, việc thu hồi đất sẽ không làm ảnh hưởng nhiều tới việc việc sản xuất canh tác cũng như ảnh hưởng tới thu nhập của họ. Tổng diện tích đất bị thu hồi tạm thời bao gồm 1,000 m2 đất rải rác dọc tuyến đường chính chủ yếu là đất trống để bố trí nhà điều hành công trường và diện tích 1300 m2 để làm bãi tập kết vật liệu.





Hình 16- Hình ảnh về nhà và đất bị ảnh hưởng do việc thu hồi đất

Nguy cơ từ vật liệu nổ (UXO) Giải phóng mặt bằng trước khi xây dựng có thể gây ra những nguy cơ về an toàn cho công nhân nếu có những vật liệu nổ sau thời gian chiến còn sót lại tại công trường tranh. Nguy cơ an toàn này cần được giải quyết trước khi việc thi công bắt đầu.
Tác động tới tài nguyên sinh học Trên mái đập, kể cả mái thượng lưu và mái hạ lưu có khá nhiều cây cối mọc xanh tốt. Các cây này chủ yếu là cây tre, cây mít, chuối và một số loài cây bụi. Các cây dại cũng là thực vật chủ yếu dọc tuyến đường thứ 2, tại khu vực bãi thải và mỏ đất đắp. Đây là nơi làm tổ, cư trú của một số loài như chim, dế, chuột, … Trong giai đoạn GPMB, các thực vật và cây cối mọc trong hành lang an toàn của đập sẽ bị chặt bỏ, các động vật sẽ mất nơi cư trú. Tuy nhiên, tác động tiềm tàng trên là rất nhỏ do các động vật nhỏ có thể di chuyển về khu vực khác, trong các vườn tạp của hộ dân hoặc các bãi đất trống với hệ thực vật cũng có các đặc điểm tương tự để sinh sống.
Mái thượng lưu cách vai phải đập 140m và 230m là những vị trí cây cối mọc tốt ăn ra lòng hồ, có nhiều cây thân gỗ , như Xoan, Xoài, Ổi…và một số loài cây bụi làm bồi lắng long hồ. Đây là nơi sinh sống của một số loài côn trùng như ve, dế, bọ dừa, bọ xoan… Khi triển khai dự án sửa chữa nâng cấp đập đặc biệt là hạng mục nâng cấp mái đập thì hệ thực vật mọc trên hai mái đập sẽ bị dọn dẹp, các động vật sinh sống trong phạm vi mái đập sẽ bị ảnh hưởng mất nơi cư trú.
An toàn cho công nhân và cộng đồng trong quá trình trước khi thi công sẽ được chú ý. Bên cạnh đó, các rủi ro về an toàn trong giai đoạn GPMB còn bao gồm giật điện, vật liệu nặng rơi vãi trong quá trình tháo rỡ các kiến trúc sẵn có hoặc chặt những cây lớn (247 m3). RỦi ro an toàn sẽ liên quan tới xếp, dỡ và vận chuyển những vật liệu cồng kềnh ra khỏi công trường, đặc biệt là những đoạn đường đi qua nhà trẻ ở thôn 15 xã Trung Môn nằm cách mặt đường khoảng 10m. Tuy nhiên, lượng chất thải rắn sinh ra trong giai đoạn trước khi thi công chỉ khoảng 3,000m3 và các hoạt động trong giai đoạn này sẽ diễn ra trong thời gian ngắn. Dự kiến rằng có nhiều vật liệu thải cồng kềnh sinh ra trong quá trình GPMB sẽ được người dân địa phương tái sử dụng, do đó khối lượng chất thải rắn sinh ra sẽ được giới hạn. Rủi ro về an toàn khá nghiêm trọng nhưng có thể quản lý được.
Xáo trộn giao thông Các tác động tiềm tàng về giao thông địa phương được hạn chế do mật độ giao thông rất thấp dọc theo 2,5 km đường vào từ vị trí đập đến khu vực bãi thải.
Tiếng ồn từ việc chặt cây, phá dỡ công trình, vận chuyển chất thải đến bãi thải vv là tạm thời, ngắn hạn và ở mức thấp, do đó các tác động tiềm tàng về tiếng ồn trong giai đoạn tiền xây dựng là không đáng kể. Tương tự như vậy, bụi phát sinh trong giai đoạn này cũng sẽ được giảm thiểu trong phạm vi thực hiện phá dỡ (đập tràn, 01 ngôi nhà, vv). Thảm thực vật bên đường chỉ bị ảnh hưởng trên diện tích nhỏ.

      1. Các tác động tiềm tàng trong giai đoạn xây dựng


Các tác động môi trường tiềm tàng trong quá trình nâng cấp đập đã được nhận biết từ kinh nghiệm thực hiện các dự án tương tự trong quá khứ. Các tác động tiềm năng quan trọng có thể bao gồm

  • Bụi, tiếng ồn, hỗn loạn giao thông và tăng rủi ro về an toàn giao thông dọc các tuyến đường giao thông bao gồm những con đường vận chuyển; đặc biệt là các đoạn đi qua khu dân cư, công trình công cộng hay các khu vực kiến trúc nhạy cảm;

  • Nguy cơ ô nhiễm môi trường liên quan đến khối lượng đất từ các công việc đào đắp thi công tuyến đập; Giảm chất lượng nước trong hồ do việc đào đắp, xếp dỡ vaattj liệu trên thượng lưu đập, các tác động tới mô trường sinh học và lũ lụt ở hạ lưu liên quan đến những biến đổi về mực nước trong hồ nếu nước trong hồ cần xả xuống hạ lưu;

  • Mất lớp phủ thực vật và cây cối, gây xáo trộn đến hiện trạng thoát nước hiện có, tăng khả năng xói mòn và bồi lắng rủi ro tại khu mỏ và bãi thải;

  • Trì hoãn dịch vụ cấp nước;

  • Các rủi ro ô nhiễm đất và nguồn nước liên quan đến việc nước thải phát sinh từ khu vực thi công và các lán trại lao động;

  • Rủi ro an toàn cho người lao động và cộng đồng địa phương liên quan đến việc bốc dỡ vật liệu xây dựng, chất thải, và các hoạt động của các máy móc và phương tiện xây dựng;

  • Xung đột xã hội giữa người lao động và cộng đồng địa phương;

  • Thiệt hại cho cơ sở hạ tầng địa phương hiện có, đặc biệt là giao thông nông thôn hiện có do sự di chuyển của xe tải nặng

Trong phạm vi tiểu dự án Ngòi Là 2, một số các tác động tiềm tàng nêu trên đã được dự kiến trong thời gian chuẩn bị của các nghiên cứu khả thi (FS), do đó các phương án xây dựng và tiến độ xây dựng được đề xuất sẽ giúp làm tránh một số các tác động tiềm tàng. Các tác động tiêu cực tiềm tàng khác sẽ được giải quyết trong giai đoạn thiết kế chi tiết hoặc trong giai đoạn xây dựng. Các tác động tiềm năng và các biện pháp để tránh hoặc giảm thiểu các tác động và rủi ro tiềm năng sẽ được thảo luận chi tiết dưới đây.

Bụi, tiếng ồn, hỗn loạn giao thông và rủi ro an toàn giao thông gia tăng dọc các tuyến đường giao thông bao gồm những tuyến đường vận chuyển

Như đã mô tả trong phần 4.5, có hai tuyến đường dẫn tới tuyến đập. Tuyến 1 là 2,4 km đường bê tông chạy dọc theo bốn thôn của xã Trung Môn, và Tuyến 2 là 1,9 km đường đất chạy chủ yếu dọc theo khu đất có các cây bụi mọc chủ yếu. Trong giai đoạn xây dựng, tuyến 1 sẽ chỉ được sử dụng cho các xe ô tô nhỏ chở vật liệu vào các công trường xây dựng. Vì vậy, các tác động tiềm tàng liên quan đến bụi, tiếng ồn, hỗn loạn giao thông và nguy cơ an toàn giao thông xảy ra đối với bốn thôn của xã Trung Môn là rất hạn chế.


Hình 17 – Cảnh quan đặc trưng của tuyến vận chuyển thứ 2

Tuyến đường được sử dụng chính trong giai đoạn xây dựng là tuyến đường số 2, kết nối tuyến đập với khu vực bãi thải và mỏ đất đắp, nếu cần thiết. Thường xuyên diễn ra tình trạng là bụi trong mùa khô và lầy lội vào mùa mưa của tuyến đường. Nhiều đoạn cua gấp và độ dốc lớn tại một số đoạn gây khó khăn và mất an toàn cho việc đi lại của các phương tiện. Không có hệ thống thoát nước dọc theo con đường này, để nước mưa có thể rửa nền đường tại một số phần.
Các tác động tiềm tàng trong quá trình nâng cấp và sử dụng con đường trong giai đoạn thi công được giới hạn do chỉ có 5 hộ dân sống dọc theo con đường này. Dọc bên đường chủ yếu là các cây bụi, mật độ giao thông rất thấp hoặc hầu như không có xe cộ qua lại hầu hết thời gian trong ngày. Năm hộ dân sinh sống dọc tuyến đường này sẽ bị ảnh hưởng bởi bụi, tiếng ồn và rủi ro an toàn giao thông. Biện pháp giảm thiểu chung sẽ được thực hiện trong giai đoạn xây dựng để giảm thiểu những tác động tiềm tàng. Chăm sóc sức khỏe và an toàn cho người lao động trong giai đoạn xây dựng sẽ là mối quan tâm chính trong giai đoạn này.

Các rủi ro về ô nhiễm liên quan đến khối lượng lớn các công việc đào đắp trên tuyến đập

Phát sinh chất thải. Theo báo cáo nghiên cứu khả thi, tổng khối lượng vật liệu đào từ tuyến đập, tràn và đường giao thông là 43,404 m3. Khối lượng vật liệu đắp cần cho 3 hạng mục này là 10,500 m3. Một diện tích đất sẽ cần thu hồi để làm bãi thải và mỏ đất đắp. Các xe tải phục vụ vận chuyển các vật liệu tới bãi thải và từ các công trường thi công và từ các mỏ đất đắp có thể tạo ra bụi, tiếng ồn và khí thải, giao thông bị quấy rầy và làm tăng rủi ro về an toàn giao thông.

Bảng 12 – Vật liều đào và đắp






Đào (m3)


Đắp

(m3)

Ghi chú

Đất thải

Tái sử dụng

Đập

16,422




6,104

6104 m3 được tái sử dụng trong đó 1033m3 để đăó đường và 5,072m3 để đắp đập

Tràn

787

7,080

1194

1194 m3 đất đắp được tái sử dụng từ đất đào

Đường vận chuyển

15,695

3,420

1994




Tổng

32,904

10,500

9,292







43,404







Với 16.422 m3 vật liệu đất đào từ mặt đập và 6104 m3 đất đắp, lượng đất này nếu bị rơi xuống hồ chứa sẽ gây ra bồi lắng và tăng độ đục của nước. Với các phương pháp xây dựng đề xuất trong đó đã ưu tiên xem xét theo chế độ thủy văn tự nhiên theo mùa của hồ, tiểu dự án sẽ không gây ra bất kỳ tác động tiêu cực tiềm tàng đáng kể vào đời sống thủy sinh trong hồ và hạ du.
Tác động tiềm tàng tại khu đổ thải và biện pháp giảm thiểu

Như đã thảo luận, các mỏ đất đắp có thể không cần phải khai thác tới do lượng đất đào đã đủ để phục vụ tái sử dụng làm đất đắp. Bãi thải với diện tích 2.06 ha đã được xác định là một bãi đất hẹp, thấp (sâu 5m) có kích thước 400 m x 25 m nằm giữa 1 bên là đồi 1 bên là tuyến đường với trữ lượng khoảng 50,000 m3. Khối lượng đất sẽ mang đi đổ thải khoảng 35,000 m3. Hiện tại, khu đất được bao phủ bởi lớp thực vật dày chủ yếu là các cây bụi, cây dại, không có các thực vật hoặc các loài động vật đang bị đe dọa ở khu vực. Do đó, các tác động đến tài nguyên sinh vật ở khu vực bãi thải là không nghiêm trọng và có thể bỏ qua.



Đổ thải tại khu vực bãi thải sẽ sẽ không làm gián đoạn bất kỳ một hình thức thoát nước hiện hữu nào do khu bãi thải được đề xuất là ranh giới với đỉnh của một dòng chảy tự nhiên. Tuy nhiên, việc nằm gần khu phân nước cũng gây ra nguy cơ nước mưa cuốn trôi các vật liệu xuống khu đất thấp là ruộng lúa ở hạ lưu nếu không có các biện pháp giảm thiểu được áp dụng. Với khoảng 35.000 m3 đất đá, chiều cao trung bình của bãi chứa là khoảng 1,8 m. Cần có các biện pháp để giảm thiểu các tác động tiềm năng như tăng khả năng xói mòn, sạt lở đất ở các bãi thải

Tác động đối với dịch vụ thủy lợi
Nâng cấp mặt đập thượng lưu sẽ không ảnh hưởng đến dịch vụ thủy lợi do việc thi công sẽ được bắt đầu ở cao trình 37,5 m trong hồ, trong khi mực nước chết của hồ là + 34 m, cống lấy nước được đặt tại cao trình 33 m.
Các tác động tiềm năng về cấp nước cho nông nghiệp trong quá trình sửa chữa các công trình đầu mối như việc sửa chữa van cống lấy nước, các thiết bị kiểm soát sẽ được giới hạn do chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Đê quai sẽ được đắp xung quanh các cống lấy nước khi mực nước trong hồ chứa xuống thấp nhất, hơn nữa thời điểm này là vào cuối vụ đông xân, yêu cầu về nước tưới không cao, ảnh hưởng tới gián đoạn cấp nước không xảy ra.
Rủi ro ô nhiễm đất và nước liên quan đến việc nước và nước thải sinh ra từ các công trường xây dựng khác và các lán trại công nhân;
Nước thải từ các hoạt động thi công xây dựng. Chất thải lỏng và nước thải từ các công trường xây dựng có thể là dầu bị rò rỉ từ các thiết bị, máy móc và việc xúc rửa, nước thải rò rỉ từ trộn bê tông vv. Các chất gây ô nhiễm trong chất thải, nước thải lỏng như vậy có thể chứa chất độc hại hoặc có chứa hàm lượng chất rắn cao. Nếu bị nước mưa rửa trôi cùng với các chất lỏng khác và chất thải tại các công trường xây dựng vào hồ chứa, chất lượng nước hồ sẽ bị ảnh hưởng và do đó ảnh hưởng đến sự sống của các loài thủy sản. Tuy nhiên, nguy cơ rủi ro này được đánh giá là thấp do lượng nước thải từ công trường xây dựng là rất nhỏ, lượng chất thải này đã được giữa lại bởi thảm thực vật tự nhiên xung quanh và lắng lại trước khi chảy vào nước hồ. Các tác động tiềm tàng sẽ được giảm thiểu thông qua kế hoạch quản lý công trường, trong đó việc ngăn và xử lý nước thải công trường được yêu cầu đối với các nhà thầu thi công..
Nước thải sinh hoạt. Trong giai đoạn xây dựng cao điểm, sẽ có 50 công nhân làm việc rải rác tại bốn địa điểm xây dựng chính: đập, đập tràn, cống lấy nước và đường giao thông. Nước thải sinh hoạt sẽ phát sinh từ các nguồn nấu ăn, tắm rửa, cọ rửa chủ yếu diễn ra trong các lán trại công nhân. Theo TCXDVN 33: 2006, lượng nước trung bình để sử dụng cho sinh hoạt ở khu vực miền núi là 80 lít/ngày/người. Lượng nước thải được tạo ra bằng 80% lượng nước sinh hoạt được sử dụng. Với số lượng 50 công nhân, lượng nước thải tạo ra mỗi ngày là 80*0.8*50 = 3200 lít/ngày hoặc 3,2 m3/ngày. Trong 18 tháng của giai đoạn xây dựng, 1.728 m3 nước thải sinh hoạt sẽ được sinh ra từ khu vực lán trại. Nếu lượng nước thải này không được quản lý đúng cách, nước thải có thể lắng đọng ở xung quanh khu vực lán trại dẫn đến tình trạng mất vệ sinh, gây ảnh hưởng và gây ra nguy cơ sức khỏe cho người lao động cũng như cộng đồng. Tuy nhiên, lượng nước thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày là khá nhỏ và có thể dễ dàng quản lý thông qua lắp đặt và bảo dưỡng hệ thống thoát nước xung quanh lán trại công nhân.


      1. Tác động tiềm tàng trong giai đoạn vận hành

Các công trình được đề xuất nâng cấp sẽ không làm thay đổi chế độ thủy văn của hồ chứa và các kênh hạ lưu tiếp nhận trong mùa khô hoặc khi mực nước dưới cao độ của đập tràn là 41.5m.

Theo báo cáo nghiên cứu khả thi, các đập tràn hiện tại có cao độ 41,5 m và chiều rộng B = 5 m là đủ để đảm bảo an toàn của đập với lưu lượng lũ thiết kế (1,5%) Q = 26,5 m3/s và (0,5%) Q = 31,11 m3/s. Theo các cán bộ của Công ty QLKT CTTL, hiện mực nước qua đập tràn chỉ giao động khoảng 0,3-0,5 m. Tuy nhiên, hiện nay tuyến kênh sau tràn đã bị chặn bởi bồi lắng và thảm thực vật lấn chiếm với những cây tương đối lớn như tre. Đã xuất hiện hiện tượng đọng nước trong tuyến kênh sau tràn.

Cần lưu ý rằng đây là loại tràn, hình thức tràn tự do (không có cửa điều tiết). Điều này có nghĩa là khi nước trong hồ đầy và cửa cống lấy nước bị đóng kín thì nước từ hồ chảy qua tràn tới kênh tiếp nhận ở hạ lưu suối Là sẽ bằng với lưu lượng nước tự nhiên tới hồ. Nếu công lấy nước được mở, nước trong hồ đầy, chỉ có lượng nước thừa mới qua tràn và chảy vào đoạn suối Là cũ hay hiện tại là kênh tiếp nhận. Nếu nước trong hồ chưa đầy sẽ không có nước chảy qua tràn vào kênh nữa. Những tác động này có thể ảnh hưởng tới chế độ thủy văn của đoạn hạ lưu suối Là. Tình trạng này đã diễn ra 42 năm qua kể từ khi công trình hồ Ngòi Là được xây dựng. Các thay đổi bất kỳ trong môi trường nước của vùng hạ lưu theo xu hướng thông thường đã xảy ra trong những năm trước đó. Không có ghi nhận về việc sinh sống của các động vật thuỷ sinh trên đoạn hạ lưu này. Theo phỏng vấn, người dân địa phương không thể nhớ lại sự hiện diện của bất kỳ loài cá di cư trên suối Là trước khi đập được xây dựng


Theo kết quả khảo sát, trong điều kiện hoạt động bình thường, mực nước lũ thường xuyên trong các hồ chứa cao hơn khoảng 0,3-0,5 m so với mực nước dâng bình thường. Đỉnh lũ hàng năm (kết quả khảo sát) của suối (bằng với lưu lượng nước chảy qua tràn xả lũ khi nước trong hồ đầy và cống lấy nước được đóng) là Q = 2-3m3/s. Lưu lượng xả qua tràn tương ứng với mức lũ thường xuyên là khá nhỏ so với khả năng chuyển tải nước của hệ thống suối phía sau tràn. Ngoài ra, lượng nước bị giảm do 2 trạm bơm lấy nước tưới từ suối Là trước khi chảy vào sông Lô. Với chế đố thủy văn như vậy, không tạo điều kiện cho môi trường sống của các loài thủy sinh nhạy cảm. Vì vậy, các hệ sinh thái hiện tại của đoạn hạ lưu suối Là có thể được mô tả là không quan trọng cả về mặt sinh học và kinh tế. Các lưu vực suối Là ở phía hạ lưu của hồ có thảm thực vật chủ yếu gồm các cây mọc dại, thường được thấy dọc bờ suối và ruộng lúa. Kết quả từ các cuộc phỏng vấn người dân địa phương cho thấy, tình trạng ngập úng do nước từ hồ chảy qua tràn vào lòng suối chưa từng xảy ra.
Mở rộng tràn xả lũ sẽ tăng cường khả năng xả lũ, đảm bảo an toàn hồ chứa trong trường hợp của trận lũ lớn hơn hoặc tương đương với lũ thiết kế. Đối với lũ thường xuyên, sự khác biệt của lưu lượng xả qua tràn là không đáng kể do dòng chảy lũ thường xuyên là không lớn, lượng nước chảy qua tràn đổ vào lòng suối cũ chỉ tương đương với điều kiện vận hành hiện tại của tràn. Giảm lưu lượng xả qua đập tràn do sự mở rộng của đập tràn làm giảm nguy cơ xói mòn đối với hệ thống suối nhận nước phía sau đập tràn.
Đối với những tác động lâu dài, khi diện tích tưới được mở rộng nhờ kết quả của việc cải thiện vận hành của các cống lấy nước, việc lạm dụng hóa chất nông nghiệp có thể gây ô nhiễm nước và đất trong các khu vực này. Để giảm thiểu tác động tiềm năng này, cần phải tổ chức chương trình tập huấn IPM cho nông dân ở khu vực.




  1. Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương