Interpreting techniques – KỸ thuật phiên dịCH


Chương 5. GHI CHÉP ĐỂ DỊCH



tải về 213.57 Kb.
trang6/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích213.57 Kb.
#4373
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Chương 5. GHI CHÉP ĐỂ DỊCH


Take notes to interpret

Ghi chép là một kỹ thuật rất quan trọng đối với người phiên dịch. Tuy nhiên nhìn lại quy trình dịch (xem Chương 3, Nghe để dịch: Process of Interpreting), chúng ta thấy ghi chép (note-taking) không được đề cập đến. Điều này thật rõ ràng khi quy trình ấy bắt đầu bằng sự nghe hiểu (understanding) thông điệp rồi phân tích (analysis) thông điệp và cuối cùng là tái tạo văn bản (re-expression). Để làm được điều này, người phiên dịch cần viện đến khả năng ghi nhớ (memory). Ghi chép (note-taking) chỉ là một kỹ thuật hỗ trợ chứ không thay thế được trí nhớ. Vì thế, người phiên dịch ghi chép giỏi nhất thế giới không phải là người dịch giỏi nhất thế giới. Tuy nhiên kỹ thuật ghi chép là một kỹ thuật không thể thiếu được. Chương 5 dành cho chủ đề ghi chép trong nghề phiên dịch.

Người phiên dịch song song (simultaneous interpreter) thường phải đương đầu với những bài nói khoảng từ 15 đến 30 phút, và thông thường phải bám sát diễn giả nên ít có cơ hội ghi chép. Những ghi chép của người dịch song song thường là những clues (từ gợi nhớ) và những con số. Người phiên dịch khi dịch đuổi có thuận lợi hơn là sau một đoạn diễn giả dừng lại để dịch, tạo cơ hội cho người phiên dịch nhìn lướt lại bản ghi. Trừ những trường hợp diễn giả nói ngắn khoảng 50 từ, người phiên dịch có thể không cần ghi chép hoặc chỉ ghi con số mà chủ yếu dựa vào trí nhớ của mình. Tuy nhiên trong hội nghị, hoặc khi tranh luận, diễn giả thường muốn nói hết một ý của mình rồi mới dừng lại, lúc đó lời nói đã kéo dài tới khoảng gần hoặc trên một nghìn từ. Người phiên dịch khó mà đảm bảo dịch đầy đủ, chính xác và trung thành nếu không ghi lại một vài điều trên giấy.

Ghi chép đối với những người đã nhiều năm kinh nghiệm trong nghề dịch thường không quan trọng, vì khi lời nói dừng lại thì trong óc người dịch đã có đầy đủ một bản ghi đã được giải mã sang TL. Nhưng đối với người càng ít kinh nghiệm, thâm niên dịch càng thấp thì ghi chép lại càng quan trọng hơn.

Một hiện tượng cần tránh là người phiên dịch ghi quá nhiều trong khi nghe, tức là ghi chép gần đủ lời nói của diễn giả. Bản ghi ấy trông như một bản tốc ký. Nếu giả sử lời nói của diễn giả dài 400 từ thì bản ghi ít nhất phải chiếm cả một trang giấy A4, vấn đề là ở chỗ thậm chí người tốc ký chuyên nghiệp khi nhìn giấy đọc lại một mình một cách bình tĩnh cũng gặp khó khăn chứ chưa nói đến tình huống phải làm việc đó trước một đám đông đang chờ đợi mình (dịch hội nghị). Đó là chưa kể quy trình nhìn bản ghi tốc ký bằng SL và khi đọc ra lại phải đọc bằng TL. Với bản ghi không phải là tốc ký nhưng lượng thông tín quá dày đặc, người dịch sẽ bị lúng túng khi đọc lại (bằng chữ nguệch ngoạc của mình), và hơn nữa bị phụ thuộc vào bản ghi tới mức lời dịch của mình gần như bản phiên âm (transcription) của bản gốc, chứ không phải là tái tạo (re-ex- pressing) ý tưởng của diễn giả. Ghi chép đối với người dịch đuổi không phải là lập mã lời nói SL bằng văn bản viết TL, không phải là bản chép chính tả, cũng không giống như bản ghi lời thầy giảng của một sinh viên đại học, tức là ghi lại được càng nhiều thông tin, thông tin càng chi tiết càng tốt. Bản ghi chép của người phiên dịch chỉ là những tín hiệu nhắc nhở (prompt signs), tín hiệu liên kết các sự kiện (association of ideas) để người phiên dịch nhớ lại những điều đã ghi nhớ, không phải để tái sinh lời nói (reproduce the discourse).

Trong quy trình đào tạo phiên dịch luyện ghi chép là một loại hình bài tập cơ học (mechanical drill). Người phiên dịch được luyện ghi cái gì, và ghi như thế nào.



A. Ghi cái gì (What to note)

1. Ghi ý chính (main ideas)

Lý do cần phải ghi ý chính vì tổng hợp lại nó cho người phiên dịch một dàn bài (outline) của lời nói. Ghi ý chính thường chỉ sử dụng khi diễn giả nói liền một đoạn dài (ví dụ 500, 1.000 từ). Giả sử chúng ta nghe đoạn sau đây, ý chính của nó là gì?



Exercise 1: Nghe đoạn nói về nghề kiến trúc do Peter Lam trình bày.

Mục đích: Ghi ý chính

Yêu cầu: Nghe một lượt. Ghi vào giấy những ý chính của toàn đoạn.

ARCHITECTURAL PROFESSION

I’d like to start by describing exactly what it is that an architect does as this is perhaps not as obvious as it sounds.

………………………

If you do have any specific Questions I'd be happy to answer them later. Thank you.



2. Ghi tên riêng (Proper names)

Thông thường khi phiên dịch, một trong những yếu tố gây khó khăn cho trí nhớ là tên riêng.

Tên riêng có nhiều đặc thù khiến người phiên dịch không nên dịch. (Chi tiết xem Chương 9). Khi gặp tên riêng, người phiên dịch nên ghi lại âm nghe được, và khi dịch nên phát âm lại sao cho sát với âm của SL.

Exercise 2: Nghe lời giới thiệu của Brian Green, chủ tọa cuộc hội thảo giới thiệu nghề. Ông giới thiệu các đại biểu và các diễn giả.

Mục đích: Ghi chép để dịch

Yêu cầu: Các loại tên riêng dù đó là tên người hay tên nghề nghiệp hay tên tổ chức, v,v.,

Nghe một lượt.



CAREERS ’95 SEMINAR

Good morning, my name is Brian Green. I'm delighted to see so many of you here today at the Sheraton Hotel for the Hong Kong Careers '95 Seminar.

……………………………

I would appreciate it if you would let them present their papers uninterrupted as there will be a chance to ask specific questions later on.



3. Ghi số liệu (Note the figures)

Trong bài nói của diễn giả, dù nhiều hay ít số liệu được nêu ra, người phiên dịch cũng nên ghi lại vì hai lý do:,

Một là, số liệu giống như các ký hiệu chứ không phải là từ, nó không mang một khái niệm, một quan điểm hay một hình ảnh, do đó rất khó nhớ.

Hai là, số liệu ở các ngôn ngữ thường được ghi bằng các ký hiệu giống nhau, ví dụ: ngày tháng năm, số lượng, số đo, v.v., vì thế việc ghi lại rất đơn giản, chỉ như một động tác chép lại, không cần chuyển mã (transcoding).



Exercise 3: Nghe báo cáo sau đây về tỷ lệ sinh đẻ.

Mục đích: Nghe ghi Yêu cầu:

Nghe một lần.

Ghi lại tất cả những số liệu nghe được.



THE GENERAL FERTILITY RATE

The general fertility rate (also called fertility rate) is the number of live births per 1,000 women aged 15-44 years* in a given year.

In 1955 the fertility rate for women aged 20-24 was more than twice as high as the 1975 rate. Fertility rates are generally highest among women in their 20s, and decline thereafter.

Exercise 4: Nghe báo cáo sau đây về một cửa hàng nổi tiếng ở Mỹ: Mall of America.

Mục đích: Ghi con số

Yêu cầu: Ghi lại tất cả những số liệu nghe được.

MALL OF AMERICA

Do you like to shop? Come to Mall in America in Bloomington, Minnesota.

…………………

Mall facts



Mall of America opened in 1992.

It cost $650 million to build.

100,000 gallons of paint cover Mall of America.

4. Ghi liệt kê (Note the lists).

Nói đến liệt kê chúng ta thường nghĩ đến danh sách một loạt các vật thể như các mặt hàng (good items). Tuy nhiên dưới góc nhìn của người phiên dịch, liệt kê bao gồm nhiều bình diện khác nhau:

Liệt kê các vật thể.

Ví dụ: All the sleeping things: primrose, baby iris, blue phlox.

Liệt kê các màu sắc.

Ví dụ: I want gravels of such colours as pink, light red, light blue, purple, marine.

Liệt kê một loạt hành động.

Ví dụ: I did look. She held out her arms and cocked her head, and I blinked in the sunlight which all at once shining into my eyes and dazzling me,...

Liệt kê các địa điểm.

Ví dụ: During my stay in the United Kingdom, I have visited a lot of places:

Oxford, Swindon, Bristol, Exeter in the southwest of England, and Southamton,

Brighton, Folkestone, Dover in the southeast of England.

Người phiên dịch ghi chép càng đầy đủ bao nhiêu càng tốt, vì rất hiếm người có thể ghi nhớ được một liệt kê dài. Ngay cả những trường hợp tuy liệt kê rất ngắn, nhưng khó nhớ, người phiên dịch cần ghi chép đầy đủ. Ví dụ:

Mann: How did he get his name?

Bumble: I gave it to him. We follow the alphabet. The last one was an S- Swubble.

Then it was T, so this one is Twist. The next one will be Unwin. Anyway, Oliver

Twist is now old enough to return to the workhouse…

(Oliver Twist: 3-4)

Rõ ràng trường hợp này người phiên dịch cần những clues như:

S - Swubble

T - Twist

U - Unwin

Kỹ thuật ghi chép các liệt kê giống như kỹ thuật ghi con số. Nếu diễn giả đưa ra nhiều liệt kê quá, và nói với tốc độ tự nhiên, đương nhiên người phiên dịch không thể ghi được đầy đủ, nhưng ít ra cần phai biết mình ghi được đầy đủ tới mức nào: ghi được bao nhiêu trong tổng số, ví dụ 3/5 hoặc 5/6, v.v. Trong trường hợp này, với sự nhạy cảm thông qua nghe, người phiên dịch xác định xem có cần phải yêu cầu người nói nhắc lại danh sách đó không (trường hợp dịch đàm phán, diễn đàn).



Exercise 5: Nghe Jim West, công ty Holford Products, nói chuyện về công ăn việc làm với một số sinh viên mới tốt nghiệp.

Mục đích: Ghi chép liệt kê

Yêu cầu: Nghe một lần. Ghi lại càng đầy đủ càng tốt các loại liệt kê sau đây:

1. Những sản phẩm của công ty này.

2. Những công việc của nhân viên công ty.

3. Công ty quan tâm đến nhân viên khi họ ở những nơi nào.


CHOOSING A CAREER

I feel pretty sure that all of you have heard about our products.

……………………

Well, that's one aspect of Holford Products. Now I'd like to talk in detail about some of the job you can do there…



Exercise 6: Bây giờ chúng ta nghe tiếp một đoạn về Bà Dianie May, người khích lệ cuộc đình công. Hãy ghi lại những sự kiện xảy ra đối với bà ấy hàng ngày.
STRIKE

...People are blaming me for the strike,...

……………………

I bet he's never been up half the night looking after a sick child!...



5. Ghi những yếu tố kết nối (Note the links)

Khi người phiên dịch đã nắm được những ý chính trong một bài diễn văn thì điều quan trọng là có nắm được mối quan hệ giữa chúng không. Trên thực tế, có những diễn giả bộc lộ tính lôgíc rất rõ ràng giữa những ý chính. Nhưng cũng có nhiều diễn giả, mối quan hệ giữa các ý chính không rõ ràng, do tổ chức của bài nói. Chẳng hạn có nhiều người hay nói hàng loạt sự kiện, sau đó lại quay lại từng sự kiện nhưng không theo trật tự lôgíc nào cả. Trong những trường hợp này ghi chép mối liên kết giữa các ý tưởng sẽ giúp người phiên dịch đỡ lúng túng. Một khi người dịch đã lúng túng thì thường dẫn đến lời dịch sẽ loanh quanh, rời rạc, đôi khi khó hiểu. Những yếu tố liên kết thường thể hiện bằng những từ như but, on the contrary, therefore, since”..



Exercise 7: Công ty HNP đang thảo luận cách quảng cáo thế nào cho lô-gíc về sản phẩm mới của họ: xà phòng gội đầu Spring Rain. Cô Pring đưa ra một cách lập luận để quảng cáo. Ghi lại những từ/nhóm từ liên kết để bộc lộ tính lôgíc khi dịch ý tưởng của Cô Pring.

SPRING RAIN

…Well, my research people feel that...

……………………………

Because believe it or not, according to our figures, a surprising number of people still believe it's no good to wash one's hair too often...



B. Ghi như thế nào (How to note)

Nhiệm vụ của người phiên dịch là địch chính xác, đầy đủ và trung thành với diễn giả. Để đạt được mục đích này, người phiên dịch cần ghi chép: ý chính và các ý chi tiết ngay trong khi đang nghe. Khi diễn giả dừng lại, bản ghi đó trở thành sự hỗ trợ cho trí nhớ. Vấn đề ở đây là làm sao cho dễ nhìn, dễ đọc. Vậy có hai cách ghi thông thường nhất: một là cách dùng sơ đồ (diagram), và hai là cách ghi theo chiều thẳng đứng (yerticality)



1. Sơ đồ (Diagram)

Trong một đoạn nói của diễn giả (tính cho đến khi dừng lại để dịch) có bao nhiêu ý chính thì sẽ có bấy nhiêu sơ đồ trên. Có thể có sơ đồ rất đơn giản nếu chỉ có ý chính, không có thông tin chi tiết bổ sung cho ý chính.



Exercise 8: Nghe đoạn sau đây và ghi lại những ý chính và những thông tin phụ trợ theo lối ghi sơ đồ (diagram).

USING ECHO

Have you ever shouted inside a large, empty building?

…………………

The dolphin can tell if the echo had hit something soft, like a fish, or something hard, like a rock.



2. Ghi từ trên xuống (Verticality)

Trong cách ghi này, những ý chính được ghi sát lề bên trái, các ý phụ trợ ghi thụt vào trong sang phía tay phải.

…………Main idea-1

………… supporting idea 1

………… supporting idea 2

………… Main idea-2

………… supporting idea 1

………… supporting idea 2

………… supporting idea 3 

Trong kỹ thuật ghi từ trên xuống dưới theo chiều thẳng đứng, chúng ta không những cần giãn dòng để bản ghi trông không dày đặc quá, nhưng đồng thời cũng là để chỗ để có thể điền thêm ý (chủ yếu là ý chi tiết) nếu cần thiết Ví dụ: nghe một câu chúng ta có bản ghi như sau:

She …all… tests... given

Nếu chúng ta muốn chèn thêm wants to do thì làm như sau:

She… all …tests …given

wants … to do

Tiếp theo, muốn chèn thêm ý phủ định, chúng ta ghi như sau:

She… all… tests... given

wants …to do

not


Kỹ thuật chèn thêm như trên có tên gọi là shifting. Kỹ thuật này tạo ra một hình ảnh dễ nhận biết khi người phiên dịch liếc nhìn lại để dịch. Nó tạo ra một hiệu quả leo thang, gọi là a staircase effect.

Ngoài ra trong bản ghi người phiên dịch thường cần phải làm rõ những ý cần nhấn mạnh (emphasis) và những ý đang thảo luận (under debate), Những yêu cầu này thường xảy ra trong các cuộc đàm phán hoặc tranh luận về quan điểm. Hai bên (hoặc nhiều hơn) đưa ra quan điểm của mình. Khi nghe diễn giả trình bày, người phiên dịch cần nắm bắt được những ý diễn giả nhấn mạnh, vì đó là những ý mà diễn giả cho là sẽ có khả năng thuyết phục. Người phiên dịch phải dùng ngay ký hiệu để đánh dấu những ý này. Ký hiệu thường dùng là gạch dưới (underlining lines)

----- nhấn mạnh

=== nhấn mạnh đặc biệt

Đối với những ý tưởng, quan điểm diễn giả nêu ra nhưng nhiều người khác chưa nhất trí, do đó sẽ có nhiều người nhắc đến ở các góc độ khác nhau để tranh luận, người phiên dịch cần ghi lại bằng (các) dấu hỏi.

? đặt ra vấn đề để thảo luận

??? còn nhiều người chưa nhất trí

3. Ký hiệu

Khi nói đến ghi chép, người phiên dịch không thể bỏ qua cách sử dụng ký hiệu. Có hai loại ký hiệu: một là những ký hiệu phổ quát, và hai là ký hiệu cá nhân sử dụng.

Ký hiệu phổ quát là những ký hiệu đã trở thành hình ảnh chung mà ai nhìn thấy cũng hiểu ý nghĩa của nó. Ví dụ:

(mũi tên lên) increase, develop. E.g. population, Vietnam

(mũi tên xuống) reduction, decline. E.g income

/ or. E.g. husband/ wife

-> lead to. E.g. flood -> diseases

= equal to. E.g.16 ounces = 1 pound = 04536kg

# as well/good as. E.g. his record # first.

± approximately. E.g. ± 30% population

+ add to. E.g. + manioc

? under debate, not being solved, unemployment?

- not including, extract. E.g. - maize crop

<-> interaction. E.g. A <-> B

x get rid of

(P) parking place.

Trong loại ký hiệu phổ quát, kể cả những cách viết tắt, những từ viết tắt đã trở thành hệ thống, đã được chấp nhận trong một cộng đồng (ví dụ: trong một loại dự án nào đó), hoặc trên toàn thế giới. Ví dụ:

abbr. abbreviation

n. noun(s)

syn. synonym(s)

Ngoài ra có những chữ viết tắt đã trở thành một từ, gọi là acronym, mà người sử dụng nhiều khi chỉ hiểu nghĩa của từ viết tắt ấy, chứ không biết đến từ đầy đủ của nó. Ví dụ:

GDP (Gross Domestic Product)

LC (Letter of Credit)

GMT (Greenwich Mean Time)

và rất nhiều các từ chỉ tên các tổ chức quốc tế như:

UN (The United Nations)

WTO (World Trade Organisation)

UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)

WB (World Bank).

NGO (Non-Government Organisation)

Ký hiệu cá nhân là loại ký hiệu do chính mình tạo ra để ghi chép. Ví dụ:

y* next year. E.g. Imil.y* (in 1 million years' time)

*y last year. E.g. 15*y (fifteen years ago)

/-----/ a long time

/--/ a short time

(.) focus, important point

(hình vuông) country

(tam giác) A representative

㊀ prevent, cause difficulties, obstacle

* agriculture

Loại ký hiệu cá nhân thường rất phong phú, nhưng người sáng tạo và sử dụng cũng cần thận trọng vì phải sáng tạo và sử dụng một cách có hệ thống. Hay nói cách khác hãy tạo ra một hệ thống ký hiệu riêng cho mình. Nếu chỉ là những ký hiệu bột phát thì nay nhớ mai quên, và thường là sau một thời gian ngắn, một vài ngày đã có thể quên, ảnh hưởng đến quy trình gợi nhớ. Có những ký hiệu bột phát dùng ở đoạn này, sang đoạn khác đã lại quên.

Trong loại ký hiệu cá nhân người ta kể cả những ước lệ cho chính mình, ví dụ khi ghi chép một từ thì chỉ ghi những con chữ đứng đầu, ví dụ như:

cooperative: coop

struggle: strug

emergency: emer.

hoặc ghi những con chữ đầu và cuối, ví dụ như:

years: ys

economics: emics

government: govt 

Hoặc có những người sử dụng cả hai cách, vấn đề ở đây là chúng ta hãy tự quy ước cho mình một cách viết tắt từ/nhóm từ, và sử dụng chúng một cách thành thạo và nhất quán.

Exercise 9: Listen to the whole talk and take notes using this chart as a guide.

TAKING NOTES

Reasons for taking notes:…………

Difficulties in taking notes:…………..

1. ………………

2. ………………

3. ………………

Important skills to help take better notes:

1. ……………… (e.g…………………) and

2. ……………… (e.g…………………)

3. ……………… (e.g………………… )



(Speaking Clearly: Unit 30. Student's Book:1 12;
Teacher's Book:90)


Exercise 10: Hãy nghe một bài nói chuyện về lịch sử phát triển nhà hát (The Theatre). Tập ghi theo các kỹ thuật vừa học được ở trên.

Nghe lần thứ nhất, ghi lại những ý chính và ý hỗ trợ (trong khả năng của mình) Nghe lần thứ hai (thứ ba, thứ tư): Chêm thêm những ý mình bỏ qua trong những lần ghi trước.

Chú ý: Nguyên tắc ghi của chúng ta là ghi ý chứ không phải ghi từ nghe được (ideas not words) 

THE THEATRE

Have you ever been in a school play? Do you know how a play is produced?

……………………………

The people watching the play might think this is very funny. However, you can be sure that the actors don’t.



4. Ngôn ngữ dùng để ghi chép (Language in which to note)

Trong quy trình huấn luyện phiên dịch, một câu hỏi thường được đặt ra là ghi chép bằng ngôn ngữ nguồn (SL) hay ngôn ngữ mục tiêu (TL)? Người phiên dịch người Việt thường lúng túng khi phải quyết định ghi bằng tiếng Việt hay tiếng Anh.

Ghi chép bằng ngôn ngữ nguồn:

Ghi chép bằng tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ nguồn (dịch Việt-Anh) có những thuận lợi như sau:.

(i).Người dịch có thể ghi chép liên tục không bị cản trở bởi quy trình dịch trong khi ghi chép. Cuối lời phát biểu của diễn giả, người dịch có một bản ghi tương đối đầy đủ theo ý mình.

(ii). Bản ghi chép giúp cho người dịch chuyển sang tiếng mục tiêu (tiếng Anh) một cách ung dung hơn. Trong trường hợp diễn giả sử dụng từ hoặc khái niệm mang đặc thù văn hóa thì người dịch có thời gian suy nghĩ để tìm tương đương hoặc tìm cách dịch giải thích (explanation technique):

Tuy nhiên có những điều không thuận lợi là:

(i). Vì nghe được hầu hết (có thể là 100%) nội dung thông điệp nên người dịch có xu hướng ghi từ (words), chứ không ghi ý (ideas).

(ii). Cũng vì nghe được đầy đủ nên người dịch nhiều khi “ghi tham”, ghi quá nhiều, làm cho bản ghi trông rối mắt, nặng nề.

(iii). Với bản ghi như vậy khi dịch người dịch thường mắc phải lỗi dùng metaphrase (dịch từng từ. Chi tiết xem Chương 7), đồng thời bị phụ thuộc khá nhiều vào cấu trúc câu của tiếng Việt, làm cho văn phong bản dịch (tiếng Anh) trở nên “Việt” quá.

Ghi chép bầm ngôn ngữ mục tiêu:

Ghi chép bằng tiếng Anh với tư cách là ngôn ngữ mục tiêu (dịch Việt-Anh) có những thuận lợi như sau:

(i). Quá trình ghi chép đồng thời là quá trình dịch.

(ii). Tuy có thể nghe đầy đủ nội dung bằng tiếng Việt, nhưng để ghi bằng tiếng Anh, người dịch không thể ghi tham và cũng không thể ghi từ áp lực ghi chép với tốc độ nhanh làm cho người dịch phải ghi ý (ideas).

(iii). Với một bản ghi thực sự chỉ hỗ trợ trí nhớ mà thôi, khi dịch người dịch phát huy được hết năng lực dịch: ghi nhớ (memory), chuyển ý, không chuyển từ (transfer sense equivalents, not word equivalents), câu tạo lại thông địệp (reconstruct the speech), v.v.

Kinh nghiệm của nhiều phiên dịch đã thành công trong nghề nghiệp chỉ ra rằng dù sử dụng ngôn ngữ gì để ghi chép thì cũng chỉ tạo ra một văn bản hỗ trợ. Tất nhiên mức độ hỗ trợ khác nhau. Nhưng dù ở mức độ lớn đến đâu thì một bản ghi nhanh như vậy vẫn không thể bao quát được cả từ, ý và ngữ pháp (cấu trúc câu, cấu trúc đoạn,...). Do đó người phiên dịch nên xác định cho mình một hướng đi: dùng SL hay TL và thậm chí xu hướng chung là sử dụng cả hai. Cái gì đến trong đầu trước thì ghi cái đó. Hiệu quả không phụ thuộc vào bản ghi mà chủ yếu phụ thuộc vào khả năng sử dụng bản ghi để dịch của người phiên dịch.



5. Ghi vào lúc nào

Để có thể ghi được ý, chứ không ghi từ, người phiên dịch trước hết phải hiểu được thông điệp. Như vậy không thể ghi ngay khi diễn giả bắt đầu nói, mà phải ghi sau một vài câu, tức là ghi vào lúc người dịch đã hiểu trọn vẹn một ý. Chúng ta cần luôn luôn nhớ một điều: trong dịch đuổi, diễn giả nói một đoạn (hoặc dài hoặc ngắn, nhưng ít ra cũng phải từ 5 đến 10 câu, nghĩa là khoảng từ 5-10 dòng viết) rồi dừng lại và khi diễn giả dừng lại người dịch phải dịch ngay. Vì thế mọi hoạt động ghi chép chỉ được phép tiến hành trong quá trình diễn giả đang nói. Vậy ghi chép sau vài câu so với diễn giả sẽ gây khó khăn cho người dịch, nhất là những phiên dịch mới vào nghề, ở chỗ vừa phải nhớ lại để ghi những câu diễn giả vừa nói qua, đồng thời vẫn phải nghe tiếp để hiểu được những câu sau đó. Ghi chép kịp, không để bị bỏ rơi (left behind), nghĩa là người phiên dịch luôn luôn phải điều chỉnh giữa timing và taking notes.

Một điều cần chú ý là trong nội dung ghi chép người phiên dịch phải dành ưu tiên cho ghi con số (number) và những liệt kê (lists). Vì thế khi linh cảm rằng diễn giả sắp đưa ra con số hoặc liệt kê thì người dịch phải ngay lập tức bám sát diễn giả để ghi.

Sau mỗi lần đi dịch, người phiên dịch nên dành cho mình một ít giờ phút để nhìn lại cuộc dịch vừa qua. Đó là một kiểu tự kiểm điểm (review), để nhớ lại những thành công cũng như những điểm mình thấy chưa hài lòng, những việc cần điều chỉnh, và cả những thất bại, nếu có. Khi review, người phiên dịch thường tập trung vào những điểm sau đây:

(i). Xem xét, chỉnh sửa những ký hiệu cá nhân (Revise the individual symbols). Đây là những ký hiệu mình tự tạo ra. Nếu trong quá trình sử dụng phát hiện ra có điều gì không chính xác, không thuận tiện thì tìm phương án sửa lại, hoặc bỏ đi, thay thế.

(ii). Cộng thêm những ký hiệu mới, cách viết tắt mới (Add new signs & abbreviations) phát hiện, học hói được trong quá trình dịch.

(iii). Rút ra những khó khăn khi nghe hiểu và ghi chép để tìm phương án luyện thêm theo các kỹ thuật hiện đại (Practise listening & taking notes).

REFERENCES

- Byme, Donn & Susan Holden (1979). Insight. Longman.

- Dickens, Charles Oliver Twist. Oxford Bookworms Library. OUP 2003.

- Gran, B.J., Philip Leetch & Joseph Li (1995. All-in-one Practice. Form 6. Paper 2. P.27-28. Macmillan Publishers (China) Ltd.

- Haupt, Arthur & Thomas T. Kane (1982). Population Handbook. Population Reference. Bureau. Washington, D.C.

- Howard, Lory (1999). Read All about it. Book 1.OUP.

- Interpretation. European Community. Luxembourge.

- Jones, Roderick (2002). Conference Interpreting Explained. St Jerome Publishing.

- Newmark, Peter (1982). Approaches to Translation. Pergamon Press.

- Rogerson, Pamela & Judy B. Gilbert (1995), Speaking Clearly. Teacher's Book. CUP.

- Seleskovitch, Danica; Marianne Lederer (1995). A Systematic Approach to Teaching

- Sampsson, Nichola (1994). English 2000. 2B. Macmillan Publisher (China) Ltd.

- Trần Ngọc Kim & Nguyễn Quốc Hùng (1987). Ghi nhanh trong nghe hiểu và dịch. Tài liệu lưu hành nội bộ, Trường ĐH Ngoại ngữ Hà Nội.


TAPESCRIPT


ARCHITECTURAL PROFESSION

I'd like to start by describing exactly what it is that an architect does as this is perhaps not as obvious as it sounds. Basically there are two parts to the job. Most people know that architects are responsible for designing buildings. This means having an idea and then converting that idea into drawn information from which the scheme can be built. What is less well understood is that the architect also has the role in managing the construction process. The term “architect”, therefore, can actually cover a wide range of different jobs, particularly when it comes to larger projects when the work needs to be split between a number of people. In any office there tend to be a number of different roles, each with their own necessary skills and qualifications. Firstly there is the design architect responsible for the design concept or idea. Then there is the project architect who is in charge of overseeing the construction process. Clearly these different people require different skills. The design architect needs to be artistic with creative flair whereas the project architect requires organisational and problem solving skills.

In addition to the architects there are various other people within the office. For example, draftsmen are the people who actually produce the drawings. These days, of course, this is mostly done on computer so they need technical skills as well as construction knowledge. Then there are the model makers who obviously make the models, either for presentations or for testing out the ideas within the office. They of course need to show attention to details as well as being extremely patient.

I hope I'm making it clear that within the architectural process there are roles for all sorts of people. Understanding your own skills and interests is vital in choosing the kind of office in which you want to work. For example, I now work in a small company working on relatively small projects. For me this has two great advantages. Firstly I get a chance to run the whole process from start to finish. Secondly, because the jobs are smaller, you can see the results of your efforts quite quickly. On the other hand, large firms offer different benefits. For a start there are more jobs which generally means a more varied workload. Secondly larger jobs offer real opportunities for people with very specific skills.

Essentially then, what I'm trying to say is that architecture is such a wide ranging discipline that all sorts of different people can find in it an interesting and fulfilling: role. If you do have any specific questions I'd be happy to answer them later. Thank you.

(All-in-one. Form 6: 28-29)

Good morning, my name is Brian Green. I’m delighted to see so many of you here today at the Sheraton Hotel for the Hong Kong Careers '95 Seminar. Today we are celebrating our tenth anniversary and I'm pleased to report that we have a record turnout for the event. Before we start I’d like to thank the Hong Kong Schools Association for once again doing such a splendid job in organising these seminars which are intended to help current school pupils decide on a choice of career and inform them which qualifications they need for that profession.

For this morning's session we are joined by speakers from three very different professions. First of all you will hear Ms Suzy Lee, who is an Account Director of the company Good Communications, talk about the field of public relations. She will be followed by Mr Peter Lam who is an architect. Mr Lam is probably best known for his work on the Singapore Bank Building in Admiralty which has had so much attention in the press, and is currently a Design Architect with the General Architectural Company. Lastly, but certainly not least, we have invited Ms Cathy Chan to speak. Ms Chant is an interpreter and a director of her own company, Hong Kong Interpreters Ltd.

All our speakers will try to give you a general overview of their profession as well as indicating what kind of qualifications and skills you will need to be successful in your career. I would appreciate it if you would let them present their papers uninterrupted as there will be a chance to ask specific questions later on.



(All-in-one, Form 6: 27)

THE GENERAL FERTILITY RATE

The general fertility rate (also called fertility rate) is the number of live births per 1,000 women aged 15-44 years* in a given year.

The general fertility rate is a more refined measure than the crude birth rate because it relates births more nearly to the age-sex group at risk of giving birth (i.e. women 15-44 years of age). This eliminates distortions that might arise because of different age and sex distribution in a total population. Thus the general fertility rate is much more indicative of changes in fertility behaviour than is the crude birth rate.

There were 65.8 births per 1,000 women aged 15-44 in the U.S. in 1976.

Iran's general fertility rate in 1975 was 205 live births per 1,000 women aged 15- 49 - one of the highest in the world. A very low rate would be Australia's 58 per 1,000 women 15-49, recorded in 1976.

In the U.S. in 1975 there were 114.7 live births to women aged 20-24 per 1,000 women in that age group,

In 1955 the fertility rate for women aged 20-24 was more than twice as high as the 1975 rate. Fertility rates are generally highest among women in their 20s, and decline thereafter.

MALL OF AMERICA

Do you like to shop? Come to Mall in America in Bloomington, Minnesota. You can be one of the 900,000 shoppers who come to Mall of America every week. Why do so many people shop here? How do so many people fit in the mall? Well. Mall of America is the largest mall in the United States. It is so large, 7 baseball stadiums could fit inside.

People come from all over the world to visit Mall of America. The largest number of international tourists come from Canada, Japan, and the United Kingdom. They come to shop at 500 different stores. There are 6 department stores, 26 women's clothing stores, and 29 shoe stores. There are 4 bookstores, 5 music stores, 6 electronics stores, and many other places to shop.

Are you hungry? Mall of America has 49 restaurants. There are 27 fast food restaurants and 22 sit-down restaurants. What about entertainment? Mall of America has 8 nightclubs and a 14-screen movie theatre. You can see fish in an aquarium or play miniature golf. Mall of America also has the world's largest amusement park inside a building - Camp Snoopy. At Camp Snoopy you can even ride an indoor roller coaster!

Mall of America is almost like a small city. It has a bank, a post office, a medical clinic, and a dental clinic. The mall also has 3 schools, a university, an adult school and a high school. It has hair salons, travel agencies, and florists, too. There is something for everyone at Mall of America!

Mall facts:

- Mall of America opened in 1992.

- It cost $650 million to build.

- 100,000 gallons of paint cover Mall of America.

(Lori Howard: 43)

CHOOSING A CAREER

I feel pretty sure that all of you have heard about our products. Most of you, I hope, have actually used one or two of them - you or somebody else in your family. We specialised of course in things like skin creams and shampoos, and over the years we've managed to build up a very good reputation for ourselves in the field.

We have expanded quite a bit over the last fifteen years. All the same, in comparison with many firms in the district, we are still on the small size. The fact is, we don't want to grow too big! Why? Well, above all, we don't want to lose contact, with our employees -any of them. In our eyes, they are all equally important - both who hold key positions in the laboratories and those who do more routine - and perhaps not very ex-citing -jobs on the production line. We like to get to know everyone personally both at work, and more informally, in the canteen... on the sport field... and in the social club. So although we propose to expand still further this year - and consequently there will be opportunities for many of you here - we don't intend to lose sight of this goal: to know everyone who works for us.

Well, that's one aspect of Holford Products. Now I'd like to talk in detail about some of the job you can do there.



(Insight: Unit 2, p. 7)

STRIKE

... People are blaming me for the strike, especially now that the men's jobs are in danger. But I didn't ask the girls to come out in sympathy! I was late that morning and it wasn't the first time either. But I did have a perfect good reason. I'd been awake half the night because of my eldest boy - he kept on being sick. And then I had to wait for my mother to come round in the morning to keep an eye on him. It was after ten by the time I got to work. I wish I'd stayed at home! The manager started to tell me off without giving me a chance to explain. So I lost my temper and began to shout back at him. All the same, he needn't have given me the sack like that. It wasn't fair! I bet he's never been up half the night looking after a sick child!...



(Insight: Unit 6, p. 29)

SPRING RAIN

...Well, my research people feel that we shouldn't try to sell it as a cheap shampoo. There are enough of these on the market already. I'd be much better to present it as a quality product - something that is good and therefore costs more. But at the same time, because it's better, you need less of it. I mean, one bottle lasts you quite a long time! And we could also encourage people to wash their hair more often, by stressing that this is a gentle shampoo and won't damage their hair. Because believe it or not, according to our figures, a surprising number of people still believe it's no good to wash one's hair too often...



(Insight: Unit 8, p. 39)

USING ECHO

Have you ever shouted inside a large, empty building? If so, you may have heard your voice come back to you. The sound of your voice hits the walls and bounces back. What you hear is the echo of your voice. You hear the echo after you have shouted. This is because it takes time for the sound to travel to the walls and back to your ears again.

STOP

Sound travels very fast, even faster than a speeding aeroplane. In a thunderstorm you see the lightning first. Then, a few seconds later, you hear the thunder. You can tell how near or how far the storm is by the length of time it takes for you to hear the thunder. If you hear it very soon after you see the lightning, the storm is very close.



STOP

Many animals use their eyes to find their way. However some animals such as bats cannot see very well. Their ears are much better than their eyes, so they use their hearing to find their way. Since insect-eating bats are almost blind, they send out high sounds as they fly. These sounds bounce off anything in the bat's way. The bat's ears then pick up the echo. The echo tells the bat the safest direction to fly. The echoes also bounce off insects in the air, so the bat knows where to find its food.,

STOP

Dolphins also use the same method as bats to move around. They are not blind, but their sight is very bad. Dolphins send out noises similar to those of bats, but they are a little quieter. In the same way, the dolphin listens for the echo, in order to find the position of objects. Different objects send back different kinds of echoes. The dolphin can tell if the echo had hit something soft, like a fish, or something hard, like a rock.



(English 2000. 2B, Unit 11,pp. 30-31)

TAKING NOTES

Sometimes it is necessary to take notes about the structure and content of what you hear, to remind yourself, or someone else, afterwards; for example, after a meeting or a lecture. However, it is not easy to take good notes in a foreign language, partly because you may have difficulties understanding individual words or sounds and partly because the structure of the talk may be different in your own language. Moreover, it is difficult to write and listen at the same time - if you try to write every word you will probably end up either with confusing notes or missing what is being said.

There are three important skills you can develop to help you take better notes in English. First of all, listen to the most important words. Significant words are usually the ones that give new information and-are often the “focus” of a phrase or sentence. They are usually emphasised by a pitch movement and this signals their importance. Content words, like nouns or verbs, are often the focus of information, therefore notes should be almost entirely made up of content words - not whole sentences. So remember, you need information, not sentences.

Secondly, try and follow the structure of the talk by listening for specific phrases which signal the sequence of ideas, for example, first of air, “and now I'd like to move on to...”, and “finally...” and which signal the connection between ideas, for example, “however...” “on the other hand...”, “in addition...”. Listen also for specific pronunciation elements, such as pauses and pitch change which tell you when a speaker has finished talking about one topic, by using low pitch and a pause, and is about to start a new one, using high pitch to signal important information.

Thirdly, try to invent your own system of notation, such as using numbers of different sorts of print to highlight different points, to organise your notes clearly so that you can read them easily later. So if you use these three signals - picking out important words, following the structure of the talk and using a system of notation, you should be able to make concise, useful notes.

(Pamela Roger son, Teacher's book: 96)

THE THEATRE

Have you ever been in a school play? Do you know how a play is produced? Hong Kong's Academy for the Performing Arts puts on many plays and opera every year. The preparations start many months before the first performance.

The director has to find the right actor for each of the parts in the play. Each actor will sing or read from the play, as a test. The director will then choose the best person for the part.

The set designer is the person who makes the scenery. This includes painting the walls of the stage, to make them look like a house or a beach, for example. The set designer also decides what kind of furniture is needed.

It is the job of the lighting engineer to decide what kinds of lights to use and where to put them. Different coloured lights may also be used to create the right atmosphere. To make plays seem more real, special sounds are used. This is the job of the sound engineer, who makes noises such as a door closing of the sound of the rain outside.

It is difficult to all these jobs, however, and something can go wrong. The sound engineer might use the wrong noise at the wrong time. The sound of a baby crying might be heard instead of a door closing. Or an actor might sit down on a chair, and the chair might break by accident.

In one local play, an actor opened a door and pulled the whole door away from the wall! Also, the scenery that the designer had made fell down during the performance. In another play, an actor took a gun from his pocket. But the problem was that it wasn't a gun - it's a portable telephone!

The people watching the play might think this is very funny. However, you can be sure that the actors don't.





tải về 213.57 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương