Interpreting techniques – KỸ thuật phiên dịCH



tải về 213.57 Kb.
trang5/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích213.57 Kb.
#4373
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Chương 4. TRÍ NHỚ


Memory

Trong mô hình về quy trình phiên dịch có một số khái niệm mang tính chất ngôn ngữ học và ngoài ngôn ngữ học. Bắt đầu quy trình dịch là the input (đầu vào), tức là văn bản nói do diễn giả trình bày. Khâu đầu tiên người phiên dịch phải vượt qua là nghe hiểu được toàn bộ thông điệp. Những kỹ thuật để hoàn thành được nhiệm vụ này đã được bàn đến ở Chương 3: Nghe hiểu để dịch. Khâu thứ hai người phiên dịch phải vượt qua là ghi nhớ toàn bộ thông tin để tổ chức địch. Trong chương này chúng ta bàn đến những kỹ thuật dùng để nâng cảo khả năng ghi nhớ dữ liệu của người phiên dịch.

Ghi nhớ có ý thức tạo điều kiện cho người phiên dịch gợi nhớ lại dữ liệu một cách nhanh chóng trong các tình huống cần đến. Như vậy khi đang dịch gặp một chuỗi từ thể hiện một ý nào đó, người phiên dịch phải viện đến kho dữ liệu nhằm làm sống lại cả một khái niệm, cả một tình huống, tránh được tình trạng viện đến những từ tương đương trong TL mà không hiểu khái niệm, tạo ra một sản phẩm "dịch từng từ” (word-for-word translation). Đây là những trường hợp thường xảy ra khi người phiên dịch gặp phải một chuỗi phát ngôn mang hàm ý (implicit meaning).

Người phiên dịch sống trong một thế giới giác quan, và cảm thụ khái niệm thông qua những giác quan này. Những khái niệm này ngày càng phong phú và có thể được gợi nhớ (be recalled), thậm chí được làm sống lại (be re-lived) thông qua các hệ thống ghi nhớ (systems of memory).

Sự đầy đủ, chính xác, và trung thành trong lời dịch đều phụ thuộc vào khâu ghi nhớ. Người phiên dịch phải luôn luôn sử dụng đến cả hai loại hình ghi nhớ: ghi nhớ vĩnh cửa (long-term memory) và ghi nhớ tạm thời (short-term memory)

Hệ thống ghi nhớ vĩnh cửu (long-term memory system: LTM) được sử dụng để phục vụ cho hai mục đích. Một là, nó hoạt động như một cái kho dữ liệu năng động, sẵn sàng cung cấp thông tin cần thiết cho người sử dụng, tạo cơ sở cho khâu ’’hiểu” (understanding) trong quy trình dịch (xem sơ đồ “The Process of Interpreting”,Chương 3). Chẳng hạn khi dịch chủ đề về "sống chung tiền hôn nhân", người dịch phải viện đến những kiến thức trong LTM như sự ràng buộc pháp lý (legal ties), thuần phong mỹ tục (fine traditional customs), áp lực xã hội (social pressure), sự phân biệt đối xử về giới (sex discrimination), hôn nhân (marriage), v.v. thông qua hoạt động gọi là gợi nhớ (recall). Hai là, nó làm nhiệm vụ thu thập thêm thông tin cần lưu trữ (integrate new information) vào kho dữ liệu (LTM database). Ví dụ sau mỗi đợt đi dịch cho một chuyên đề nào đó, LTM database sẽ nhận thêm một số từ chuyên ngành, một số khái niệm mới.

Người phiên dịch khi tiến hành dịch đuổi phải nghe một thông điệp ở một ngôn ngữ rồi tái tạo nó bằng một ngôn ngữ khác; như vậy phải viện đến trí nhớ. Cũng có người cho rằng nếu có khả năng ghi chép tốt, ngay cả dùng loại hình tốc ký để ghi chép một cách đầy đủ thì sẽ không cần đến trí nhớ nữa. Điều này không thể thực hiện được vì nhiều lý do (xem Chương 5: Ghi chép để dịch). Người phiên dịch cần phải sử dụng một cách có hiệu quả hệ thống ghi nhớ tạm thời.

Vấn đề đặt ra là người phiên dịch phải ghi nhớ theo kiểu gì để có thể tạo điều kiện ngay tức khắc sử dụng đến thông qua gợi nhớ. Ví dụ, khi nhận được một thông điệp của diễn giả là:

The component of the project is designed to reduce rural poverty and achieve sustainable growth in productivity and farm household income from quantitative and qualitative improvements in agricultural production and marketing, with special focus on the poor, women and ethnic minorities.

Người phiên dịch ghi nhớ theo cách nào để ngay khi diễn giả dừng lại là đã có thể giải mã và chuyển dịch sang tiếng Việt? Người phiên dịch dùng kỹ thuật gọi là gắn yếu tố nhắc nhở vào từng phần của thông điệp (mnemonic techniques). Kỹ thuật này bao gồm bốn thao tác:

- Viện đến dữ liệu củạ LTM hoặc STM để hiểu được nội dung thông điệp. Ví dụ: như trong thông điệp trên người phiên dịch phải viện đến những khái niệm (notions) như sustainable growth, quantitative, qualitative, marketing, v.v.

- Gắn những yếu tố nhắc nhở (mnemonic clues/aides) để dễ gợi nhớ lại, ví dụ như trong thông điệp trên, những yếu tố nhắc nhở có thể là:

reduce……

achieve……

quantitative……

special focus……

Bốn yếu tố nhắc nhở này sẽ là bốn yếu tố gợi nhớ bốn ý chính của thông điệp trên. Một người bình thường khi vào giao tiếp, trình bày ý tưởng hoặc thảo luận, v.v. một vấn đề gì đều phải sử dụng đến thao tác này. Nhưng điều khác nhau giữa người phiên dịch và các người khác là ở chỗ người phiên dịch rơi vào tình trạng thụ động. Sự sắp xếp không phải do mình quyết định mà phải sắp xếp theo đúng trật tự diễn giả đưa ra.

- Sử dụng năng lực nghe-tưởng tượng ra hình ảnh (visualisation) để hỗ trợ sự ghi nhớ. (Xem Chương 3: Nghe hiểu để dịch).

- Ghi chép (Xem Chương 5: Ghi chép để dịch)

Người phiên dịch phải tiến hành bốn thao tác này hầu như cùng một lúc thì mới đảm bảo yêu cầu phiên dịch ngay lập tức khi diễn giả dừng nói.

Trên thực tế, còn một yếu tố nữa cũng hỗ trợ rất lớn cho trí nhớ của người phiên dịch, đó là văn cảnh (context). Trong mỗi diễn văn đều có nhiều văn cảnh. Người phiên dịch cần phát hiện được đúng điểm bắt đầu một văn cảnh và điểm kết thúc văn cảnh đó. Bắt đầu một văn cảnh là bắt đầu một ý: hoặc diễn giải, hoặc phân tích để tranh luận, hoặc trình bày quan điểm cá nhân. Nếu phát hiện sai điểm bắt đầu của một văn cảnh, người phiên dịch sẽ lúng túng vì cảm thấy thiếu lôgích trong cách hiểu thông điệp của mình. Kết thúc một văn cảnh là kết luận một quan điểm, một ý tranh luận, một ý giải trình. Nếu không phát hiện được điểm kết thúc của một văn cảnh, người phiên dịch sẽ không giúp cho người nghe hiểu đầy đủ kết luận của vấn đề.

Phương pháp huấn luyện trí nhớ (memory training) để đạt được mục tiêu phiên dịch bao gồm nhiều kỹ thuật khác nhau. Nhưng nói chung các kỹ thuật thường sử dụng những thông điệp dài, có thể tới 3-5 phút nghe. Người phiên dịch bước đầu phải tóm tắt được ý chính. Sau đó người huấn luyện sẽ đặt ra nhiều câu hỏi, mỗi câu nhằm khai thác đầy đủ một ý (ý chính và ý phụ trợ). Dần dần khi kết thúc câu hỏi, người phiên dịch đã có thể khai thác triệt để mọi thông tin trong bài diễn văn, bằng cách gợi nhớ (recall) hoặc làm sống lại (re-live) sự kiện đã được lưu trữ trong trí nhớ.



Exercise 1: Đây là bài luyện trí nhớ: Con vẹt Alex.

- Lần thứ nhất: nghe và ghi nhớ những việc còn vẹt Alex có thể làm được.

- Lần thứ hai: Nghe và ghi nhớ …

Không được ghi chép dưới bất cứ hình thức nào.



ALEX

Dr Irene pepperberg is a scientist at the University of Arizona.

…………………….

Dr Pepperberg leaened that Alex can do some of the same things humans can do. Animals are more like humans than we think.



Exercise 2: Hãy nhắm mắt lại nghe một đoạn miêu tả cảnh trên núi: High up in the mountains.

Mục đích: Luyện trí nhớ.

Yêu cầu:

1. Ghi nhớ những miêu tả cảnh trên núi theo đúng trật tự trong bài miêu tả.

2. Nghe, ghi nhớ, Không ghi chép,

HIGH UP IN THE MOUNTAINS

You are very relaxed and are ready to think about being high up in the mountains. You're sitting under a huge pine tree and leaning against the trunk of the tree.

…………………………

It is a wonderful place to be.



Exercise 3: Dùng kỹ thuật đọc nhanh để ghi nhớ những sự kiện trong đoạn đọc sau đây.

Mục đích: Luyện trí nhớ

Yêu cầu: Đọc một lần, không ghi chép.

THE BLUES

The blues form originates with Afro-American music and jazz. It does not seem to have any direct origin in European music, “folk” or “fine”. And, despite some interesting influences from African and Arabic music, the blues form seems to have grown up in the United States.

Most of us know the blues in its vocal version - a line of verse, then the same line repeated, then a third line with a terminal rhyme that completes the stanza:

The moon looks lonesome when it's shining through the trees;

The moon looks lonesome when it's shining through the trees.

And a man looks lonesome when his woman gets ready to leave.

The blues began the way all music begins, as chant and as song. It's quite probable that in the earliest blues form the first line of a stanza was repeated, not twice, nut three or more times, until the singer, who might be improvising (and who was possibly accompanying himself on some sort of stringed instrument), arrived at a good way of completing his thought and at appropriate rhyme for his third line. The blues song thus involved into a kind of poetry, and that point is worth dwelling over. (...)

In the middle of the Thirties, when the men who wrote about jazz and other popular music began to discover the blues, they sometimes said that this musical form expressed “social protest”. Certainly some of the blues do. They are about hard labor, poverty, a mean straw boss, and even racial segregation. But the blues are not ways of railing conditions. They are art, and therefore they are ways of coming to term with conditions aesthetically. (...)

During the Twenties some blues singers, particularly the great women singers of the time, were often recorded with several instrumentalists. The players not only “accompanied” but also improvised musical comments on the meaning of the song behind and between the singer's phrases. This special relationship among singer, song, and accompaniment can be heard in the recordings of one of the greatest of blues artists, Bessie Smith.

It was inevitable that the vocal-poetic form should have been transferred to instruments. And so it was, and thus did the evolution of music in all culture repeat itself in the United States. Blues singing, however, was done with great many “bent” notes, glides and quavers of the voice, and other practices, to convey emotion. And as the blues idioms began to be transferred to European instruments, these vocal inflections and effects were retained by the players. They discovered ways to play these sounds on their instruments, and thus we hear jazz horns wailing, growling, sobbing, and even using a scale that enjoys notes not properly found in European music. As instrumental music continued to develop, a very unusual and interesting thing happened -instead of gradually being refined away, these “vocal” effects were retained and even further developed. And they continued to be used by jazz musicians when they were playing in musical forms other than blues.



(Learning English A4/B3. Modem Life: 47-49)

Exercise 4: Hãy nghe một trích đoạn trong tác phẩm Jane Eyre của Charlote Bronte. The Thornfield house-party. Đây là đoạn miêu tả bữa tiệc ở nhà Thomfield.

Mục đích: Luyện trí nhớ

Yêu cầu: Ghi nhớ những sự kiện xảy ra theo đúng trật tự trong chuyện. Không ghi chép.

THE THORNFIELD HOUSE-PARTY

(...)


At last the great day came. Everything was ready for the master and his guests.

Adèle and I watched from an upstairs window as the carriages arrived.

And although I knew I must hide my feelings, must never allow myself to hope, I also knew that while there was breath in my body, I would always love him.

Exercise 5: Hãy đọc bản tin VOA sau đây. Ghi nhớ những phát hiện của Rodale Institute, Pennsylvania

Mục đích; Luyện trí nhớ

Yêu cầu:

- Đọc lần thứ nhất, ghi lại những phát hiện của Rodale Institute.

Không cần ghi nhớ cụ thể tên của các loại rau quả.

- Đọc lần thứ hai. Ghi nhớ tên những loại rau quả thuộc từng loại: (1) loại cần ít ánh sáng mặt trời, và (2) loại cần nhiều ánh sáng mặt trời.



VOA SPECIAL ENGLISH AGRICULTURAL REPORT

Farmers often feel they need a lot of sunshine to produce good crop. The Rodale Institute in Pennsylvania, however, says lots of vegetables grow well without much sun.

The research center published a report about this subject a few years ago in its magazine Organic Gardening. The report said many different kinds of foods from blue-berries to beans can be grown in the shade.

Some vegetables do need a lot of sun. A vegetable crop expert at the University of Maine advised putting these vegetables where they can get from eight to ten hours of sunlight a day Tomatoes, melons, squash and peppers are among those that need the most sun.

Plants that produce root crops, such as carrots and beets, need from six to eight hours of sunlight every day. But leafy vegetables, such as lettuce and spinach, need only six hours of sunlight a day.

The Rodale Institute says a garden should be planned carefully, especially if you grow different kinds of foods. For example, rows of vegetables should be planted in an east-west direction. That way, as the sun passes overhead, all the plants will receive an equal amount of light. This is especially important when the plants grow to different heights.

Nut trees such as filbert, hazelnut and yellow horn produce well with only sun in the morning.

Some fruits also do well without a lot of sunlight. In the United States, blueberries, raspberries, and several kinds of pears need only a little sun each day. In Asia, the hardy kiwi grows well in the shade.

Many herbs also grow well without much sun. Mint plants, for example, grow well in the shade. So do sage, dill, oregano, borage, chamomile and several kinds of thyme.

The owner of a garden seed company warned against removing shade trees. He cut down all his shade trees to provide more sun for his crop. But then he had to protect his summer lettuce from the heat of the sun by hanging a piece of cloth to provide shade.

Instead of cutting trees, he suggested putting plants that heed a lot of sunlight, such as tomatoes, in containers. That way they can be moved as the sun moved.

Internet users can learn more about the Rodale Institute at rodaleinstitute.org.



(VOA Special English Week 163.
Episode 1012. Date: 01-11-2005)

REFERENCES

- Bell, Roger T. (1994). Translation and Translating: Theory and Practice. Longman.

-Brontee, Charlotte. Jane Eyrre. Oxford Bookworms Library. OUP 2003 -Interpretation. European Community. Luxembourge.

- Seleskovitch, Danica; Marianne Lederer (1995). A Systematic Approach to Teaching VO A Special English. Agricultural Report. Week 163 Episode 1012.

- Williams, Martin (1963). Where's the Melody? Pantheon Books, New York. Learning English A4/B3. Modern Life. Ernst Klett Stuttgart, 1971. P.47-49 


TAPESCRIPT


ALEX

Dr Irene pepperberg is a scientist at the University of Arizona. She's studying parrots. She wants to find out how their brains work. She taught an African gray parrot to speak English. His name is Alex. He can say more than 100 English words! He also understand them.

Dr Pepperberg asks Alex questions and he answers in English. In this way, she know what Alex's brain can do. Alex can name forty objects. He can also name five shapes, four materials, and seven colours. He can solve problems and answer questions. He gives the correct answer 80% of the time. For example, Dr Pepperberg shows Alex a tray with objects on it. - blue metal cubes, green balls made of wool, and fed plastic squares. Alex looks at the objects.

"Which shape is plastic?" "Square."

"Good birdie!"

"Can I have a nut?"

“All right, you can have a nut.”

Most people think animals are very different from humans. Dr Pepperberg learned that Alex can do some of the same things humans can do. Animals are more like humans than we think.



(Lori Howard, Read All about it-1:65)

HIGH UP IN THE MOUNTAINS

You are very relaxed and are ready to think about being high up in the mountains. You're sitting under a huge pine tree and leaning against the trunk of the tree. It is very peaceful and quiet where you are. You can smell the earth, the sweet with the odour of the follorn pine needles. There are other pine trees around you and they smell sharp and sweet. As you relax there you can see the bright blue sky with fluffy white clouds floating slowly across the blue. The sun is shining and the clouds cast a shadow on the mountain tops far away on the horizon. The mountains are beautiful. And there are spots of shiny white snow on the peaks. It is very clear up there and you can see many pine trees and other mountain peaks with snow on the tops. You are very relaxed, calm and quiet as you smell the pines and watch the clouds float by and see the purple mountain peaks so far away. You can hear the buzzing of the bees and flies. A mountain bird is calling high up in the trees. You can hear the soft switch of the pine needles as the breeze blows gently through the pine branches. It is peaceful and comfortable where you are. You like it. There is so much to see, such pleasant smells and so many things to hear as you sit quietly there leaning against the pine tree high up in the mountains.

You decide to get up and take a walk to the grasses and bright little mountain flowers. You look down and see that the grasses cover you shoes as you continue walking. You are the only person up there in the mountain, and you like to walk and look at the many little colourful flowers all around you. It is so fresh and clear. You'll come back to the mountains again when you're to feel relaxed, calm and comfortable. It is a wonderful place to be.

Đáp án:


1. Ngồi tựa vào cây thông trên núi.

2. Không khí tĩnh lặng.

3. Ngửi thấy mùi đất, mùi quả thông.
THE THORNFIELD HOUSE-PARTY

At last the great day came. Everything was ready for the master and his guests. Adèle and I watched from an upstairs window as the carnages arrived. In front road Mr Rochester on his black horse, and with him rode a beautiful lady, her black curls steaming in the wind. “Blanche Ingram!” I thought. We listened to the laughing and talking in the hall, as the guests were welcomed by their host and his housekeeper. From a dark corner of the stairs we admired the ladies as they went up to their rooms, and then again as they descended to dinner in their elegant evening dresses.

Adèle was hoping Mr Rochester would call her down to meet the guests, but in the end she was so tired with all the excitement that she and I both went to bed early.

Next morning after breakfast the whole group went out for the day. Again I saw Mr Rochester and Blanche Ingram riding together. I pointed this out to Mrs Fairfax.

“You see, Mr Rochester clearly prefers her to any of the other ladies.”

“Yes, he does seem to admire her,” admitted the housekeeper.

“And she admires him. Notice how she looks at him! But I haven't really seen her face yet. I'd like to.”

“You'll see her tonight,” answered Mrs Fairfax. “I mentioned to the master that Adèle wanted to be introduced to the ladies, and he ask you to bring her down to meet them this evening.”

“Well, I'll go if he wants me to, but I don't like meeting strangers. I'm not used to it.”

“I understand how you feel,” said the old lady kindly, “but the guests won't notice you much, and you can easily escape after a short time.”

So Adèle and I, dressed in our best, were waiting as the ladies came into the sitting- room after dinner. I was most impressed by the beauty and elegance of all of them, but was especially fascinated by the Ingram family. Lady Ingram, although between forty and fifty, was still a fine woman. Her hair still looked black, by candlelight at least, and her teeth still seemed perfect. But she had fierce, proud eyes, that reminded me of aunt Reed's, and a hard, powerful voice. Her daughter Mary was rather quiet, but her other daughter Blanche was very different. As soon as the gentlemen came into the room and coffee was served, she became the center of attention. She played the piano excellently, she sang sweetly, she discussed intelligently, and all the time her flashing eyes, rich black curls and fine figure attracted glances from every gentleman in the room.

But I was looking for someone else. The last time I had seen him, on the night of the fire, he had held my hands, told me I had saved his life, and looked at me as if he loved me. How close we had been then! But now, he entered the room without even looking at me, and took a seat with the ladies. I could not stop looking at him, rather like a thirsty man who knows the water is poisoned but cannot resist drinking. I had never intended to love him. I had tried hard to destroy all feelings of love for him, but now that I saw him again,1 could not stop myself loving him. I compared him to the other gentlemen present. They were all fine, handsome men, but they did not have his power, his character, his strength, or indeed his deep laugh or his gentle smile. I felt that he and I were the same sort of person, that there was something in my brain and heart, in my blood and bone, that connected me to him forever. And although I knew I must hide my feelings, must never allow myself to hope, I also knew that while there was breath in my body, I would always love him.



(Jane Eyrre, pp. 41-43)


tải về 213.57 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương