Kế hoạch quản lý môi trường (emp) – Tiểu dự án …


Hình 6 – Bình đồ khu vực dự án



tải về 5.04 Mb.
trang4/16
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích5.04 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16
            1. Hình 6 – Bình đồ khu vực dự án



      1. Danh mục nhân lực, máy mọc, thiết bị phục vụ thi công


Giai đoạn chuẩn bị giải phòng mặt bằng cần huy động khoảng 20-30 công nhân trong thời gian ngắn (1 tháng). Số lượng công nhân tập trung tại công trường vào thời kì cao điểm thi công là khoảng 50 người.

Bảng 3 - Danh mục dự kiến máy móc, thiết bị phục vụ thi công



TT

Tên thiết bị

Số lượng

1

Máy ủi 110 CV

2

2

Máy đào 1,6m3

3

3

Xe tải tự đổ 7 10 T

5

4

Máy trộn 250 lít

3

5

Máy đầm bê tong

10

6

Máy phát điện 100 KVA

2

7

Máy bơm nước 120 m3/h

2
    1. Phương pháp và tiến độ thực hiện


Tổng thời gian thực hiện TDA dự kiến là 2 năm, thi công đập, tràn xả lũ và sửa chữa cống lấy nước sẽ được ưu tiên thực hiện trong mùa khô năm đầu tiên. Việc thi công đường giao thông và các hạng mục khác sẽ được tiến hành trong năm thứ 2.

Trước khi tiến hành thi công, hồ sẽ không tích nước, duy trì mực nước trong hồ dưới cao trình +37,5m vào đầu tháng thi công thứ nhất. Tiến hành đắp đê quai tại mỗi đoạn dọc chân khay trong quá trình thi công, mỗi đoạn dài 150 tới 200m ở cao trình +38m. Trong năm đầu tiên đập sẽ thi công đến cao trình mực nước dâng bình thường +41,5m. Water will be pumped of the coffer dam before lining the dame face is started. Nước sẽ được bơm ra ngoài đê quai trước khi tiến hành thi công mặt đập.



Thi công cống lấy nước: dự kiến trong 2 tháng (từ tháng 3 đến hết tháng 4 năm đầu tiên)
  1. - CHÍNH SÁCH VÀ KHUNG LUẬT PHÁP, THỂ CHẾ



3.1 Các chính sách và quy định của quốc gia về an toàn môi trường và xã hội


Phần này cung cấp ngắn gọn những chính chác của Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng liên quan tới môi trường và xã hội. Phụ lục 1 sẽ mô tả cụ thể hơn về các chính sách và quy định này.

3.1.1 Môi trường


Luật Bảo vệ môi trường (Số 55/2014/QH13) ban hành ngày 23/6/2014 và Thông tư số 18/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14 Tháng 2 2015 về Kế hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và Kế hoạch bảo vệ môi trường là khung pháp lý quan trọng để quản lý môi trường ở Việt Nam. Luật Bảo vệ môi trường cung cấp các quy định pháp luật về hoạt động bảo vệ môi trường; biện pháp và nguồn lực được sử dụng cho mục đích bảo vệ môi trường; quyền, quyền hạn, nhiệm vụ và nghĩa vụ của cơ quan quản lý, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao nhiệm vụ với nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường được áp dụng đối với cơ quan quản lý, các cơ quan công quyền, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Luật Bảo vệ môi trường gồm quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường. Theo Điều 10, chương II Luật Bảo vệ môi trường, trách nhiệm trong chuẩn bị các kế hoạch bảo vệ môi trường được quy định như sau:

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm lập quy hoạch cấp quốc gia về bảo vệ môi trường.

  2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) chịu trách nhiệm xây dựng các quy trình hoặc chuẩn bị các kế hoạch về bảo vệ môi trường tại địa phương.

Thêm vào đó, luật cũng chỉ ra để tham khảo thêm, kiểm tra và phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường (Điều 11, Chương II) cũng như danh sách các đối tượng cần được đánh giá môi trường chiến lược được nêu trong phụ lục I và II của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ:

  • Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tham khảo ý kiến với các Bộ, cơ quan quản lý và Ủy ban nhân dân các tỉnh, ban hành văn bản và giữ trách nhiệm tư vấn chính thức cho các cơ quan quản lý và các tổ chức có liên quan trong việc chuẩn bị quy hoạch cấp quốc gia về bảo vệ môi trường.

  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tham khảo ý kiến với các sở, cơ quan quản lý và Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) bằng văn bản và giữ trách nhiệm tư vấn chính thức cho các cơ quan quản lý và các tổ chức có liên quan trong quá trình chuẩn bị quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh.

Kiểm tra và phê duyệt kế hoạch bảo vệ môi trường được yêu cầu như sau:

  • Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập Hội đồng kiểm tra liên ngành và chuẩn bị kế hoạch cấp quốc gia về bảo vệ môi trường để trình Thủ tướng Chính phủ nhằm mục đích được chấp thuận cho kế hoạch đó.

  • o Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra và phê duyệt các báo cáo quy hoạch cấp tỉnh về bảo vệ môi trường sau khi được tư vấn bằng văn bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan Chính phủ có trách nhiệm thành lập hội đồng hoặc tổ chức lựa chọn các tổ chức dịch vụ đánh giá để xem xét báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án trong phạm vi thẩm quyền quyết định và phê duyệt, trừ dự án liên ngành, liên tỉnh

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thành lập hội đồng hoặc tổ chức lựa chọn các tổ chức dịch vụ đánh giá để xem xét báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án diễn ra trong phạm vi lãnh thổ và chủ thể thẩm quyền quyết định phê duyệt của mình và của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Quản lý: Đơn vị là các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao theo quy định tại Nghị định 29/2008 / NĐ-CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.

Mục 3 Chương II của Luật BVMT mô tả các yêu cầu đánh giá tác động môi trường. Chủ của các dự án quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này cần tự thực hiện hoặc thuê tổ chức tư vấn để thực hiện việc đánh giá tác động môi trường và chịu trách nhiệm theo luật định cho kết quả kết luận sau khi tiến hành đánh giá. Việc đánh giá tác động môi trường phải được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị của dự án. Kết quả kết luận sau khi tiến hành đánh giá tác động môi trường phải được thể hiện trong các nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường. Chi phí phát sinh từ việc xây dựng và kiểm tra các báo cáo đánh giá tác động môi trường được bao gồm trong tổng ngân sách đầu tư chi trả bởi chủ dự án.

Theo Điều 21 của Luật BVMT, tham vấn được yêu cầu trong quá trình đánh giá tác động môi trường nhằm mục đích hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tham vấn cần được tập trung giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường và con người và đảm bảo sự phát triển bền vững của dự án. Chủ dự án có nghĩa vụ phải tham khảo ý kiến với các cơ quan quản lý, tổ chức và cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án.

Điều 22 của Luật BVMT mô tả phạm vi của báo cáo ĐTM. Báo cáo sẽ bao gồm: (i) nguồn gốc của dự án, chủ dự án, và các cấp có thẩm quyền của dự án, phương pháp đánh giá tác động môi trường; (ii) đánh giá các lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và mọi hoạt động liên quan đến dự án có thể gây ra những tác động xấu đến môi trường; (iii) đánh giá hiện trạng môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội tại khu vực mà dự án được thực hiện, khu vực lân cận và tính phù hợp của các trang khu công trường được lựa chọn cho dự án; (iv) đánh giá và dự báo các nguồn phát thải, và các tác động của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng; (v) đánh giá, dự báo và xác định các biện pháp quản lý rủi ro của dự án gây ra cho môi trường và sức khỏe cộng đồng; (vi) các biện pháp xử lý chất thải; (vii) các biện pháp để giảm thiểu các tác động của dự án đến môi trường và sức khỏe cộng đồng; (viii) Kết quả tham vấn; (ix) chương trình quản lý và giám sát môi trường; (x) dự toán ngân sách cho việc xây dựng công trình bảo vệ môi trường và các biện pháp được thực hiện để giảm thiểu các tác động môi trường; và (xi) các phương án áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường.

Điều 23 của Luật BVMT xác định thẩm quyền để xác minh báo cáo ĐTM. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm sắp xếp để xác minh các báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án sau đây: (a) Các dự án thuộc quyền quyết định đầu tư của Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; (b) Các dự án liên ngành, liên tỉnh quy định tại các điểm b và c khoản 1 Điều 18 của Luật này, bao gồm các thông tin thuộc các dự án bí mật trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia; và (c) Dự án do Chính phủ giao thẩm định. Bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của mình nhưng không thuộc đối tượng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt đầu tư của mình và các dự án thuộc bí mật quốc phòng, an ninh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư trên địa bàn không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

Điều 26 của Luật BVMT mô tả trách nhiệm của các chủ dự án sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Các trách nhiệm bao gồm - Khoản 1: Thực hiện các yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Khoản 2: Trường hợp thay đổi quy mô, công suất, công nghệ làm tăng tác động xấu đến môi trường so với phương án trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt nhưng chưa đến mức phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 của Luật này, chủ đầu tư dự án phải giải trình với cơ quan phê duyệt và chỉ được thực hiện sau khi có văn bản chấp thuận của cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Điều 27 của Luật BVMT giải thích trách nhiệm của chủ đầu tư trước khi đưa dự án vào vận hành. Bao gồm – Khoản 1: Tổ chức thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường theo quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; và Khoản 2: Phải báo cáo cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường kết quả thực hiện các công trình bảo vệ môi trường phục vụ vận hành dự án đối với dự án lớn, có nguy cơ tác động xấu đến môi trường do Chính phủ quy định. Những dự án này chỉ được vận hành sau khi cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường.

Điều 28 của Luật BVMT đề cập đến trách m nhiệm của cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Bao gồm Khoản 1: Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định và quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Khoản 2: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của chủ đầu tư dự án được quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này, cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường phải tổ chức kiểm tra và cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của dự án. Trường hợp phải phân tích các chỉ tiêu môi trường phức tạp thì thời gian cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của dự án có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

Điều 13 của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP explains điều kiện của tổ chức thực hiện đánh giá tác động môi trường. Khoản 1: Chủ dự án, tổ chức tư vấn khi thực hiện đánh giá tác động môi trường phải có đủ các điều kiện dưới đây – (a) Có cán bộ thực hiện đánh giá tác động môi trường đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều này; (b) Có cán bộ chuyên ngành liên quan đến dự án với trình độ đại học trở lên và(c) Có phòng thí nghiệm, các thiết bị kiểm chuẩn được xác nhận đủ điều kiện thực hiện đo đạc, lấy mẫu, xử lý, phân tích mẫu về môi trường phục vụ việc đánh giá tác động môi trường của dự án; trường hợp không có phòng thí nghiệm, các thiết bị kiểm chuẩn đáp ứng yêu cầu, phải có hợp đồng thuê đơn vị có đủ năng lực. Khoản 2: Cán bộ thực hiện đánh giá tác động môi trường phải có trình độ đại học trở lên và phải có chứng chỉ tư vấn đánh giá tác động môi trường đúng chuyên ngành và Khoản 3: Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý việc đào tạo, cấp chứng chỉ tư vấn đánh giá tác động môi trường.

Thêm vào đó, các điều quan trọng khác có liên quan được mô tả chi tiết hơn trong Phụ lục:

Điều 14: các cấp thẩm quyền cho quy mô khác nhau phê duyệt báo cáo EIA và thời hạn;

Điều 15: tái lập báo cáo ĐTM;

Điều 16: Trách nhiệm của chủ dự án liên quan đến các báo cáo ĐTM đã được phê duyệt;

Điều 17: Kiểm tra và xác nhận các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án;

Điều 21: Báo cáo.

3.1.2 Các quy định về an toàn đập


Nghị định số 72/NĐ-CP ngày 07/05/2007 của Chính phủ Việt Nam về quản lý an toàn đập. Theo Nghị định này, một con đập lớn là đập với chiều cao tính từ chân đập tới đỉnh đập bằng hoặc lớn hơn 15 mét hoặc đập của hồ chứa nước với quy mô dung tích bằng hoặc lớn hơn 3.000.000 m3 ( ba triệu mét khối). Đập nhỏ là đập với chiều cao tính từ chân đập tới đỉnh đập nhỏ hơn 15 mét. Chủ sở hữu đập là tổ chức, cá nhân sở hữu đập để khai thác các lợi ích của hồ chứa nước hoặc được giao quản lý, vận hành và khai thác hồ chứa nước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn đập. Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức thẩm định, phê duyệt hoặc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy trình vận hành hồ chứa thủy điện. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về an toàn đập trong các lĩnh vực.

Trong chương 4 của Nghị định số 18/2015/ NĐ-CP ngày 14/02/2015, từ Điều 12 đến Điều 17 đã quy định trong việc xây dựng, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, việc thực hiện các dự án và các các biện pháp giảm nhẹ được thiết kế để bảo vệ môi trường trước và sau khi dự án chính thức hoạt động. Trong Điều 12 của Nghị định này cũng liên quan đến quy trình đánh giá tác động môi trường để thực hiện dự án, chủ dự án phải tổ chức cuộc họp để tham vấn cộng đồng, chẳng hạn như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương (Uỷ ban nhân dân cấp xã) bị ảnh hưởng (trực tiếp hoặc gián tiếp) hoặc Uỷ ban nhân dân trong địa phương thực hiện dự án; phân tích các ý kiến phản hồi, ý kiến thu được từ các nhóm bị ảnh hưởng, và xem xét các tác động có lợi cũng như bất lợi của dự án đến cộng đồng để thiết kế các biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học, cộng đồng. Theo phụ lục số 2 của Nghị định, dự án phải thực hiện EIA nếu dung tích hồ chứa bằng hoặc lớn hơn 100.000m3. Theo quy định của Chính phủ Việt Nam, tất cả các tiểu dự án được đề xuất trong dự án DRSIP phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (EIA).


3.1.3 Việc thu hồi đất


Khuôn khổ pháp lý của Chính phủ Việt Nam: Các khuôn khổ pháp lý liên quan đến thu hồi đất, bồi thường và tái định cư được dựa trên Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi), và các nghị định / hướng dẫn có liên quan khác. Các văn bản pháp luật chủ yếu áp dụng cho RPF này bao gồm các nội dung sau:

  • Hiến pháp Việt Nam 2013;

  • Luật Đất đai 45/2013 / QH13 đã được áp dụng từ 1 tháng 7 năm 2014;

  • Nghị định số 43/2014 / NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Đất đai 2013;

  • Nghị định số 44/2014 / NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 cung cấp về phương pháp xác định giá đất khung giá đất được điều chỉnh, bảng giá đất; định giá giá đất cụ thể và các hoạt động tư vấn về giá đất;

  • Nghị định số 47/2014 / NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 cung cấp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất của Nhà nước;

  • Nghị định số 38/2013 / NĐ-CP ngày 23 tháng tư năm 2013, về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Thế giới;

  • Nghị định số 72/2007 / NĐ-CP ngày 07 tháng 5 2007 của Chính phủ về quản lý an toàn đập;

  • Nghị định số 201/2013 / NĐ-CP ngày vào ngày, 27 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước;

  • Thông tư số 36/2014 / TT-BTNMT ngày 30 tháng sáu năm 2014, quy định phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh giá đất; định giá đất cụ thể và định giá đất tư vấn;

  • Thông tư số 37/2014 / TT-BTNMT ngày 30 tháng sáu năm 2014, quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

  • Quyết định số 1956/2009 / QĐ-TTg, ngày 17 tháng 11 2009, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể về đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020;

  • Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg, ngày 16 Tháng Mười Một 2012, về các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp đã được Nhà nước thu hồi;

  • Các văn bản khác.

Các luật, nghị định và các quy định liên quan đến quản lý đất đai, thu hồi đất và tái định cư gồm Luật Xây dựng 50/2014/QH13, ngày 18 tháng 6 năm 2014, các hoạt động xây dựng, quyền và nghĩa vụ của tổ chức và cá nhân đầu tư vào các công trình xây dựng dân dụng và các hoạt động xây dựng; Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thay thế bằng Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06 tháng 2 năm 2013 về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 12 Tháng 2 năm 2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng và thay thế Nghị định 16/2005/NĐ-CP, Nghị định 38/2013/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý và sử dụng chính thức Quỹ Hỗ trợ phát triển (ODA), và Nghị định 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật hôn nhân và gia đình, quy định rằng tất cả các văn bản đăng ký tài sản gia đình và quyền sử dụng đất phải ghi tên của cả vợ và chồng; Quyết định của các tỉnh dự án liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh cũng sẽ được áp dụng cho mỗi tỉnh dự án có liên quan.

3.1.4 Người dân tộc bản địa/dân tộc thiểu số


Việt Nam có một khá nhiều các chính sách và các chương trình được thiết kế đặc biệt để hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số. Chính phủ Việt Nam (GOV) đã rất quan tâm đến phúc lợi của các nhóm dân tộc thiểu số này. Ủy ban Dân tộc và Miền núi la cơ quan chính phủ ngang Bộ, được giao các chức năng phụ trách quản lý người dân tộc thiểu số và miền núi. Một hồ sơ quốc gia của Việt Nam được xuất bản bởi Nhóm quốc tế làm việc về các vấn đề bản địa (IWGIA) báo cáo rằng:

“Người bản địa là công dân của nhà nước Việt Nam và hưởng các quyền hiến pháp bảo đảm với các ngôn ngữ và truyền thống văn hóa .... Ở cấp độ lập pháp, "Hội đồng Dân tộc" có nhiệm vụ tham mưu cho Quốc hội về vấn đề dân tộc thiểu số và giám sát, kiểm soát việc thực hiện các chính sách dân tộc thiểu số của chính phủ và các chương trình phát triển ở các vùng dân tộc thiểu số.”



Tài liệu này cũng báo cáo rằng từ những năm 1960, một số chính sách và các chương trình đã được thiết kế đặc biệt cho các dân tộc thiểu số, nhưng chủ yếu là nhằm mục đích gắn kết họ vào với xã hội chứ không phải cho phép tăng cường các thể chế của họ. Về vấn đề đất đai, báo cáo cũng nêu rằng "điểm nổi bật là hiện nay pháp luật tại Việt Nam cho phép cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, trong năm 2004, Quốc hội đã thông qua một luật đất đai mới, phù hợp nhất cho người dân bản địa, hiện nay bao gồm các chủng loại "đất xã". Bằng việc giới thiệu các khái niệm về đất xã, luật mới quy định về khả năng của cộng đồng để xin giấy chứng nhận đối với đất đai.

3.2 Những ảnh hưởng của chính sách quốc gia và quy định về các dự án được đề xuất


Dựa trên phân tích của các khuôn khổ pháp lý quốc gia, dự án sẽ phải thực hiện các yêu cầu và quy trình tối thiểu sau đây:

  • PPMU hoặc các công ty tư vấn tiến hành ĐTM phải có cán bộ có ít nhất bằng đại học trở lên phụ trách ĐTM và Giấy chứng nhận thực hiện tư vấn ĐTM. Các đơn vị này cần có đủ năng lực để thực hiện việc đo đạc, lấy mẫu, xử lý và phân tích các mẫu môi trường phục vụ các EIA (Điều 13 của Nghị định).

  • Xem xét bản chất của các tiểu dự án, Ủy ban nhân dân tỉnh (PPC) phải đánh giá và phê duyệt báo cáo ĐTM (Điều 14 của Nghị định). UBND tỉnh sẽ thu xếp để xác minh các báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh (Điều 23 của Luật BVMT).

  • Việc kiểm tra báo cáo ĐTM được thực hiện bởi các Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM được thành lập bởi những người đứng đầu cơ quan thẩm định báo cáo với ít nhất 07 thành viên. Thành viên của Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM sẽ bao gồm 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch, 01 thành viên thư ký, 02 thành viên phản biện và các thành viên khác, trong đó ít nhất 30% các thành viên hội đồng đánh giá có ít nhất 06 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực EIA (Điều 14 của Nghị định).

  • Thời hạn thẩm định báo cáo ĐTM là trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn xin thẩm định hợp lệ (Điều 14 của Nghị định).

  • PPMU sẽ phải tuân thủ các yêu cầu và quy định trong việc phê duyệt báo cáo EIA. Đối với bất kỳ sự thay đổi, chủ dự án phải văn bản giải thích tới PPC (Điều 26 của Luật BVMT).

  • PPMU sẽ phải thông báo cho UBND tỉnh và các đập được sửa chữa sẽ được bắt đầu sau khi các cơ quan phụ trách việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được kiểm tra và chứng nhận hoàn thành công tác bảo vệ môi trường (Điều 27 của Luật BVMT).

  • PPMU sẽ chuẩn bị một báo cáo hoàn thành cho công tác bảo vệ môi trường và trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, UBND tỉnh phải kiểm tra và cấp giấy chứng nhận hoàn thành công tác môi trường (Điều 28 của Luật BVMT).

  • Việc kiểm tra các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của các tiểu dự án được thực hiện bởi một đoàn thanh tra được thành lập bởi các lãnh đạo của PPC (Điều 17 của Nghị định).

  • UBND tỉnh có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá và phê duyệt báo cáo ĐTM, đăng ký và kiểm tra kế hoạch bảo vệ môi trường cụ thể, kiểm tra và phê duyệt cho các công trình bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh trong những năm trước đó đến Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 15 tháng 1 hàng năm (Điều 21 của Nghị định).

  • Bộ NN & PTNT có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá và phê duyệt báo cáo ĐTM, kiểm tra và phê duyệt cho các công trình bảo vệ môi trường của các năm trước liên quan đến dự án do mình quản lý đến Bộ Tài nguyên và Môi trường trước 15 tháng 1 hàng năm (Điều 21 của Nghị định).

3.3 Chính sách an toàn của Ngân hàng thế giới

Mục tiêu của chính sách an toàn là để ngăn chặn và giảm thiểu tác động không đáng có cho người dân và môi trường trong quá trình phát triển. Chính sách an toàn cung cấp một nền tảng cho sự tham gia của các bên liên quan trong thiết kế dự án, và thực thi như một công cụ quan trọng để xây dựng sở hữu giữa người dân địa phương.

Hiệu quả và việc hình thành tác động của các dự án và các chương trình hỗ trợ của Ngân hàng đã tăng lên đáng kể như là kết quả của việc xem xét đến các chính sách này. Các chính sách an toàn của Ngân hàng Thế giới được cung cấp ở các trang web của Ngân hàng: http://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/PROJECTS/EXTPOLICIES/EXTSAFEPOL/0,,menuPK:584441~pagePK:64168427~piPK:64168435~theSitePK:584435,00.html.

3.4 Ý nghĩa của chính sách an toàn của Ngân hàng thế giới đối với các dự án được đề xuất

Tám chính sách của Ngân hàng Thế giới đã được kích hoạt cho các dự án bao gồm: Đánh giá môi trường (OP/BP 4.01), Môi trường sinh sống tự nhiên (OP/BP 4.04), Quản lý dịch hại (OP/BP 4.09), Tài nguyên vật lý văn hóa (OP/BP 4.11), người bản địa (OP/BP 4.10), Tái định cư không tự nguyện (OP/BP 4.12), An toàn Đập (OP/BP 4.37) và Dự án Đường thủy Quốc tế (OP/BP 7.50).

Theo WB Chính sách hoạt động (OP 4.01), bản chất của việc đánh giá môi trường phải được thực hiện trong một tiểu dự án cụ thể phần lớn sẽ phụ thuộc vào danh mục của các tiểu dự án. Như đã đề cập trước đó, Chính sách hoạt động của Ngân hàng Thế giới (OP) 4.01 phân loại các dự án thành ba loại chính (nhóm A, B và C), tùy thuộc vào loại, vị trí, độ nhạy, quy mô của dự án, tính chất và mức độ của tác động tiềm tàng. Xem xét các rủi ro môi trường và sự phức tạp liên quan đến một số lượng lớn các tiểu dự án được thực hiện trong một khu vực rộng rãi, dự án đã được xếp vào hạng "A". Tuy nhiên, các tiểu dự án được tài trợ trong dự án có thể được phân loại là 'A' hoặc 'B' hoặc 'C' tuỳ theo mức độ, phạm vi và tác động của các tiểu dự án cụ thể.

Các hoạt động thể chất của dự án sẽ được thực hiện trên các con đập hiện có và có thể sẽ không dẫn đến chuyển đổi hoặc suy thoái của môi trường sống tự nhiên quan trọng hoặc bán quan trọng. Tuy nhiên, cần thiết phải xem xét phạm vi, sang lọc và đánh giá tác động tiềm năng như là một phần của đánh giá tác động MT-XH tiểu dự án. Dự án sẽ không tài trợ cho bất kỳ việc mua sắm các loại phân bón và thuốc trừ sâu nào.

Tuy nhiên, do đập được nâng cấp, sửa chữa diện tích nông nghiệp có thể được tăng lên, sử dụng các loại phân bón và thuốc trừ sâu trong các khu ruộng được phục vụ của dự nhiều có thể tăng lên. Dự án sẽ thúc đẩy việc áp dụng Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và hướng dẫn đã được bao gồm trong ESMF.

Do vị trí chính xác của tiểu dự án chưa được biết ở giai đoạn này, có khả năng một số tuyến đường đi lại được nâng cấp sửa chữa có thể đi qua các khu vực có tài nguyên văn hóa vật thể. Các tác động này sẽ được xem xét như là một phần của việc sàng lọc môi trường / đánh giá của các tiểu dự án khác nhau. Ngoài ra, thủ tục “Phát hiện” cần phù hợp với pháp luật địa phương về di sản sẽ được đánh giá để không làm ảnh hưởng đến bất kỳ nguồn lực vật chất, văn hóa nào.

Dự án có thể can thiệp vào khu vực nơi người dân bản địa sống (địa điểm cụ thể của tiểu dự án sẽ được xác định trong quá trình thực hiện). Ngoài ra, dự án có thể yêu cầu thu hồi đất và tái định cư. Như vậy, một khung chính sách dân tộc (EMPF) và Khung chính sách tái định cư (RPF) là bắt buộc đối với dự án và sẽ được chuẩn bị riêng.

Dự án sẽ không tài trợ xây dựng bất kỳ con đập mới nào hoặc thay đổi đáng kể trong cơ cấu đập. Chính sách này được kích hoạt như các dự án sẽ tài trợ phục hồi và cải tạo các đập hiện có bao gồm cả các đập lớn (chiều cao 15 mét hoặc hơn). Vì vậy, nó đòi hỏi phải sắp xếp một hoặc nhiều hơn các chuyên gia đập độc lập để (a) Kiểm tra, đánh giá tình trạng an toàn của các đập hiện có, các công trình phụ trợ của nó, và lịch sử hoạt động của đập; (b) xem xét và đánh giá các thủ tục của chủ sở hữu đối với các hoạt động và bảo dưỡng; và (c) cung cấp cho báo cáo bằng văn bản về các phát hiện và khuyến nghị cho bất kỳ công việc sửa chữa hoặc nâng cao an toàn nào cần thiết liên quan để nâng cấp các đập hiện có để một hiệu quả theo đúng yêu cầu về an toàn. Chính sách và thực tiễn liên quan đến an toàn đập cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, chẳng hạn như khung quy định Ngân hàng Thế giới cho an toàn đập. Những biện pháp này được thiết kế thành các dự án, trong đó bao gồm việc thành lập một ban đánh giá an toàn đập (DSRP). Ngoài ra dự án sẽ thành lập Hội đồng độc lập các chuyên gia về an toàn đập (PoE), người sẽ thực hiện đánh giá độc lập các báo cáo an toàn đập và các biện pháp giảm thiểu đề xuất. PoE này sẽ làm việc chặt chẽ với các DSRP đã được lập để đảm bảo tính toàn vẹn của các can thiệp đầu tư kỹ thuật. Mỗi tiểu dự án sẽ có Kế hoạch An toàn đập riêng biệt (DSP) ngoài các ESIA

Có sáu lưu vực sông xuyên biên giới trong nước; Tuy nhiên Việt Nam là thượng nguồn duy nhất trong lưu vực sông Sê-san-Srepok - một nhánh của sông Cửu Long, thượng nguồn của Campuchia, và lưu vực Bằng Giang-Kỳ Cùng, thượng nguồn của Trung Quốc. Vì vậy, dự kiến rằng một số các đập sẽ được đặt trên các lưu vực sông quốc tế, và do đó chính sách Dự án đường thủy quốc tế được kích hoạt.

Các hướng dẫn của WB cung cấp hướng dẫn về các vấn đề EHS nhất định, trong đó bao gồm các tiêu chuẩn cho các thông số môi trường (chất lượng không khí xung quanh, nước và chất lượng nước thải, độ ồn, quản lý chất thải), nguy cơ và phòng ngừa tai nạn nghề nghiệp, sức khỏe cộng đồng và an toàn (trong thời gian vận hành và công trình ngừng hoạt động ), vv. Những nguyên tắc này sẽ được áp dụng trực tiếp cho các dự án được đề xuất. Như một quy luật chung, các hướng dẫn của WB cần phải bổ sung các hướng dẫn hoặc tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam. Trong trường hợp các hướng dẫn hay tiêu chuẩn Việt Nam khác với hướng dẫn WB, dự án sẽ theo dõi nghiêm ngặt hơn.



Việc tiếp cận các chính sách thông tin của WB để sẽ được thực hiện trực tiếp. Dự án sẽ thực hiện đánh giá môi trường/xã hội và các văn bản ESMF sẽ được phổ biến cho cộng đồng thong qua việc công khai trên trang web của WB. Ngoài ra, bản sao cứng của các tài liệu bằng tiếng Anh (bao gồm cả ngôn ngữ tiếng Việt) sẽ được cung cấp tới Bộ NN & PTNT và tất cả các Sở NN & PTNT.



  1. Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương