Kế hoạch quản lý môi trường (emp) – Tiểu dự án …



tải về 5.04 Mb.
trang6/16
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích5.04 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16

Môi trường sinh học


Quần thể thực vật. Lưu vực hồ Ngòi Là được che phủ chủ yếu bởi các diện tích rừng trồng. Diện tích đất rừng của xã Trung Môn là 275 ha, trong đó in Đất có rừng tự nhiên sản xuất: 0,6ha, đất có rừng trồng sản xuất: 266,87ha và đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất: 7,53ha. Các loài thực vật tương đối đa dạng, rừng sinh trưởng và phát triển bình thường với một số loài cây chính: muồng, xoan đào. Tuy nhiên, xung quanh hồ Ngòi Là là các thảm rừng trồng, thành phần loài chủ yếu là những loại cây do người dân trồng như bạch đàn, keo, đôi khi xen lẫn các loại cây bụi, trảng cỏ và một số loại cây ăn quả như xoài, mít, chanh, ổi.... hầu hết được trồng mới nên thân nhỏ, thấp, đường kính nhỏ hơn 10cm và thấp hơn 5,0m, giá trị không lớn. Lớp phủ thực vật tự nhiên chỉ có các loài thảm cỏ thấp hoặc các cây có nguồn gốc thân thảo ven đường và các nhóm cây bụi. Lớp phủ thực vật nghèo không có giá trị kinh tế. Trong vùng không có các loại động thực vật quí hiếm cần được bảo tồn.
Quần thể động vật. Qua điều tra, phỏng vấn người dân địa phương cho thấy không xuất hiện các loài động vật quý hiếm tại vùng dự án. Đôi khi bắt gặp các loài bò sát (rắn), các loài lưỡng cư (ếch, nhái), các loài gặm nhấm (chuột, nhím).
Hệ sinh thái dưới nước: Ở suối Là cũng như những dòng suối nhỏ tự nhiên của huyện Yên Sơn, các động vật thủy sinh phổ biến người dân địa phương thường đánh bắt bao gồm ốc, cua, cá bống, các chép. Các loài này có giá trị về mặt kinh tế hơn là về mặt sinh thái. Không có các loài được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam. Chi cục thủy sản có nuôi thử nghiệm cá lồng ở trong hồ. Quá trình nuôi trồng thử nghiệm sẽ hoàn thành và kết thúc vào tháng 11-2015.
Không có mối liên hệ về mặt thủy văn giữa hồ và lòng suối cũ ở hạ lưu do hình thức của tràn là tràn tự do, không có nước từ hồ chảy ra suối cũ nếu không có nước chảy qua tràn. Do đó, hệ sinh thái đoạn hạ lưu suối Là không có đặc trưng về cả mặt kinh tế lẫn sinh học và gần như tách biệt với hồ, chỉ trừ trong thời gian mùa lũ. Lưu vực suối Là ở hạ lưu hồ Ngòi Là có lớp thực vật dày che phủ. Người dân địa phương khẳng định hiện tượng ngập úng do nước từ hồ chảy tràn qua suối chưa bao giờ xảy ra.
    1. Môi trường kinh tế - xã hội và văn hóa

      1. Dân số


Tính đến năm 2014 dân số toàn tỉnh là 746.669 người, phân theo giới tính có 373.741 nam (50,05%) và 372.928 nữ (49,95%). Dân số phân bố ở nông thôn là 647.976 người chiếm 86,78%, ở thành thị 98.693 người chiếm 13,22 %. Mật độ dân số bình quân 127 người/km2. Số dân trong độ tuổi lao động đến hết năm 2013 có 479.076 người, chiếm 64,16% tổng số dân. Lao động làm nghề nông là chủ yếu, chiếm 88,04%, chỉ có 11,96% lao động cho công nghiệp và các ngành khác.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 22 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 50%, kinh tế chủ yếu là làm nông nghiệp. Đây là một điểm đặc thù cần được quan tâm trong thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, nhất là chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, chính sách dân tộc. Tại các xã trong dự án được điều tra, số nhân khẩu trung bình của một hộ trong mẫu khảo sát vùng dự án là 3,7 người, thấp hơn so với số nhân khẩu bình quân hộ cả nước là 3,89 (Niên giám thống kê, 2013). Số nhân khẩu bình quân của một hộ không có sự khác biệt giữa các xã, nhóm dân tộc, nhóm thu nhập, nhóm hộ do phụ nữ làm chủ hộ và nam giới làm chủ hộ.


      1. Kinh tế- xã hội

Tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tuyên Quang trong nhiều năm trở lại đây đạt giá trị khá và tương đối vững chắc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân hàng năm trên 12%, năm 2014 đạt 15,52%. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt 25 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp. Năm 2005, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng: 30,7% tỷ trọng dịch vụ: 33,6% tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp: 35,7%. Tới năm 2015, kế hoạch của tỉnh là tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp – xây dựng lên mức đạt 38% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng; nông lâm nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, một số cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao; các ngành dịch vụ phát triển ổn định.


Tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh năm 2014 còn 13,09% (giảm 4,84% so với năm 2013). Hộ nghèo dựa vào một vụ một năm chỉ là lúa hoặc ngô. Họ không có vốn để chăn nuôi. Thường là những hộ cô đơn có người già hay người tàn tật. Đất trồng của họ không đủ điều kiện để có thể canh tác những loại cây có giá trị cao.
Huyện Yên Sơn có diện tích và dân số lớn nhất tỉnh Tuyên Quang, với diện tích là 1.210 km² và dân số 167.000 người. Diện tích đất canh tác toàn tỉnh là 5.870 km2, chiếm 1,8% tổng diện tích tự nhiên. Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 70% và diện tích đất canh tác chiếm khoảng 8%. Đây là điều kiện tốt cho tỉnh phát triển ngành nông nghiệp và lâm nghiệp.

      1. Tình hình kinh tế - xã hội của người dân trong vùng dự án: xã Trung Môn

Trung Môn là 1 xã gần thành phố, nguồn thu nhập chính của người dân là từ nông nghiệp, rừng và thủ công nghiệp, chủ yếu là trồng lúa, các sản phẩm nông nghiệp khác và chăn nuôi. Thu nhập trung bình khoảng 4,2 triệu đồng/ người/ năm (khoảng 350.000 đồng/người/tháng).


Số nhân khẩu trung bình của một hộ trong mẫu khảo sát vùng dự án là 3,7 người, thấp hơn so với số nhân khẩu bình quân hộ cả nước là 3,89 (Niên giám thống kê, 2013). Số nhân khẩu bình quân của một hộ có sự khác biệt giữa các xã, nhóm dân tộc, nhóm thu nhập, nhóm hộ do phụ nữ làm chủ hộ và nam giới làm chủ hộ.
Theo nhóm thu nhập, thì điều đáng lưu ý là ở các nhóm nghèo và cận nghèo (nhóm 1 và 2) đều có tỷ lệ thấp hơn về quy mô nhân khẩu gia đình từ 5 người trở lên, nhóm 1 (26,3%) và nhóm 2 (34,6%). Điều này đã chỉ ra rằng: nếu cách đây chừng một thập niên trở về trước, gia đình quy mô lớn, đông con là một trong những nguyên nhân chủ yếu của nghèo đói thì hiện nay nếu có, nó chỉ còn là nguyên nhân thứ yếu, khi thực tế tỷ lệ gia đình sinh con thứ 3 trở lên càng ngày càng ít đi. Phân tích cơ cấu hộ theo quy mô nhân khẩu vùng dự án được khảo sát cho thấy đa số các hộ có 3-4 người (47,0%) và 1-2 người (38,2%); có ít hộ có 5-8 người (14,8%) và hộ từ 9 người trở lên không có. Nếu nhìn nhận rằng hiện nay ở Việt Nam, quy mô gia đình nhỏ, ít con là có tính phổ biến, như vậy ở khảo sát này cho thấy mô hình gia đình hạt nhân chiếm khoảng 85,2%. Như vậy số liệu khảo sát đã cho thấy so với tình hình chung tại vùng dự án, mô hình gia đình ít nhân khẩu và gia đình hạt nhân vẫn cao hơn, cho thấy mức độ phát triển vùng dự án cao hơn các xã khác trong tỉnh.
Trong cơ cấu nghề nghiệp chính của các thành viên gia đình có tham gia lao động và có thu nhập trong mẫu khảo sát vùng dự án, ngành nông-lâm-ngư nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất là 46,1%; thứ hai là học sinh, sinh viên chiếm tỉ lệ 19,8%; còn lại là cán bộ-viên chức, làm thuê, công nhân có tỉ lệ thấp dưới 10% đối với mỗi loại; tỉ lệ người làm buôn bán/dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và nội trợ đặc biệt rất thấp, đều nhỏ hơn 1,4%. Như vậy nông-lâm-ngư nghiệp là lĩnh vực chủ đạo trong nền kinh tế - xã hội của vùng dự án, nơi tập trung phần lớn lực lượng lao động.
Xét về tình trạng nghề nghiệp đang làm có đóng góp vào thu nhập gia đình hiện nay, khảo sát cho thấy tỷ lệ người ăn theo khá cao chiếm tới 35,1%, trong đó có tỷ lệ đáng kể là lao động thất nghiệp và bán thất nghiệp. Các đối tượng ăn theo bao gồm nhiều nhất là học sinh, sinh viên, còn lại là những người còn nhỏ/già yếu, mất sức lao động và kể cả đang trong độ tuổi lao động, có sức khỏe nhưng hiện không có việc làm. Việc triển khai dự án sẽ gia tăng diện tích đất được tưới, thêm mùa vụ sản xuất trong một năm, đa dạng hóa các ngành nghề ngoài trồng trọt (như chăn nuôi, dịch vụ và các nghề có sử dụng nước khác); từ đó gia tăng công ăn việc làm và xóa bỏ được tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm hiện nay ở các vùng dự án. Mặt khác, sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đối với sinh kế của các hộ dân đang tương đối ổn định bị thu hồi đất nếu không thực hiện những biện pháp giảm thiểu có hiệu quả về thiết kế, thi công và đền bù hợp lý để người BAH có thể mua được đất thay thế hay chuyển đổi nghề mới.

      1. Sử dụng đất ở xã Trung Môn

Bảng 9 dưới đây thể hiện cấu trúc sử dụng đất ở xã Trung Môn



Bảng 9 – Hiện trạng sử dụng đất tại xã Trung Môn

Loại đất

Đơn vị

Xã Trung Môn

Tổng diện tích đất tự nhiên

Ha

1,195.06

Đất nông nghiệp

Ha

868.95

Đất lâm nghiệp

Ha

275

Đất chưa sử dụng

Ha

32.336

Tiểu dự án có ảnh hưởng đến 12 hộ dân với 57 thành viên thuộc thôn 1, xã Trung Môn. Tất cả các hộ BAH đều là người Kinh. Số nhân khẩu của các hộ này giao động từ 3-7 người/hộ và có 01 hộ có chủ hộ là nữ. Nguồn thu nhập chính của các hộ BAH là từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Một số nguồn thu khác từ chăn nuôi gia súc, gia cầm (gà vịt, trâu bò) và buôn bán. Thu nhập tính theo đầu người trong 1 tháng thấp nhất 825.000 đồng (thấp nhất) đến 1.920.000 đồng. Cả nam giới và phụ nữ tham gia vào nông nghiệp; phụ nữ phụ trách công việc nhà như nấu ăn, chăm sóc con cái, dọn dẹp nhà cửa, và các công việc nhà khác. Trong khi nam giới chỉ giúp lau dọn nhà cửa. Cả nam giới và phu nữ đều có quyền ra quyết định và tham gia vào các cuộc họp gia đình và cộng đồng.
      1. Tiếp cận các dịch vụ cơ bản


Đa số các hộ vùng dự án được khảo sát nguồn nước tắm giặt sinh hoạt đều sử dụng nước máy (trên 95%), do đó, việc giữ nước từ hồ chứa có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp.

Tương tự như sử dụng nước cho sinh hoạt, người dân trong khu vực dự án chủ yếu sử dụng nước uống từ nguồn nước máy với tỷ lệ 95%. Chỉ có khoảng 4% người dân sử dụng nước từ giếng để uống. Nước máy được cấp từ công ty nước sạch thành phố lấy nguồn từ nước sông Lô. Tại các vùng được khảo sát có tới 98,2% hộ gia đình dùng hố xí hợp vệ sinh, trong đó có 66,1% hộ có Nhà vệ sinh tự hoại/bán tự hoại, 28,5% hộ dùng Nhà vệ sinh 2 ngăn. Ngoài ra có khoảng 3,7% còn dùng loại nhà vệ sinh đơn giản và có 1,2% hộ gia đình chưa có nhà vệ sinh. Theo nhóm thu nhập, tỷ lệ hộ dân hà vệ sinh đạt tiêu chuẩn rất cao, chiếm tới 90%. Nhóm nghèo nhất cũng có tới 77,3% số hộ có nhà vệ sinh đạt chuẩn. Nhóm có thu nhập giàu nhất có tới 99,8% nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn.


      1. Sức khỏe và chăm sóc y tế

Điều kiện chăm sóc sức khỏe và y tế của tỉnh Tuyên Quang vẫn đang từng bước được cải thiện. Trung bình, có khoảng 9,9 bác sỹ trên 10.000 người và 2 y tá cho 1 trạm xá xã. Toàn tỉnh có 12 bệnh viện và 14 trung tâm y tế thôn bản. Số giường bệnh là 2000. Tổng số bác sỹ và nhân viên y tế lần lượt là 400 và 1.500 người. Tại xã Trung Môn có 1 trạm y tế xã được xây dựng kiên cố, với 2 giường bênh, 1 bác sĩ, 2 y sĩ, 1 dược sĩ. Khu dân cư xa nhất đến trạm y tế xã là 5 km. Theo kết quả điều tra, năm 2014 trạm y tế đã thăm khám cho khoảng 1700 người, trong đó chuyển tuyến là 53 người, điều trị ngoại trú 511 người. Trạm đã thực hiện tốt các chương trình Y tế cộng đồng, tổ chức tiêm và uống đủ 7 loại vác xin đạt 100%.

Với những trường hợp phức tạp, yêu cầu phương tiện và chuyên môn cao, bệnh nhận được chuyển lên tuyến trên là bệnh viện đa khoa huyện Yên Sơn, cách 9 km hoặc bênh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang, cách 7km.

Tại khu vực dự án: Có khoảng 28,7% được khảo sát trong tháng qua có đau ốm. Các bệnh thường gặp trong khu vực là cảm cúm, ho, sốt, cao huyết áp. Không có dịch bệnh bùng phát trong khu vực trong vòng 1 năm qua. Tỷ lệ có Bảo hiểm y tế các loại trong các hộ gia đình được khảo sát là khá cao, chiếm 80,3%. Trong đó, có tỷ lệ các loại BHYT cao nhất là xã Trung Môn với 93%. Tỷ lệ có các loại BHYT trong các hộ có thu nhập cao nhất (93,5%) cũng cao hơn nhiều so với nhóm hộ có mức thu nhập thấp nhất (68,4%).


      1. Giáo dục


Tỉnh Tuyên Quang có 1 trường cao đẳng, 3 trường dạy nghề; 10 trường nội trú khu vực và 11 huyện có trung tâm giáo dục. Năm 2014 tỉnh đã có 400 trường học và các trung tâm giáo dục thu hút 98,2% trẻ trong độ tuổi tiểu học đến trường; 85,3% trẻ tốt nghiệp cấp 1 và cấp 2; và 84% tốt nghiệp cấp 2 và cấp 3.

Tại khu vực dự án: Khoảng 90,0% dân số vùng dự án có trình độ học vấn từ bậc tiểu học đến cao đẳng/đại học trở lên, trong đó số người tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông chiếm đến hơn 60%. Tỉ lệ học cao đẳng/đại học trở lên chỉ có 6,5%. Tỷ lệ mù chữ là 1,7% và chưa đi học là 6,8%. Tỷ lệ chưa đi học của các xã vùng dự án được khảo sát là cao hơn so với mức chung của cả nước trong Niên giám thống kê 2013 (6,0%). Tỷ lệ này không có sự khác biệt lớn giữa các xã được khảo sát.


      1. Các cơ sở hạ tầng hiện có


Nguồn và mạng lưới cấp điện chính tại khu vực bao gồm: 02 tuyến đường dây 35kV từ trạm phân phối 35kV Thành phố. Nguồn và lưới cung cấp điện tại khu vực đang hoạt động bình thường.

Trong vùng dự án có các trục đường liên xã, liên thôn tương đối phát triển, hiện nay trong vùng đã có 100% các xã đường ô tô đi tới được trung tâm xã; hầu hết các công trình hạ tầng kỹ thuật khác đều có tuyến đường ô tô đến tận nơi. Tuy nhiên chất lượng còn thấp, mặt khác do thời tiết khắc nghiệt, nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp nên các công trình giao thông bị xuống cấp nhanh gây khó khăn cho việc đi lại nhất là vào mùa mưa lũ.


      1. Tài sản văn hóa


Huyện Yên Sơn có nhiều danh lam thắng cảnh như: núi Là ở Lang Quán; suối khoáng Mỹ Lâm ở Phú Lâm có thể đầu tư khai thác phục vụ cho du lịch sinh thái. Ngoài ra, tại huyện Yên Sơn còn có khu di tích lịch sử tại xã Kim Quan, khu di tích lịch sử Làng Ngòi, Đá Bàn ở Mỹ Bằng, di tích lịch sử Trường Nguyễn Ái Quốc, địa điểm Khe Lau, Km 7, hội trường Đại hội Ítxala, di tích Cay Xỏn –Phôm Vi Hản, di tích Xu Pha Nu Vong.

Vào ngày 10 tháng giêng âm lịch hàng năm, tại xã Kim Phú lại diễn ra lễ hội Giếng Tanh của người Cao Lan (hội thường kéo dài 1-2 ngày). Trong lễ hội, mọi người tham gia các trò dân gian như: đánh đu, đi cà kheo, múa hát… Tại khu vực xây dựng công trình thuộc xã Trung Môn không có lễ hội truyền thống hay sinh hoạt văn hóa nào đặc sắc. Trong khu vực thực hiện dự án tại xã Trung Môn có chùa của xã trên diện tích 0,3 ha tại xóm 11, cách vị trí xây dựng công trình khoảng 4,5 km.


      1. Giới và vai trò của phụ nữ

Công tác giới tại địa phương được thực hiện tốt. Nhìn chung, không có sự bất bình đẳng lớn về giới trong cộng đồng. Các việc lớn trong gia đình vẫn thường được nam giới và nữ giới cùng thảo luận và ra quyết định. Ở địa phương, nữ giới thường làm các công việc nông nghiệp và việc nội trợ, dọn dẹp nhà cửa. Nam giới cũng làm các công việc đó, tuy nhiên, thời gian dành cho công việc gia đình, chăm sóc con cái của nam giới thường ít hơn nữ giới khoảng 2 giờ/ngày.

Nhìn chung, phụ nữ có vai trò và vị thế quan trong như nam giới trong gia đình. Họ được tham gia vào các việc ra quyết định những việc lớn trong gia đình. Ngoài xã hội, phụ nữ cũng tham gia rất tích cực trong các hoạt động xã hội như tham gia các phong trao, các hoạt động truyền thông tại địa phương. Trong xã hội, phụ nữ cũng tham gia, có mặt trong cơ cấu các đoàn thể, cơ quan nhà nước như UBND xã, Trạm y tế, trường học. Những đơn vị này đều có phụ nữ tham gia. Theo ước tính của UBND xã, tỷ lệ nữ giới trong các đơn vị ban ngành đoàn thể và chính quyền chiếm khoảng trên 30%.

Phụ nữ và trẻ em gái đều có cơ hội bình đẳng tiếp cận các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, vui chơi giải trí. Trong các gia đình, trẻ em trai và trẻ em gái vẫn được đối xử như sau. Tuy nhiên, cũng có những hộ gia đình vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ nhưng điều đó không ảnh hưởng đáng kể tới việc tiếp cận các dịch vụ xã hội tại địa phương.



      1. Lao động, việc làm và điều kiện sống

Việc di cư mùa vụ diễn ra với cả nam và nữ, trong đó phụ nữ thường có xu hướng di cư trong phạm vi địa phương, còn nam giới lại di cư tới các tỉnh/vùng khác dẫn đến tình trạng việc lao động sản xuất nông nghiệp chủ yếu là người già, trẻ em và phụ nữ, đây cũng là một trong các vấn đề cần phải được xem xét trong mục tiêu đầu tư của dự án.


Bảng 10 - Các nhóm thu nhập phân theo giới (%)

Nội dung

Nhóm thu nhập

Tổng

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

cộng

Tổng mẫu

3,5

2,1

42,5

33,8

18,1

100,0

Theo giới chủ hộ

 

 

 

 

 

 

+ Nam chủ hộ

18,8

18,5

20,4

22,3

20,1

100,0

+Nữ chủ hộ

32,7

26,5

14,3

10,2

16,3

100,0

Về mức sống: Theo kết quả tự đánh giá về mức sống của gia đình, đa số các hộ, cả hộ nam làm chủ hộ và nữ làm chủ hộ, đều đánh giá có mức sống trung bình. Ở mức sống nghèo đói, tỉ lệ các hộ nữ làm chủ cũng cao hơn, chênh lệch ở mức thấp so với các hộ nam làm chủ 18,4% so với 12,3%).

              1. Bảng 11 - Tự đánh giá mức sống

                 Mức sống

                Khá giả

                Trung bình

                Có túng thiếu

                Nghèo đói

                Tổng

                29,1%

                63,4%

                5,0%

                2,5%

                Theo giới chủ hộ

                 

                 

                 

                 

                + Nữ chủ hộ

                8,2%

                57,1%

                16,3%

                18,4%

                +Nam chủ hộ

                8,5%

                64,2%

                15,0%

                12,3%
    1. Dân tộc thiểu số


Trong khu vực xã Trung Môn, người dân tộc thiểu số sinh sống chiếm tỉ lệ 5% (109 hộ). Xét theo dân tộc, quy mô trung bình của một hộ DTTS là 3,9 người và hộ người Kinh là 3,6 người. Tỷ lệ hộ có nghề nông-lâm-ngư nghiệp ở dân tộc Kinh là thấp hơn so với các dân tộc thiểu số (44,4% so với 65,9%).Ngược lại, tỷ lệ hộ có nghề phi nông nghiệp ở dân tộc Kinh là cao hơn các dân tộc thiểu số (2,1% so với 0,9%). Điều đáng lưu ý là 109 hộ DTTS này sống ở khu vực thượng lưu của hồ. Khu vực sinh sống của họ cách về phía thượng lưu hồ khoảng 4,5km
Tỷ lệ mù chữ đối với người DTTS rất thấp, chỉ 0,3% (con số này chỉ tập trung ở những người già trên 60 tuổi). Tỷ lệ có Bảo hiểm y tế các loại trong các hộ gia đình được khảo sát là khá cao. Đáng chú ý là tỷ lệ có các loại BHYT trong các hộ gia đình người Kinh (78,6%) là thấp hơn các hộ gia đình các dân tộc thiểu số (88,7%). Các hộ gia đình dân tộc thiểu số có tỷ lệ nhà vệ sinh không đảm bảo tiêu chuẩn thấp hơn nhiều so với các dân tộc Kinh: 17,4% so với 60,5%.


    1. Các điều kiện nền cơ bản của khu vực thi công


Hiện trạng tuyến đập:
Mặt đập đã bị hư hỏng nhiều đoạn, tạo thành những hố lõm sạt lở; mặt đường trên đỉnh đấp đã xuống cấp. Không có các thiết bị đảm bảo an toàn trên đỉnh đập như hệ thống chiếu sáng, hệ thống cọc tiêu, báo hiệu.
Mái đập thượng lưu có kết cấu bằng đất, chưa từng được gia cố để chống tác động của sóng và nước. Phần phía trên mực nước thượng lưu cỏ mọc khá đều và tốt nên mái tương đối ổn định. Phạm vi từ mực nước thượng lưu trở xuống bị xói lở nghiêm trọng do sóng đánh tạo thành hàm ếch, nhiều vị trí xói sâu 70 – 80 cm. Mái thượng lưu cách vai phải đập 140m và 230m là những vị trí cây cối mọc tốt ăn ra lòng hồ, có nhiều cây gỗ lớn. Thậm chí có nhà ở và cư dân sinh hoạt (là nhà làm việc của HTX thủy sản được chuyển nhượng cho người dân). Cũng ở các vị trí này, còn sót lại một giêng nước được đào trong lòng hồ, cách không xa đỉnh đập, nằm trên doi đất phía trong lòng hồ bên phải cống lấy nước.

Mái hạ lưu cây mọc rậm rạp, thậm chí có nhiều cây thân gỗ cao, đặc biệt nhiều là tre. Các loại cây này thường có rễ ăn sâu cũng như quá rậm rạp sẽ gia tăng các yêu tố nguy cơ mất ổn định thấm và tạo điều kiện cho động vật đào hang và mối phát triển. Một số vị trí phát hiện tổ mối hoặc dấu vết của mối trên các thân cây gỗ. Thấm xuất hiện ở một số vị trí như vai trái đập - bên cạnh tràn tháo lũ khi mực nước trong hồ lớn (theo báo cáo của cán bộ quản lý đập). Giữa lòng suối cũ và bên vai phải đập (cách đầu đập 300m) có nước thấm đọng, nước trong. Phạm vi thân đập chưa được cắm mốc và rào chắn nên vẫn còn dấu vết của việc chăn thả trâu bò trên mái đập. Ranh giới giữa phạm vi công trình và khu dân cư chưa được phân định nên dân cư sống và canh tác vào sát chân đập. Nhiều vị trí được dân rào chắn bằng cách trồng cây nên khó tiếp cận kiểm tra.



Trên mái hạ lưu chỉ quan sát thấy rãnh thoát nước dọc cơ đập. Các loại rãnh tạo ô trồng cỏ, rãnh ngang và rãnh tập trung nước ở chân đập không thấy. Không thấy dấu vết của thiết bị thoát nước thân đập và thiết bị thoát nước áp mái. Tổng chiều dài các đoạn dự kiến cần xử lý thấm khoảng 215m.



Sạt lở ở mái thượng lưu

Cây mọc trên mái thượng lưu

Thấm nước ở hạ lưu

Mái hạ lưu

(Nguồn: Báo cáo FS)

Hình 7 – Hiện trạng của tuyến đập



Tràn xả lũ. Tràn xả lũ tự do được bố trí ở vai trái đập đất; chiều rộng Btr = 5,0m; kết cấu đá xây bọc BTCT dày 10cm; Hình thức nối tiếp là dốc nước và tiêu năng bằng bể. Bề mặt tràn và đáy dốc nước được bọc BTCT còn tốt, độ dốc của đoạn cuối dốc khá lớn. Phần tường bên tràn được xây bằng đá, thời gian đã lâu, các thiết bị thoát nước bị hư hỏng tạo thành các dòng thấm dọc theo chân tường cả mặt trong lẫn mặt ngoài. Một số vị trí bị bong tróc. ). Kênh dẫn hạ lưu bị co hẹp, cây cối mọc rậm rạp làm hạn chế khả năng tháo nước. Kênh dẫn thượng lưu cong 7-10m không đủ năng lực để chuyển tải nước lũ.




Cửa vào của tràn xả lũ, bên cạnh đập



Cầu qua tràn xả lũ

Hình 8 – Hiện trạng của tràn xả lũ
Theo công ty QLKT CTTL, ở điều kiện làm việc bình thường, mực nước lũ bình thường ở qua tràn xả lũ chỉ khoảng0.3-0.5 m. Tuy nhiên, kênh hạ lưu của tràn xả lũ hiện bị bồi đắp và chặn do cây mọc dày, nước không thể chảy qua.







Tường của tràn xả lũ cao 3 m và cửa vào của tràn

Mặc dù nước từ hồ chảy qua tràn, dốc nước vẫn bị ngập do hạ lưu vị bồi lấp

Kênh dẫn tràn xả lũ bị khóa lấp do cây cối và tre nứa mọc dày

(ảnh chụp vào ngày 17/6/2015 trong điều kiện thời tiết khô ráo và không có nước qua tràn)


Hình 9: Tràn xả lũ, dốc nước và kênh hạ lưu


Cống lấy nước. Cống lấy nước nằm ở vai phải của tuyến đập được gia cố có kích thước 800mm. Đây là cống hộp có van điều tiết ở thượng lưu. Cửa lấy nước không kín nước.


Hình 10 – Cống lấy nước



Hồ chứa. Chi cục thủy sản có nuôi thử nghiệm cá lồng ở trong hồ. Quá trình nuôi trồng thử nghiệm sẽ hoàn thành và kết thúc vào tháng 11-2015. Thời gian thi công dự kiến từ đầu năm 2016.

Theo cán bộ của công ty quản lý thủy lợi, 1 doanh nghiệp tư nhân được thầu để sử dụng mặt nước hồ để nuôi trồng thủy sản.




            1. Hình 11 – Nuôi cá lồng trong hồ

Đường di chuyển tới tuyến đập. Có 2 tuyến đường đi qua khu vực xây dựng công trình:


Tuyến 1 bắt đầu từ Km6 của Quốc lộ 2 chạy doch tuyến kênh chính tới cống lấy nước và tràn xả lũ của hồ Ngòi Là 2 ở thôn Kim Sơn, xã Chân Sơn, chiều dài 2340m, rộng 4.5m. Tuyến đường sẽ được sử dụng làm đường quản lý vận hành. Tuyến chạy qua các thôn số 3, 4, 15, 1 của xã Trung Môn. Dọc đường có mật độ dân cư sinh sống thưa thớt.






Hình 12 – Tuyến số 1

Tuyến 2 chạy từ hồ Ngòi Là 1, thuộc thôn 1, xã Trung Môn đến vai đập Ngòi Là 2 tại thôn Đông Sơn, xã Chân Sơn. Tuyến đường có hiện trạng là đường đất, rộng 3 m, dốc và chỉ có 5 hộ sống dọc đường. Dọc đường chủ yếu là các loại cây dại mọc, thỉnh thoảng có trồng các cây lấy gỗ như xoan, keo. Không có hệ thống thoát nước dọc đường hoặc ngang đường. Xe cộ đi lại rất ít trên tuyến, chỉ có có một vài xe máy đi qua trong thời gian tiến hành quan sát tại tuyến đường này. Tuyến sẽ được sử dụng trong thời gian xây dựng tuyến đập. Việc vận chuyển vật liệu cũng sẽ được sử dụng trên tuyến này để giảm tải cho tuyến đường chính. Tuyến đường cũng được đề xuất nâng cấp trong TDA để làm tuyến đường đi lại trong cả giai đoạn xây dựng và vận hành.






Hình 13 – Điểm bắt đầu và kết thúc của tuyến đường quản lý


Bãi thải nằm tại thôn 3 xã Trung Môn, cách khu vực công trường 2,5km. Bãi thải có diện tích 2,06ha, dài 400 m, rộng 25 m, sâu 5 m. Đây là 1 khu đất trũng chạy dọc giữa 1 bên là đồi thấp và 1 bên là tuyến đường nhựa. Hiện tại, thực vật che phủ khu đất là các cây bụi, cây dại. ở hạ lưu phía xa là cánh đồng trồng lúa. Khu vực bãi thải được lựa chọn dựa trên quy hoạch sử dụng đất của xã.

Hình 14 – Bải đổ thải



Mỏ đất đắp. Đồi thấp nằm dọc tuyến đường số 2 được lựa chọn làm mỏ đất đắp trong trường hợp đất đào không đủ tiêu chuẩn để tái sử dụng làm đất đắp. Tương tự như khu vực bãi thải, khu đồi thấp này cũng có chủ yếu là các cây bụi, cây dại sinh sống.

Hình 15 – Mỏ đất đắp



Khu vực lán trại công nhân 1,000 m2 nằm trong hành lang an toàn của công trình. Một phần diện tích này đã bị người dân lấn chiếm trồng các cây ngắn ngày như dưa chuột, đậu, một phần để cây cỏ mọc dại.
Khu vực tập kết vật liệu bố trí tại hạ lưu của đập tại xã Trung Môn, diện tích khoảng 1,300 m2, hiện tại là khu vực có nhiều cây dại mọc.




  1. Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương