ĐIỀu tra tình hình bệnh sâu răng tại các trưỜng tiểu học huyện long thành năm họC 2011



tải về 270 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu06.12.2017
Kích270 Kb.
#4015

KHẢO SÁT BỆNH SÂU RĂNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CHIỀU CAO, CÂN NẶNG Ở HỌC SINH MẪU GIÁO XÃ TAM AN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI NĂM HỌC 2011 - 2012

Bs Nguyễn Thị Bạch Lang
1- Đặt vấn đề:

Trong những năm gần đây, bệnh sâu răng đã giảm một cách đáng kể ở các nước phát triển, chủ yếu là do việc sử dụng kem đánh răng có Fluor và tác dụng của các chương trình chăm sóc sức khoẻ răng miệng. Nhưng ở các nước đang phát triển, sâu răng vẫn có xu hướng gia tăng. Làm sao để giảm tỉ lệ mắc bệnh răng miệng trong cộng đồng là vấn đề cấp thiết, là vấn đề sức khoẻ cần quan tâm.

Nghiên cứu năm 2006 của Bs Nguyễn Thị Bảy, tỉ lệ sâu răng của học sinh trường điểm (tiểu học Long Thành A) sau 15 năm thực hiện chương trình nha học đường là 55,3%.

Để góp phần nghiên cứu xác định tỷ lệ sâu răng của học sinh mẫu giáo, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này trên nhóm trẻ từ 3 đến 5 tuổi tại các trường mẫu giáo xã Tam An huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai năm học 2011-2012. Đây là một xã có điều kinh tế xã hội còn thấp, dân số đa phần sống nghề nông, nhưng hiện nay đã thành lập khu công nghiệp nên trẻ em từ 3 đến 5 tuổi thuộc nhiều tầng lớp có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, nhằm có dữ liệu làm cơ sở cho việc chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo.

Trong nghiên cứu, chúng tôi phân tích ảnh hưởng của sâu răng lên 2 chỉ tiêu chính của sự tăng trưởng là chiều cao và cân nặng của trẻ. Từ đó, đề nghị các biện pháp phòng bệnh răng miệng thích hợp cho trẻ em lứa tuổi mẫu giáo như giáo dục vệ sinh răng miệng đối với phụ huynh và học sinh, vệ sinh dinh dưỡng, phòng ngừa sâu răng bằng Fluor và trám bít hố rãnh…

2- Mục tiêu:

2.1.Mục tiêu tổng quát:

Khảo sát tình hình sâu răng ở học sinh mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi tại xã Tam An huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai và ảnh hưởng của nó đối với chiều cao và cân nặng của trẻ.



2.2. Mục tiêu cụ thể:

1- Xác định tỷ lệ sâu răng và chỉ số sâu mất trám (smt) của học sinh lứa tuổi 3-5 tuổi.

2- Xác định tỷ lệ sâu răng và chỉ số sâu mất trám (smt) của học sinh lứa tuổi 3-5 tuổi theo các yếu tố: giới, chiều cao, cân nặng.

3- Xác định mối liên quan giữa các yếu tố tuổi, giới, chiều cao, cân nặng với tình trạng sâu răng của học sinh.



3- Liệt kê biến số

* Biến số phụ thuộc: Sâu răng của học sinh. Mất răng của học sinh. Trám răng của học sinh

* Biến số độc lập: Các yếu tố liên quan:

+ Giới tính của học sinh

+ Chiều cao của học sinh.

+ Cân nặng của học sinh.


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1. Dịch tể học của bệnh sâu răng:

1.1. Trên thế giới:

- Trên thế giới, môn học về răng miệng đã có từ lâu và đã là một ngành riêng biệt, có bệnh viện và trường học riêng vì bệnh răng và miệng rất phổ biến. Mặc dù các vấn đề về răng miệng không gây ra những nổi lo sợ tức thời như nhẹ cân khi sinh, thai chết lưu hoặc dịch tả, nhưng các vấn đề răng miệng gây hậu quả làm hao mòn thể lực của trẻ….Trẻ trở nên quen thuộc với cảm giác đau thường xuyên, chúng đi ngủ với cảm giác đau, chúng đi học với cảm giác đau… Trẻ chung sống với cảm giác đau, và cảm giác này tăng dần cho đến khi trẻ không còn chịu đựng được.

Sâu răng ảnh hưởng trên phần đông dân số ở tất cả các nước trên thế giới. Theo dữ kiện của gần 50 quốc gia trên thế giới hiện nay sự phát triển của sâu răng có hai khuynh hướng:

- Tại các nước phát triển: sâu răng giảm rõ rệt từ mức độ cao xuống còn trung bình hay thấp.

- Trong khi tại các nước đang phát triển, sâu răng có khuynh hướng ngược lại, tăng từ thấp đến trung bình hay cao. Tại các nước này, cùng với sự phát triển kinh tế, công nghệ thực phẩm như: bánh kẹo, nước ngọt, nước giải khát... phát triển theo nhu cầu và thị hiếu của người dân. Phụ huynh có tiền cho con em ăn nhiều quà vặt trong khi ngành Y tế thiếu những biện pháp dự phòng hữu hiệu, giáo dục sức khoẻ nha khoa chưa đến được với đa số nhân dân.

Đã có nhiều nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ sâu răng ở bộ răng sữa. Nhiều trẻ bị sâu sớm, có trẻ từ 12 tháng tuổi đã bị sâu răng.



1.2. Tại Việt Nam: Theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2000/2001 của Viện Răng Hàm Mặt phối hợp với Đại học Adelaide, thì tình trạng sâu răng sữa trẻ em ở mức độ nghiêm trọng cả về tỉ lê mắc và mức độ từng cá thể ( 84,9% và 5,4 răng), tỷ lệ sâu răng chung toàn quốc không cao do sự khác nhau rõ rệt giữa 2 miền Nam và Bắc. So sánh sâu răng giữa 2 miền, tỷ lệ % sâu răng và Sâu Mất Trám trung bình ở miền Nam rất cao so với miền Bắc.

2. Một số định nghĩa:

2.1. Sâu răng lan nhanh: là dạng đa sâu răng nặng có thể ảnh hưởng đến bộ răng sữa hoặc răng vĩnh viễn, xuất hiện đột ngột, lan rộng, xuất hiện ở các mặt răng và nhanh dẫn đến tổn thương tuỷ.

2.2. Sâu răng do bú bình: là một dạng đa sâu răng khác, có nguyên nhân từ cách nuôi dưỡng, khi trẻ chưa được 20 tháng tuổi, đưa đến dạng sâu răng lan nhanh, do việc sử dụng không thích hợp bình sữa có pha thêm chất ngọt cho trẻ bú vào giờ ngủ; hoặc trẻ ngậm vú cao su có tẩm chất ngọt hoặc ngậm vú mẹ khi ngủ cũng góp phần gây ra dạng sâu răng này.. Sâu răng do bú bình là một dạng đặc biệt của sâu răng lan nhanh nhưng thường các răng cửa hàm dưới không bị sâu (do các răng cửa hàm dưới được lưỡi và môi dưới che chở, bảo vệ cho các răng không tiếp xúc với các chất gây sâu răng, đồng thời cũng được nước bọt bao phủ.

3. Những yếu tố nguy cơ của sâu răng::

Nguyên nhân thường được nhắc đến nhiều nhất là thời gian sử dụng các chất ngọt kéo dài, nhất là bú bình lúc đi ngủ hoặc vào giường với bình sữa cho đến khi ngủ.



4. Các nghiên cứu về sâu răng trên cân nặng và chiều cao trẻ em:

- Các số đo tăng trưởng thể chất là những tiêu chuẩn thích hợp để đánh giá sự phát triển trong những năm đầu đời của trẻ. Cân nặng, chiều cao là những số đo cơ bản nhất, đặc biệt có ích trong việc theo dõi sự tăng trưởng của từng trẻ trong sáu năm đầu.

- Sâu răng có thể là yếu tố góp phần làm cho trẻ kém tăng trưởng.. Những khó khăn khi nhai do mất răng sẽ đưa đến nhiều vấn đề nhất là kém phát triển.

- Nghiên cứu về cân nặng của trẻ sâu răng cho thấy nếu không được điều trị dạng bệnh này có thể ảnh hưởng không tốt đến sự tăng cân.

- Nếu chữa trị kịp thời sâu răng ở trẻ em vào giai đoạn sớm có thể duy trì sức khoẻ tốt bên cạnh ngăn ngừa cảm giác đau và sự nhiễm trùng.

5. Bệnh sâu răng:

5.1. Nguyên nhân:

Sâu răng là bệnh răng miệng phổ biến nhất, bệnh phức tạp do nguyên nhân chính là vi khuẩn sống trong mảng bám răng tiêu thụ đường và sinh ra acid phá vở cơ cấu men và tạo lỗ sâu.

Đây là tình trạng phá hủy men và ngà răng, khởi đầu là mất chất khoáng trên bề mặt men răng, sau đó tiếp tục phá hủy chất men và ngà.

5.2. Tiến trình phát triển sâu răng:

Sâu răng bắt đầu từ men răng ở giai đoạn sớm nhất không có triệu chứng. Dấu hiệu đầu tiên có thể nhìn thấy là đổi màu men răng ta có thể thấy trong thân răng có một màu nâu nhạt hay đen do chất khoáng bị phá hủy, lúc đó chưa có lỗ sâu do còn nhiêù chất khoáng chưa bị phá hủy, men răng có thể lành nêú như răng luôn giữ sạch và không bị acid tiếp tục tấn công. Fluor rất hữu ích để giúp lành men răng ở giai đoạn này.

Nếu không trám răng, lỗ sâu răng bị tiếp tục phá hủy và lớn dần đến tủy răng, lúc này bệnh nhân đau nhức nhiều, đau tự nhiên, không kích thích cũng đau.

Sâu răng tiến triển ở hệ răng sữa giống như hệ răng vĩnh viễn. Tuy nhiên do răng sữa nhỏ hơn răng vĩnh viễn, lớp men và ngà răng mỏng hơn nên đến tủy nhanh hơn.



5.3. Chẩn đoán:

Khám thực thể trên răng có lỗ sâu của men hoặc ngà răng.

Triệu chứng đau của bệnh nhân giúp ta chẩn đoán sâu men, sâu ngà nông, sâu ngà sâu.

5.4.Điều trị:

Điều trị sâu răng chủ yếu là điều trị tại chỗ.



5.5.Phòng bệnh:

* Phòng ngừa bệnh sâu răng:

- Điều quan trong nhất là ta nên phòng bệnh cho mọi người bằng phương pháp truyền thông giáo dục để họ hiểu tác hại của bệnh sâu răng và hướng dẫn họ biết cách vệ sinh răng miệng đúng phương pháp đối với người lớn và trẻ em.

- Hạn chế ăn đường và quà vặt có đường.

- Lấy sạch mãng bám bằng cách chãi răng đúng cách sau khi ăn và buổi tối trước khi đi ngũ.

- Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần.

- Lấy sạch cao răng.

- Dùng Fluor dưới nhiều hình thức: nước uống có fluor, chãi răng với kem có fluor nhằm gia tăng sự cứng chắc của men răng.

* Kiểm soát bệnh sâu răng:

Có thể ngăn chận sâu răng ở giai đoạn sớm bằng cách chãi răng thật sạch và dùng fluor. Nếu hố rãnh sâu có thể dùng chất trám bít hố rãnh, nếu lỗ sâu đến ngà răng thì nên trám sớm lỗ sâu lại.


CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

2.1.1. Dân số mục tiêu: Gồm tất cả trẻ trong độ tuổi từ 36 tháng đến 72 tháng sống trên địa bàn xã Tam An năm 2012.

2.1.2 Dân số chọn mẫu:

Dân số chọn mẫu trong nghiên cứu này là tất cả trẻ đang theo học tại các trường mẫu giáo công và tư tại xã Tam An huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai.



2.1.3. Cỡ mẫu:

- Áp dụng công thức tính cở mẫu cho ước lượng một tỉ lệ:



* Với:


- p là tỷ lệ ước đoán mắc sâu răng tính chung toàn huyện là 79% (p= 0,79);

- d là độ chính xác mong muốn, lấy bằng 0,05;

- Z1-α/2 là hệ số tin cậy, bằng 1,96 với độ tin cậy 95%;

* Ta tính được n = 260;

* Hệ số thiết kế là 1.5. Như vậy, tổng số mẫu điều tra ít nhất sẽ là 1.5 x 260 = 390 học sinh.

2.1.4 Kỹ thuật chọn mẫu:

Tất cả học sinh trong các lớp của trường mẫu giáo công và dân lập sẽ đưa vào nghiên cứu.


2.1.5 Tiêu chí chọn mẫu:

- Tiêu chí đưa vào: Các học sinh học tại trường mẫu giáo xã Tam An huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai.

- Tiêu chí loại ra: học sinh vắng mặt, bị dị tật bẩm sinh ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của răng như: sứt môi, hở hàm ếch, không hợp tác.
2.1.6. Các sai sót có thể gặp và cách khắc phục:

- Sai số ngẫu nhiên: bằng cách tăng cỡ mẫu.

- Hạn chế tình trạng mất mẫu: tiến hành khám đánh giá tình trạng sức khoẻ răng miệng của học sinh và thực hiện khám thể lực của học sinh vào thời điểm thích hợp để đảm bảo tất cả học sinh được khám đầy đủ (liên hệ trước với Ban Giám hiệu nhà trường xin khám tại lớp học)

- Kỹ thuật khám răng: Chuẩn bị đầy đủ bộ dụng cụ khám chuyên khoa RHM do Bác sỹ chuyên khoa trực tiếp khám. Đọc và ghi nhận các răng sâu cho người ghi điền vào phiếu khám.

Thư ký ghi chép là Bs chuyên khoa nha, có kinh nghiệm về công tác điều tra sức khoẻ răng miệng.

- Kỹ thuật khám thể lực: do Y sỹ đa khoa đo chiều cao và cân nặng trẻ vào buổi sáng lúc 7g30 đến 9g30, bởi cùng loại dụng cụ.



* Cách đo chiều cao:

- Khi đo trẻ đi chân đất, chụm 2 gót chân sát tường tạo thành chữ V, mông, lưng và chẩm chạm tường, mặt hướng ra trước.



* Cách cân nặng trẻ: Trẻ đứng trên cân, người thẳng, tay buông xuôi, không cử động.

2.2. Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:

Được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả. phân tích.



* Mô tả:

- Tỉ lệ sâu răng và sâu mất trám trung bình ở học sinh mẫu giáo.

- Tỉ lệ sâu răng của học sinh phân bố theo các yếu tố: giới tính, tuổi.

* Phân tích:

Phân tích mối liên quan giữa tình trạng sâu răng học sinh với các yếu tố: Giới, tuổi, chiều cao, cân nặng của học sinh.



2.2.2. Phương tiện nghiên cứu:

2.2.2.1. Phương tiện khám điều tra tình trạng răng miệng:

- Bộ dụng cụ khám răng miệng: Gương, Thám trâm, khay, dung dịch sát khuẩn.

- Phiếu khám ( theo mẫu của Tổ chức Sức khoẻ Thế giới, 1997).

2.2.2.2 Phương tiện đo chiều cao và cân nặng: Dùng cân do Công ty Thiên Hoà sản xuất và thước đo chiều cao bằng gỗ có chia vạch do TTCSSKSS cấp chương trình Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em.

2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu:

- Đánh giá tình trạng sâu răng của học sinh và ghi nhận kết quả qua phiếu khám răng miệng do bác sỹ chuyên khoa răng hàm mặt thực hiện.

- Các thông tin về cân nặng và chiều cao trẻ được ghi nhận trên phiếu khám răng miệng.

2.4 Xử lý dữ liệu:

Các số liệu thu thập từ phiếu khám được nhập vào máy vi tính và dùng để phân tích thống kê, sử dụng phần mềm : EPI- DATA, STATA 8.0( Phần xử lý thống kê do KS Hà Thạch Thảo, cán bộ Phòng TTGDSK Trung tâm Y tế Long Thành thực hiện).



2.4.1 Thống kê mô tả:

- Trình bày các bảng tỷ lệ (% ) sâu răng và chỉ số sâu mất trám (smt) ở trẻ 3 đến 5 tuổi

- Số trung bình và độ lệch chuẩn của các biến số chiều cao, cân nặng của trẻ 3 đến 5 tuổi..

- Tỉ lệ sâu răng ở học sinh nữ, học sinh nam.



2.4.2 Thống kê phân tích:

- Dùng t-test và test ANOVA để xác định sự khác biệt của hai hay nhiều số trung bình cân nặng và chiều cao giữa các nhóm không sâu răng và sâu răng, chỉ số smt giữa 3 độ tuổi, tỷ lệ suy dinh dưỡng giữa số trẻ sâu răng và và số trẻ không sâu răng.


CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Các đặc tính của mẫu nghiên cứu:

Bảng 3.1:Đặc tính giới tính của mẫu nghiên cứu:




Tuổi

Tần số

Tổng cộng

Nam

Nữ

3

41

36

77

4

37

54

91

5

148

116

264

Tổng cộng

226

206

432

Tỉ lệ nam, nữ: gần bằng nhau

Bảng 3.2: Đặc tính về tình trạng sâu răng của học sinh:


Đặc tính

Số học sinh được khám

Tỉ lệ ( % )


Sâu răng

319

73,8


Không sâu răng

113

26.2


Tổng cộng

432

100




Bảng 3.3: Chỉ số sâu mất trám răng trung bình của học sinh:




Đặc tính

Tần số

Trung bình


smt

2.172

5,02

Chỉ số sâu mất trám răng trung bình của học sinh là 5,02


Bảng 3.4: Tỷ lệ bệnh sâu răng và smt trên học sinh 3,4,5 tuổi.


Tuổi

Số học sinh khám

Tỷ lệ % sâu răng

Smt
TB ĐLC

3

77

36,3

1,973 3,28


4

91

62,6

3,42 3,73


5

294

88,6

6,36 4,28

Theo phân loại về tỷ lệ (%)bệnh sâu răng và chỉ số sâu mất trám(smt) của Tổ chức sức khoẻ thế giới:

Tỷ lệ phần trăm bệnh sâu răng Chỉ số smt

> 80% >4,4smt : Cao

50-79% 2,7-4,4smt : Trung bình

< 50% 1,2-2,6smt : Thấp

0-1,1smt : Rất thấp

Trẻ em trong mẫu nghiên cứu ở xã Tam An có: ( Bảng 3.5)


  • Tỷ lệ bệnh sâu răng và chỉ số smt/răng lứa tuổi 3 ở mức thấp.

  • Tỷ lệ bệnh sâu răng và chỉ số smt/răng lứa tuổi 4 ở mức trung bình

  • Tỷ lệ bệnh sâu răng và chỉ số smt/răng lứa tuổi 5 ở mức cao.

Tỷ lệ bệnh sâu răng và chỉ số smt ở 3 độ tuổi khác nhau có ý nghĩa thống kê (p= 0,000).

Tỷ lệ sâu răng, chỉ số smt tăng dần theo tuổi từ 36,3% và 1,973 ở 3 tuổi lên 88,6% và 6,36 ở 5 tuổi.

Bảng 3.5. Tỷ lệ học sinh sâu răng và smt trong mẫu nghiên cứu theo giới, từ 3-5 tuổi.



Giới

Sâu răng

Smt





( Tỷ lệ %)

TB

ĐLC


Nam

171 (75,6%)

5

4,36


Nữ

148 (65,4%)

5.05

4,49

Bảng 3.6. Tỷ lệ học sinh sâu răng trong mẫu nghiên cứu theo giới từ 3-5 tuổi:




Giới

Có sâu răng

Không sâu răng

Tổng cộng

Nam

171 (53,61)

55 (48,7%)

226


Nữ

148 (46,39)

58 (51,3%)

206


Tổng cộng

319

113

432

Không có sự khác biệt về tỷ lệ sâu răng, chỉ số smt giữa trẻ nam và trẻ nữ (p = 0,367) và (p = 0,890); không có mối liên quan giữa giới tính và tình trạng sâu răng, không có ý nghĩa thống kê.

Bảng 3.7. Tỷ lệ % trẻ có sâu (s) răng, mất (m) răng, trám (t) răng:


Số trẻ khám

sâu

mất

Trám

n

tỷ lệ %




tỷ lệ %






319

73,8

23

5,3

3

0,69

Số trẻ bị sâu răng là 319 (tỷ lệ 73,8%), số trẻ mất răng là 23 (5,3%), số trẻ trám răng là 3 (0,69). Điều này cho thấy tình trạng trám răng để phục hồi còn quá ít, chứng tỏ bệnh sâu răng ở lứa tuổi mẫu giáo không được cha mẹ và Trạm Y tế xã, Phòng Giáo dục quan tâm và chú trọng việc điều trị.



3.2 Ảnh hưởng của sâu răng trên chiều cao và cân nặng của trẻ

Bảng 3.2.1. So sánh chiều cao (cm) và cân nặng (kg) ở trẻ 3,4,5 tuổi giữa nhóm có sâu răng và và không sâu răng:




Tuổi




Số hs không sâu răng

()

Số hs có sâu răng

()

P



3

77

Cao (cm)
Cân nặng (kg)



49

92,14 (4,68)


14,53 (1,74)

28

89,89 (4,48)


14,55 (1,91)

0,970

0,990




4

91

Cao (cm)
Cân nặng (kg)



34

98,11 (8,49)


17,02 (5,27)

57

105,2 (8,28)


17,24 (3,94)

0,051
0,1312





5

264

Cao (cm)
Cân nặng (kg)



30

108,69 (7,24)


20,23 (6,3)

234

108,47 (5,88)


18,68 (6,3)

0,84
0,0497



Sự sai lệch về chiều cao và cân nặng của trẻ 3,4 tuổi sâu răng và không sâu răng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Trẻ bị sâu răng khi tuổi nhỏ hơn 4, có khuynh hướng có trọng lượng nặng hơn là do trẻ thường được cha mẹ chăm sóc nhiều hơn, cả lúc đi ngủ hoặc vào giường với bình sữa cho đến khi ngủ. Đa số các răng sâu còn ở giai đoạn đầu trẻ chưa có cảm giác đau, nên chưa ảnh hưởng đến việc ăn uống.. Trong khi ở trẻ 5 tuổi, do không được điều trị, sâu răng tiếp tục tiến triển sang giai đoạn muộn và có biến chứng của sâu răng(viêm tuỷ, viêm quanh chóp…) gây đau.. Điều này sẽ làm thay đổi sinh hoạt thường ngày của trẻ, trẻ sẽ hay quấy khóc về đêm do cảm giác đau hoặc biếng ăn, sẽ ảnh hưởng làm giảm tốc độ tăng trưởng và phát triển, từ đó trẻ ít tăng cân




.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1 Kết luận:

Khảo sát tình hình bệnh sâu răng và ảnh hưởng của nó lên chiều cao, cân năng của học sinh từ 3- 5 tuổi tại các trường mẫu giáo (công và tư) trên địa bàn xã Tam An cho phép đưa ra một số kết luận:



5.1.1: Các đặc tính của mẫu nghiên cứu ( Về tình hình bệnh sâu răng và chỉ số sâu mất trám (smt) ở học sinh mẫu giáo xã Tam An):

- Tỉ lệ sâu răng và chỉ số sâu mất trám (smt) trung bình là 73,8% và 5,02

- Tỉ lệ sâu răng và chỉ số sâu mất (smt) trám trung bình ở trẻ 3 tuổi là 36,3 và 1,97; 4 tuổi là 62,6% và 3,42; 5 tuổi là 88,6 và 6,36.

- Tỷ lệ sâu răng và chỉ số sâu mất trám (smt) tăng dần theo tuổi và ở trẻ 5 tuổi, tỷ lệ sâu sâu răng và chỉ số sâu mất trám (smt) ở mức cao theo phân loại của Tổ chức sức khoẻ thế giới. Trong đó số trẻ được trám răng chỉ đạt 0,6%. Điều này cho thấy nhu cầu điều trị răng miệng ở lứa tuổi mẫu giáo chưa được quan tâm nhiều.



5.1.2. Ảnh hưởng của sâu răng trên chiều cao và cân nặng của trẻ:

So sánh chiều cao và cân nặng của nhóm trẻ không sâu răng và nhóm trẻ có sâu răng cho thấy ở trẻ 3,4,5 tuổi, ảnh hưởng sâu răng lên chiều cao của trẻ không có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Ảnh hưởng của sâu răng lên cân nặng có ý nghĩa thống kê với p<0,05 ở trẻ 5 tuổi.



5.2 Kiến nghị:

Qua điều tra tình hình bệnh sâu răng của học sinh mẫu giáo xã Tam An năm học 2011-2012 tôi xin đề xuất một số kiến nghị nhằm cải thiện tình trạng sâu răng của học sinh mẫu giáo như sau:

1- Công tác giáo dục nha khoa ở lứa tuổi mẫu giáo rất quan trọng và cần thiết nên phải duy trì thường xuyên, giáo viên cần giáo dục cho học sinh hình thành thói quen chải răng sau khi ăn và trước khi đi ngủ, bởi vì sau khi ăn 30 phút sẽ hình thành mảng bám răng, đây là một trong những yếu tố gây sâu răng.

3- Các Trạm Y tế xã đã được trang bị ghế máy nha, có cán bộ được bồi dưỡng công tác nha học đường nên tăng cường công tác khám và điều trị răng miệng cho học sinh mẫu giáo, bảo đảm mỗi học sinh được khám răng miệng ít nhất 1 lần trong năm học, điều trị dự phòng, phát hiện sớm bệnh sâu răng để có hướng điều trị hoặc chuyển tuyến trên.

4- Cán bộ phụ trách công tác nha học đường tại các Trạm Y tế xã cần đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ đối với phụ huynh như: vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh răng miệng nhằm giúp phụ huynh biết cách chăm sóc răng miệng cho trẻ, tránh sự xuất hiện và tiến triển sâu răng, tránh tình trạng phải nhổ răng sớm đưa đến thiếu chiều dài cung hàm sau này, làm cho răng vĩnh viễn mọc lệch, thiếu chỗ và chú ý nêu rõ ảnh hưởng quan trọng của sâu răng lên chiều cao và cân nặng của trẻ./.

Tài liệu tham khảo

1- Lê Thị Nhung, Trần Thị Kim Chi và công sự tại Trung tâm Răng Hàm Mặt Đồng Nai. Tình hình sức khoẻ răng miệng học sinh THCS TP BH

2- Nguyễn Xuân Hùng, Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa I. Tỷ lệ sâu răng và yếu tố liên quan ở học sinh Trường Trung học cơ sở Hiệp Hoà Biên Hòa Đồng Nai năm 2005.

3- Nguyễn Thị Bảy” Đánh giá hiệu quả công tác nha học đường tại trường tiểu học Long Thành A sau 15 năm thực hiện”. Hội nghị khoa học kỷ thuật Bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành năm 2007.

4- Bài giảng “ Răng trẻ em - dịch tể học sâu răng” giáo trình giảng dạy Đại học, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

5- “Bài giảng Nha khoa công cộng”, giáo trình giảng dạy đại học, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.



6- “Bài giảng nha khoa phòng ngừa”, giáo trình giảng dạy đại học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.




tải về 270 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương