Interpreting techniques – KỸ thuật phiên dịCH


Chương 3. NGHE HIỂU ĐỂ DỊCH



tải về 213.57 Kb.
trang4/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích213.57 Kb.
#4373
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Chương 3. NGHE HIỂU ĐỂ DỊCH


Understanding the message to interpret

Năng lực nghe hiểu nằm trong năng lực ngôn ngữ của người phiên dịch. Đây là một kỹ năng rất khó, đặc biệt đối với người Việt, xuất phát từ sự khác biệt rất xa giữa cấu trúc của hai ngôn ngữ: tiếng Việt là ngôn ngữ thanh điệu (tonal language), và tiếng Anh là ngôn ngữ ngữ điệu (intonational language). Kinh nghiệm của các phiên dịch Việt Nam là phần lớn những thất bại, những lời dịch chất lượng kém xuất phát từ năng lực nghe hiểu còn non yếu. Chương 3 bàn đến những yêu cầu của nghe hiểu và những kỹ thuật tăng cường khả năng hiểu qua nghe của người phiên dịch.

Để diễn đạt một ý tưởng một cách rõ ràng và có hiệu quả, người phiên dịch phải bắt được thông điệp một cách rõ ràng trong đầu của mình. Sau đó, để diễn đạt lại (re-express) thông qua quy trình tái tạo (reformulation, xem Chương 2) mà không phải nhắc lại nguyên văn từng từ của diễn giả, người phiên dịch phải có khả năng phân tích rõ ràng về cấu trúc của những ý tưởng ấy. Khả năng phân tích (analysis) một ý tưởng phụ thuộc vào khả năng hiểu qua nghe từng ý tưởng riêng biệt, sử dụng nó như những viên gạch để kết nối thành một dòng chảy về ý tưởng của diễn giả. Nói như vậy có nghĩa là người phiên dịch phải trải qua ba bước: hiểu qua (understanding), chọn lọc (deciphering) và diễn đạt lại (re-expressing). Chúng ta hãy nghiên cứu sơ đồ về quy trình dịch sau đây.

Sơ đồ. The process of interpreting

Nhìn vào sơ đồ trên chúng ta thấy khâu quan trọng nhất là understanding. Có vượt qua được khâu này người phiên dịch mới có thể chọn lọc để giảm bớt gánh nặng của thông điệp (deciphering), rồi sau đó chuyển tải sang ngôn ngữ mục tiêu (transference). Để có được Output 2 tức là thông điệp hoàn thiện bằng TL người phiên dịch phải vận dụng kiến thức của mình về khái niệm (C-1) và văn hóa (C-2) của cả hai cộng đồng ngôn ngữ SL và TL để tái tạo (reformulate) thông điệp. Output 1 là sản phẩm TL đầu tiên, chưa được biên tập. Output 2 mới là sản phẩm để phát ra, tức là sản phẩm đã được điều chỉnh cho thích hợp với văn phong TL.

Khái niệm "hiểu" chúng ta dùng ở đây là hiểu theo kiểu của người phiên dịch, hiểu ý (ideas) chứ không phải là hiểu từng từ, tất nhiên muốn hiểu được ý người phiên dịch phải biết nghĩa những từ/nhóm từ và mẫu câu diễn giả dùng để diễn đạt. Nhiều người thường đặt ra câu hỏi là "Nếu không biết hết từ thì làm sao hiểu được ý nghĩa của phát ngôn?" Trong giáo học pháp dạy-học ngoại ngữ, người ta thường đề cập đến vấn đề sử dụng văn cảnh để đoán từ (xem Chương 6), đồng thời kỹ thuật nghe hiểu cho phép chúng ta nghe những từ chủ chốt (key words) trong một câu tiếng Anh và đoán nghĩa của toàn câu. Trong nhiều trường hợp người phiên dịch có thể không biết một (hai) từ rất quan trọng trong câu, nhưng do được dịch toàn bộ diễn văn, tức là đã biết được tình huống lớn (macro situation) nên vẫn có khả năng phán đoán được ý nghĩa của toàn thông điệp trong một tình huống nhỏ (micro situation). Ví dụ:

Never ask for whom the bell tolls, it tolls for thee (Jone Donne. Trích "For whom the bell tolls của E. Hemingway")

Có thể người phiên dịch không biết từ tolls, từ quan trọng nhất, nhưng điều đó không ngăn cản khả năng hiểu cả thông điệp: "Đừng bao giờ hỏi chuông nguyện hồn ai, chuông nguyện hồn anh đấy''. Có thể người phiên dịch không dịch được là chuông nguyện nhưng ít ra cũng phán đoán được là chuông rung, chuông ngân lên.

Bây giờ chúng ta hãy điểm qua những kỹ thuật nghe hiểu mà một người phiên dịch ở cấp độ 1 (accredited level 1), tức là cấp độ đào tạo ra người hỗ trợ ngôn ngữ (language aide) cần phải được huấn luyện.

Nói về kỹ thuật nghe người ta thường đề cập đến mục đích nghe. Chúng ta có thể có những mục đích sau đây:

1. Nghe trọng âm đoán nghĩa (Listen to sentence stresses to guess the meaning)

2. Nghe để lấy thông tin chính, tức là cốt lõi của một thông điệp. (Listen for gist)

3. Nghe để lấy các thông tin chi tiết (Listen for supporting details)

4. Nghe để lấy thông tin mình cần đến (Listen for wanted information)

5. Kỹ thuật nhìn thấy điều nghe được (Visualisation)

6. Nghe ghi (Listening and notetaking)

7. Nghe chép chính tả (Dictations)

8. Nghe để lấy tất cả các thông tin của thông điệp (Listen for everything)

Nói như vậy là chúng ta đã tách nghe ra thành nhiều thành tố khác nhau để rèn luyện từng bước của quy trình nghe hiểu. Người phiên dịch cuối cùng phải xây dựng được năng lực nghe và nắm bắt được tất cả các thông tin (listen for everything) vì nhiệm vụ của họ là tái tạo đầy đủ thông điệp.



1. Luyện nghe nắm bắt trọng âm câu (Listen to sentence stresses)

Một câu tiếng Anh có những từ quan trọng và những từ không quan trọng. Người Anh thông thường nhấn vào những từ quan trọng, nhấn vào (đặt trọng âm) tức là nói to hơn, rõ hơn và cao hơn các từ khác trong câu.

Ví dụ, khi muốn nói ngày mai chúng ta sẽ ký hợp đồng, câu đầy đủ là We will sign the contract tomorrow. Trong câu này có ba yếu tố quan trọng là sign …contract…tomorrow... Nếu nghe được ba yếu tố đó chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của toàn câu. Trong văn cảnh đang thảo luận về ngày ký, chúng ta lại chỉ cần nghe một từ quan trọng đó là tomorrow.

Exercise 1: Chúng ta cùng phân tích theo cách này khi nghe một số câu trong một cuộc hội thoại giữa hai người bạn. Chủ đề: Mời bạn đến nhà ăn cơm.

INVITATION TO DINNER

Woman: When can we expect you for dinner? Can you come tonight?

Man: I'm ready. I think I'll fast all day Friday!

Trong câu chuyện trên chúng ta nghe những từ quan trọng trong câu. Những từ này được người nói nhấn mạnh: nói to hơn và cao hơn các từ khác.

1. When can we expect you for dinner? Can you come tonight?

Trong câu này những từ có trọng âm là: when... dinner... tonight...

Nghĩa là: Khi nào anh đến ăn cơm được? Tối nay?

2. Not tonight. I promised to go to a concert with my sister.

Trong hai câu này nhữtig từ có trọng âm là: not... concert... sister... Nghĩa là: Tối hôm nay không được. Tôi đi xem ca nhạc với cô em gái.

3. Well... How about Friday then?

Trong câu này từ có trọng âm là: Friday...

Nghĩa là: Vào thứ Sáu nhé?

4. That sounds fine.

Trong câu này từ có trọng âm là: fine...

Nghĩa là: Đồng ý.

5. Good. Shall we say seven o'clock?.

Trong câu này từ có trọng âm là: seven...

Nghĩa là: 7 giờ được không?

6. I’ll be there! You're still a fabulous cook, aren't you?

Trong hai câu này những từ có trọng âm là: be …still fabulous cook...

Nghĩa là: Vâng, vẫn là đầu bếp tuyệt vời đấy chứ?

7. That'll be for you to decide.

I’ve got a new dish that I want to try out on you.

Trong hai câu này những từ có trọng âm là: you... decide …new …dish... out... Nghĩa là: Cái đó do anh thôi. Có món mới thử mời anh.

8. I’m ready. I think I’ll fast all day Friday!

Trong câu này những từ quan trọng là:fast... all... Friday …

Nghĩa là: ừ. Tôi sẽ nhịn cả ngày thứ Sáu.

Exercise 2: Chúng ta hãy nghe một bài ngắn: Back to the Dump, ghi lại những trọng âm nghe được trong từng câu, rồi ghép lại để phán đoán nghĩa của toàn câu, rồi toàn đoạn.

BACK TO THE DUMP

When I was a boy, everybody urged me to get plenty of sunshine, so I got plenty of sunshine for a long time.

Life seemed to be an educator's practical joke in which you spent the first half learning and the second half learning that everything you learned in the first half was wrong.

Ví dụ: Câu đầu tiên chúng ta bắt được những trọng âm như sau:

...I... boy... urged... plenty... sunshine...

... plenty... long... time

Nghĩa của toàn câu là: Khi tôi còn nhỏ mọi người thúc tôi là cần phải hấp thụ nhiều ánh nắng, và trong một thời gian dài tôi hứng nhiều ánh nắng.

Theo cách này các bạn nghe tiếp.



2. Kỹ thuật nghe lấy thông tin chỉnh (Listen for gist)

Khi chúng ta nghe bất cứ điều gì bao giờ chúng ta cũng có ý thức lọc ra xem người nói muốn gì. Đó là ý chính. Khi nghe tiếng Anh, ý chính của câu thể hiện bằng những từ quan trọng có trọng âm trong câu. Đấy là ở câp độ câu. Câu nào cũng có nghĩa của nó. Nhưng khi ghép các câu vào trong một đoạn thì không phải câu nào cũng là ý chính. Chỉ có những câu quan trọng mới mang nghĩa chính.

Có nhiều đoạn nói hoặc viết chúng ta phải tổng hợp thông tin trong toàn đoạn mới suy ra ý chính được.

Chúng ta cùng kiểm nghiệm những điều trên qua một vài bài tập.



Exercise 3: Hãy đọc bốn câu sau đây, cảm giác của ban thấy ý chính của toàn đoạn là gì?

I was afraid at first. I had never been around a baby before. "Here," said my wife. “take him while I fix his bottle.” The little body felt warm in my arms.

Đáp án của chúng ta là ngay câu đầu: I’m a father. Rõ ràng trong bốn câu trên không câu nào nói rõ người đàn ông này là ai, nhưng toàn văn cảnh cho ta đáp án: một người bố.

Exercise 4: Chúng ta hãy nghe hai người nói chuyện. Chủ đề của câu chuyện là gì? Và ý chính là gì?

GETTING LOST

Womana: Where on earth are we?

W1: Yeah, yeah, yeah, I think I see one up there in the next block.

Với đoạn hội thoại trên: hai người phụ nữ đi ôtô, hỏi nhau Xem có phải là bị lạc đường không và họ tìm cách trở lại đường cao tốc. Vậy chủ đề là: Lạc đường, ý chính là: Rẽ nhầm. Hỏi cảnh sát đường quay trở lại.



Exercise 5: Chúng ta hãy nghe bài nói chuyện về ý nghĩa của màu sắc (The Meaning of Colours) sau đây. Liệt kê các ý chính.

THE MEANING OF COLOURS

Colours mean different things to different cultures.

Were they any of these colours? If so, read the description and see if it describes your personality. You may be surprised.

Các ý chính trong bài nói chuyện là:

1. Màu sắc có ý nghĩa khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau.

2. Màu của đàn ông là xanh, màu của phụ nữ là hồng.

3……

4……


5……
3. Kỹ thuật nghe lấy thông tin chi tiết (Listen for details)

Quy trình nghe của chúng ta bao giờ cũng bắt đầu từ nghe lấy ý chính sau đó mới đến những ý chi tiết. Chúng ta cùng tham khảo một loại hình luyện nghe mức độ quan trọng của các ý hỗ trợ.

Which details are important?

Đối với một ý chính sẽ có nhiều ý hỗ trợ, tức là thông tin chi tiết về ý chính đó. Nhưng cũng có chi tiết quan trọng hơn các chi tiết khác. Loại hình này giúp chúng ta tìm ra những thông tin chi tiết quan trọng trong một câu.



Exercise 6: Chúng ta cùng đọc đoạn sau đây. Chi tiết nào quan trọng nhất?

When Susie opened the door she didn't hear her bird singing. She ran to the cage. "Oh, dear," she thought, "my lovely birdy is dead." Suddenly the bird went "cheep, cheep".

Trong câu chuyện trên chúng ta thấy ý chính là: Susie rất quý con chim nhỏ. Chi tiết quan trọng là: con chim kêu "chip chip"

Người phiên dịch cần nắm bắt đưực kỹ thuật này vì nó giúp ta sắp xếp ngữ liệu trong đầu khi chuẩn bị tái tạo ra sản phẩm C1.



Exercise 7: Chúng ta nghe một bài nói về Tháp London. Hãy ghi lại thông tin chính (main ideas)

THE TOWER OF LONDON

The Tower of London is actually many buildings....

It’s not surprising that there are many legends and tales about the Tower, including stories about a resident ghost.

Ý chính:

1. Tháp London do William the Conqueror xây năm 1066.

2. Du khách đến tham quan châu báu của Hoàng gia trong nhà trưng bày.

3. Thăm Tháp London gợi cho chúng ta nhiều sự tưởng tượng.

4. Có nhiều truyền thuyết về Tháp London.

Hãy nghe lại một lần nữa, ghi lại những thông tín chi tiết (details) bổ sung cho thông tin chính.

Ý chính và ý phụ trợ:

Thông tin chính 1: Tháp London do William the Conqueror xây năm 1066.

Thông tin bổ sung cho thông tin chính 1:Tháp London có nhiều lâu đài hợp lại.

Thông tin chính 2: Du khách đến tham quan châu báu của Hoàng gia trong nhà trưng bày. Thông tin bổ sung cho thông tin chính 2: King Charles bị kết tội, châu báu của hoàng gia bị hủy, châu báu trưng bày là những châu báu còn giữ lại được từ thời đó, vật trưng bày có cả giáo mác của Thánh George, áo giáp của Vua Henry III, và Thanh kiếm Công lý,

Thông tin chính 3: Thăm Tháp London gợi cho chúng ta nhiều sự tưởng tượng.

Thông tin bổ sung cho thông tin chính 3: các cây tháp, cầu cất, hào, vườn cây, phòng tranh, những nhân vật nổi tiếng bị giam ở đây.

Thông tin chính 4: Có nhiều truyền thuyết về Tháp London.

Thông tin bổ sung cho thông tin chính 4: những câu chuyện ma.

4. Nghe lấy thông tin cần đến (Listen for wanted Information)

Trong hoạt động xã hội, khi nghe thông thường ít người nghe mọi chi tiết. Mỗi người khi bước vào nghe phải có định hướng cho mình, và như vậy trong khi nghe người đó sẽ bỏ qua những chi tiết không cần đến. Chẳng hạn khi đi dự hội nghị về "Phát triển nuôi cá ba sa", mỗi người có thể có mục đích riêng khác nhau. Có người đang nuôi cá, đến hội nghị chờ nghe những kinh nghiệm của các người khác, có người chuẩn bị nuôi, đến hội nghị để tiếp thu các kỹ thuật hiện đại, nhưng cũng có người đến hội nghị chỉ để thu thập tin tức (tình hình nuôi cá hiện nay có gì khó khăn, thuận lợi, tình hình xuất cảng cá ra sao, v.v.). Ngay cả trong một thông tin người nghe cũng chỉ tập trung nghe điều mình cần đến mà thôi. Trong những người đến nghe để thu thập tình hình xuất khẩu cá, có người quan tâm đến tuyến xuất sang Mỹ, có người chỉ muốn nghe tin xuất sang EU, v.v. Cách nghe này gọi là nghe lấy thông tin cần đến.

Exercise 8: Chúng ta cùng phân tích cách nghe này một cách chi tiết hơn thông qua câu chuyện sau đây.

KEEPING CLEAN IN SPACE

Astronauts have important work to do in space. They must stay healthy to do a good job.

What do astronauts miss most about earth? A hot shower!

Khi nghe bài nói chuyện với chủ đề Giữ vệ sinh trên vũ trụ, mỗi người có thể có những điểm tò mò khác nhau.

Ai muốn nghe xem họ tắm như thế nào thì hãy bắt đầu chăm chú nghe khi gặp từ đánh dấu (signposts) như: Now astronauts take towel baths.

Người quan tâm đến cách gội đầu của các nhà du hành vũ trụ hãy bắt đầu nghe khi nghe thấy: And how do they wash their hair?

Còn And how do astronauts brush their teeth? dành cho người muốn biết các nhà du hành vũ trụ đánh răng như thế nào.

Exercise 9: Chúng ta nghe thông báo trong buổi họp cuối cùng của Hội nghị về Quy hoạch Đô thị (Urban Planning). Hãy ghi lại thông tin sau đây:

1. Sự thay đổi phòng họp

2. Giờ nộp báo cáo thảo luận

3. Giờ chạy của các chuyến xe buýt ra sân bay.



LADIES AND GENTLEMEN

Ladies and Gentlemen,

If I can have your attention for a moment please, I have the final notices for this final session of the conference.

Thank you all for coming.

Các thông tin chúng ta cần nắm bắt là:

1. Phòng họp về ô nhiễm đô thị chuyển sang phòng 201.

Phòng họp về nhà ở chuyển sang phòng 304.

2. Giờ nộp báo cáo thảo luận: 5 giờ

3. Xe buýt: 3: 30 (chiều) và 5:15 (chiều).

5. Kỹ thuật nhìn thấy điều nghe được (Visualisation)

Trong quá trình huấn luyện năng lực nghe của người phiên dịch, điều quan trọng trong khi nghe là phải mường tượng ra được hình ảnh mà người nói đề cập đến. Hay nói một cách khác, chúng ta phải "nhìn thấy được những điều ta nghe" (See what you hear). Kỹ thuật nghe và mường tưọng ra hình ảnh gọi là visualising hoặc visualisation.

Các bước tiến hành của kỹ thuật này như sau:

- Nhắm mắt lại để nghe.

Close your eyes to listen.

- Hít thở sâu và toàn thân buông lỏng:

Take a few deep breaths and relax.

- Tập trung tư tưởng khi nghe.

Concentrate as you listen.

-Nhìn và nghe những điều một người nào đó đang nói.

See and hear the things someone talks about.

- Tưởng tượng như ngửi thấy những điều người nói nói đến.

Smell the things he/she mentions.

- Hãy tưởng tượng mình đang ở đó, tức là ở nơi xảy ra sự kiện.

Pretend you are there.

(Trích Kỹ thuật học nghe hiểu)

Exercise 10: Bây giờ chúng ta nghe một bài nói chuyện. Hãy áp dụng kỹ thuật visualisation. Đây là bài nói chuyện về bờ biển nước Anh. Bài miêu tả bắt đầu bằng cảnh hoàng hôn trên biển Hebrides..

Nghe (những) lần đầu (sound on, vision off).. Nhắm mắt lại tưởng tượng ra bờ biển nước Anh và những hoạt động của nó theo lời miêu tả.

Nghe (những) lần sau (sound on, vision on): Mở mắt, nghe tiếng và xem hình. Tự kiểm tra xem những hình ảnh mình tưởng tượng trong những lần nghe đầu chính xác tới mức nào.

BRITISH COASTS

Evening on the Sea of the Hebrides.

And so too in the Western Isles, where concern is growing over outside impacts.

6. Kỹ thuật nghe và ghi chép (Listen and take notes)

Đây là kỹ thụật rất quan trọng đối với người phiên dịch. Có nhiều loại ghi chép:

- Ghi chép để tái tạo lại diễn văn cho mục đích in ấn (ghi chính xác từng từ). Trường hợp này thường dùng đến tốc ký (shorthand typing).

- Ghi chép để tiếp tục nghiên cứu. Loại hình này thường được dùng trong giới học sinh, sinh viên để ghi bài giảng của thầy.

- Ghi chép lấy tư liệu để viết bài. Phóng viên thường hay dùng loại này.

- Ghi chép sơ lược để dịch (sử dụng trong dịch đuổi).



Exercise 11: Giả sử ta là một phóng viên đến dự hội thảo về Cơ hội tuyển dụng (Seminar on Job Opportunites). Susie hôm nay nói chuyện về việc tuyển người cho công ty Good Communications. Nghe ghi chép theo kiểu ghi lấy thông tin để viết bài báo.

JOB OPPORTUNITIES

Brian Green: First of all I'd like you to thank Ms Lee who is going to talk about public relations. Ms Lee.

Suzy Lee: Thank you Mr Green, it is always an honour to be chosen to speak at events such as these …"

... I think I should stop there as I've run out of time. I think I have covered all the main points relevant to working in the PR industry but I would be happy to answer any additional queries at the end of the seminar. Thank you for your kind attention.

Các kỹ thuật ghi chép dùng cho người phiên dịch được trình bày chi tiết trong Chương 5.

7. Kỹ thuật nghe chép chính tả (Listen and dictate)

Trong quá trình dịch, người phiên dịch không có thời gian chép chính tả lời phát biểu của diễn giả, và diễn giả cũng không đọc chậm hoặc dừng lại để người phiên dịch chép chính tả. Thời gian ngừng giữa hai đoạn chỉ đủ để dịch (trong dịch đuổi).

Kỹ thuật nghe chép chính tả là kỹ thuật giúp cho người phiên dịch tự rèn luyện khả năng nghe-ghi và nghe-nhớ, rồi dựng lại nguyên văn thông điệp. Kỹ thuật này tiến hành theo ba bước:

Bước 1:Nghe đọc một lượt từ đầu đến cuối một bài viết.

Bước 2: Nghe đọc một (vài) câu (không phải từng từ), một lượt, với tốc độ bình thường (normal speed), dừng băng để chép chính tả.

Bước 3: Nghe đọc lại một lượt từ đầu đến cuối để kiểm tra lại bài chép.

Với các bước tiến hành như vậy người nghe cần nắm bắt từ và cấu trúc của toàn câu (có thể, hai, ba câu). Sau khi người nói dừng lại, trong đầu người nghe đã phải tái hiện từ và cấu trúc câu vừa nghe được một cách chính xác (từng từ một, mẫu câu gốc), ở đây người nghe không được thay từ, hoặc giải thuyết (paraphrase) hay tóm tắt (summarise).

Các bài luyện thường theo độ khó tăng dần: Thời gian đầu sử dụng những bài đọc với tốc độ chậm (slow speed) như bản tin đọc chậm của đài VOA. Nghe chép từng câu. Sau đó tăng dần độ dài: nghe chép hai, ba, bốn câu một lần.

Tiếp theo, sử dụng bài đọc với tốc độ tự nhiên (normal speed). Nghe chép từng câu. Sau đó tăng dần độ dài: nghe chép hai, ba, bốn câu một lần.

Exercise 12: Nghe-chép chính tả. Bài đọc với tốc độ chậm. Nghe và chép theo người đọc, không có chỗ dừng để chép.

VOA: STOCK MARKET CRASH

Seventy-five years ago, an event shook the world: the great American stock market crash of 1921.

The crash caused a lot of people to lose their jobs, their farms and their homes. Many banks and businesses failed. The crash led to a worldwide depression.

Exercise 13: Nghe-chép bức thư sau đây của Amy gửi bạn. Bài đọc với tôc độ bình thường (normal speed). Sau mỗi đoạn có chỗ dừng để chép.

Dear Betty,

Hello! How are you? Well, I hope...

Well, that's all for now. I will send you a postcard from Japan.

Love

Amy.


8. Kỹ thuật nghe - dựng câu (Dictogloss)

Kỹ thuật Dictogloss ban đầu được sử dụng như một phương pháp dạy nghe trong quy trình dạy ngoại ngữ. Tuy nhiên trong quy trình đào tạo phiên dịch người ta cũng có thể ứng dụng kỹ thuật này. Dictogloss không giống kỹ thuật chép chính tả ở cả các bước tiến hành lẫn mục tiêu. Mục tiêu của Dictogloss là huấn luyện cho người phiên dịch năng lực hiểu qua nghe, với một bản ghi tối thiểu, sau đó dựng lên được thông điệp bằng TL, tức là bắt đầu từ bước understanding đến bước re-expression. Quy trình tiến hành Dictogloss như sau:

(i). Thông báo chủ đề (ví dụ động đất: earthquake). Phát huy vốn từ vựng của người học về chủ đề (elicit the students' vocabulary on the topic. Ví dụ: destroy, rescue, v.v.) Phát huy vốn kiến thức của người học về chủ đề (elicit the students'knowledge on disasters. Ví dụ: những gì thường xảy ra khi có động đất).

(ii). Nghe đọc hai lần một thông điệp với tốc độ nói bình thường (normal spoken speed) như khi diễn giả nói trong hội nghị. Nghe lần thứ nhất: không ghi chép. Nghe lần thứ hai: ghi nhanh một số tứ, mỗi câu chỉ ghi một, hai từ từ vựng (jot down content words), còn những từ chức năng (functional words) thì sau này người phiên dịch tự đưa vào khi dựng câu. Ví dụ nếu thông điệp là:

In 1989 there was an earthquake in San Francisco.

Many hundred people died in the disaster.

People searched the city for missing relatives and friends.

Rescuers worked without rest for many days.

There was a great deal of suffering and enormous destruction,

thì bản ghi của người phiên dịch như sau:

S1: ... earthquake... San Francisco... 1989

S2: people...die …diaster

S3: searched... relatives… friends

S4: rescuer... without rest... days

S5: suffering …destruction

Sau khi nghe, tái tạo lại nội dung thông điệp. Đây là bước tái thể hiện (re-expression) bằng TL, không phải là cố nhớ lại nguyên văn từng câu từng chữ (not replicating the original text). Bước thứ hai này tiến hành theo nhóm để hỗ trợ lẫn nhau.

Trong quá trình tái tạo nội dung thông điệp, những người trong nhóm giúp nhau phân tích những chỗ vướng mắc.

Exercise 14: Hãy dùng một đoạn video nói về hiện tượng động đất sau đây để làm bài tập Dictogloss.

EARTHQUAKES

Earthquake was the most sudden, unexpected and destructive force of nature.

They live with the risk that their homes and lives may be destroyed any moment. It's a risk that becomes part of life.

Exercise 15: Nghe và làm bài tập Dictogloss theo hướng dẫn ở trên

GODDESS OF THE NILE: CLEOPATRA

Three centuries later, shortly before the birth of Christ, Egypt was still ruled by a living goddess, Cleopatra, a Greek descended from one of Alexander's generals...

…………………………

It's ironic that today everybody knows her for her beauty, but It was her intelligence that was the most important asset she had.



9. Kỹ thuật xử lý khi nghe không hiểu hết thông điệp

Người phiên dịch khi làm nhiệm vụ bắt buộc phải dịch trung thành với diễn giả, đầy đủ thông tin và chính xác. Như vậy, có nhiều trường hợp người dịch nghe không hiểu (hết) được thông điệp của diễn giả thì phải xử lý ra sao?

Trường hợp thứ nhất, khi không biết một từ/nhóm từ quan trọng trong câu và do đó không thể suy diễn nghĩa của toàn thông điệp thì người phiên dịch không được che dấu khiếm khuyết này của mình, phải hỏi lại để diễn giả giải thích cho mình trước khi dịch. Điều này có thể làm được khi dịch cho những cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa hai bên. Nếu không nghe rõ một từ/nhóm từ nào đây, hoặc nghe mang máng mà không hiểu, người phiên dịch dùng câu Could you please say again the technical word you've just used? để hỏi. Diễn giả sẽ rất nhạy bén, không những nói lại từ/nhóm từ ấy mà sẽ còn giải thích bằng cách paraphrasing hoặc thay từ tương đương thông dụng hơn. Trường hợp không hiểu rõ lắm một ý nào đó vì nó hàm chứa khái niệm chuyên ngành sâu, người phiên dịch dùng câu sau đây để hỏi: Could you please say it in plain English? Không dùng simple hoặc easy English thay cho plain English.

Nếu trường hợp này xảy ra trong hội nghị, người phiên dịch có thể "nợ" một câu dịch ở đoạn này, và khi dịch sang các đoạn sau có thể nhờ văn cảnh rộng lớn hơn mà phát hiện ra ý nghĩa của thông tin mình còn nợ và khéo léo đưa vào câu đang dịch. Như thế tổng thể người phiên dịch vẫn đảm bảo được nguyên tắc dịch đủ ý. Trong mọi trường hợp người phiên địch không được phép bỏ qua, cũng không được phép dịch "bừa" để che dấu khiếm khuyết của mình.

Trường hợp thứ hai, khi người phiên dịch không suy diễn nổi ý nghĩa của thông điệp do không hiểu một từ/nhóm từ nào đó trong thông điệp ấy, thì kiến thức nền về chủ đề có thể giúp người phiên dịch phán đoán được nghĩa một cách đúng đắn. Điều này đòi hỏi người phiên dịch phải có kiến thức tương đối sâu về chủ đề đang dịch.

Exercise 16: Chúng ta nghe một đoạn sau đây. Bạn không hiểu từ gì? Hãy dừng băng ở những chỗ không hiểu và dùng hai câu hỏi trên để hỏi.

SPRING

Springs are always the same.

……………………………………

And April slips into our arms.



10. Kỹ thuật nghe lấy đầy đủ các thông tin (Listen for everything)

Nghe lấy đầy đủ các thông tin là yêu cầu nghe của người phiên dịch. Đây không phải là một kỹ thuật mà là tổng hợp các kỹ thuật nghe đã luyện ở trên. Những bài luyện kỹ thuật nghe riêng lẻ giúp cho người phiên dịch có được những thói quen nghe cần thiết.

Kỹ thuật nghe lấy đầy đủ các thông tin đòi hỏi người phiên dịch phải có khả năng ghi nhớ tốt và tổ chức thông tin trong đầu theo trật tự bài nói của diễn giả. Hay nói một cách khác trong đầu người phiên dịch có ngay được một sơ đồ ý chính và thông tin chi tiết ngay sau khi diễn giả ngừng nói.

Sau đây là bài luyện năng lực này.



Exercise 17: Bài luyện dịch đuổi (consecutive interpreting). Đây là bài nói chuyện về Thuốc cho người nghèo (Drugs for the poor). Nghe và dừng băng từng đoạn để dịch.

DRUGS FOR THE POOR

Good afternoon ladies and gentlemen,

It is a great pleasure for me to be here to address this meeting of OECD delegates, and I’d like to thank you for having invited the representative of my organisation to dress you on very important issue of compulsory licensing of drugs in the developing world

………………………

And as those drugs are being produced under compulsory licence in the developing world, they can be produced at developing world prices and they can be sold at developing world prices to the people who need those drugs so desperately in the developing world.

Exercise 18: Bài luyện dịch đuổi (consecutive interpreting). Đây là bản tin VOA về sự lừa đảo tín phiếu. Nghe và dừng băng từng đoạn để dịch.

VOA: BROKERS' CHEATING

In a fair market, businesses compete to provide products and services to buyers. Competition is supposed to keep down prices.

…………………

Two officials from A.I.G. and one from Ace said they are guilty of criminal charges in connection with the case. Other companies are still under investigation.



REFERENCES

- Boning, Richard A. (1995) Multiple Reading Skills, H. Unit 46. McGraw-Hill, Inc.

- Carry, dean (1994). Talking English. The English Language Programs Division. United States Information Agency. Washington, D.C. 20547

- Crazy English 2003.3

- Fenton, Sabine. Lectures on Interpreting and Translating. Hanoi University of Foreign and Commonwealth Office. Inside Britain: Conserving the Coasts. Charles Dunstan. London. 1995 

- Gran, B.J., Philip Leetch & Joseph Li (1995. All-in-one Practice. Form 6. Paper 2. Interpretation. European Community. Luxembourge

- Jones, Roderick (2002). Conference Interpreting Explained. St Jerome Publishing. Languages. 1995

- Robinson, Carole & Helen Parker (1986). Themes for Listening and Speaking. OUP P.27-28. Macmillan Publishers (China) Ltd.

- Sampson, Nicholas A. (1994). English 2000. Book 1A. Macmillan Hong Kong.

- Seleskovitch, Danica; Marianne Lederer (1995). A Systematic Approach to Teaching.


TAPESCRIPT


INVITATION TO DINNER

Woman: When can we expect you for dinner? Can you come tonight?

Man: Not tonight. I promised to go to a concert with my sister.

Woman: Well... How about Friday then?

Man: That sounds fine.

Woman: Good. Shall we say seven o'clock?

Man: I'll be there! You're still a fabulous cook, aren't you?

Woman: That'll be for you to decide.

I've got a new dish that I want to try on you.

Man: I'm ready. I think I'll fast all day Friday!



(Talking English: Conversation 4) 

BACK TO THE DUMP

W. Baker


When I was a boy, everybody urged me to get plenty of sunshine, so I got plenty of sunshine for a long time. One day while I was absorbing July sunshine as fast as I could, a doctor asked what I thought I was doing.

"Getting plenty of sunshine,” I said.

"Are you mad?" he replied.

No, I was not mad, just slow to catch up with my life’s revisions. Getting plenty of sunshine had been declared dangerous while I was out to lunch. I revise my store of knowledge. Now I get only small droppers of sunshine extracted from the half hour just before sunset.

.......................

When I was old enough to notice that girls were pleasantly different from boys, my mother told me the fact of life. "You must always treat a woman like a lady," she said. So for a long time I went through life treating women like ladies.

One day while I was helping a woman into her coat, another woman asked me what I was doing.

"Treating a woman like a lady," I said

"Are you mad?" she replied.

No, I was not mad, but my interrogator was furious. I had been out to lunch during one of life's revisions and missed the announcement that it was swinish to treat a woman like a lady. I discarded another piece of my childhood education. Now I treat women like ticking bombs.

Perhaps it was not age that defeated me, though. Maybe it was fatigue caused by the constant trips to the dump to discard everything I'd learned in the first half of my life. Life seemed to be an educator's practical joke in which you spent the first half learning and the second half learning that everything you learned in the first half was wrong.

(Crasy English)

GETTING LOST

Woman 1: Where on earth are we?

Woman 2: Judging by all the traffic, I'd say we are near the heart of the downtown area.

Woman 1: What did I do wrong? Did I take the wrong turn?

Woman 2: I'm not sure, but I think that you turned left when you should have turned right.

Woman 1: Well, now the problem is how to get back onto the main highway.

Woman 2: Well, if I may offer a suggestion …Why don't you stop and ask a policeman?

Woman 1: Yeah, yeah, yeah, I think I see one up there in the next block.



(Talking English. Conversation 2)

THE MEANING OF COLOURS

Colours mean different things to different cultures. In China people wear white at funerals and brides wear red to get married. In the West, brides were white and the colour for funerals is black.,

In some countries red means danger. It is the colour used for stop signs and traffic lights. Red is the colour of blood and fire. It can be the colour of love. People often send red roses to the person they love. However if people “see red”. It means they are angry.

In many parts of the world, baby boys are often dressed in blue clothes and baby girls in pink. Because of this blue has become a male colour and pink a female colour. Although many women wear blue, not many men wear pink.

Some people believe that the colours you wear are important. They believe that colour can tell us what sort of person you are. For instance, if someone wears dark blue, they are calm and like to live in a quiet environment.

Here are some more colours and a description of type of person who often wears them.

Blue-green is for people who are stubborn and have strong ideas. When they decide to do something they don't change their minds.

Yellow is for happy, friendly people. They have lots of energy and enjoy different activities.

Purple is for sensitive people. These people enjoy art and music. They like to live in a “dream world” where everything is perfect.

Red is for people who enjoy life and made good leaders. They are active people and like playing sports.

People often wear different colours at the same time. However there is usually one main colour. Think of the clothes you wore yesterday. Were they any of these colours? If so, read the description and see if it describes your personality. You may be surprised..

(English 2000. Book 1A. Unit 2. Normal speed)

THE TOWER OF LONDON

The Tower of London is actually many buildings and towers surrounded by a moat. It was built in 1066 by William the Conqueror, who wanted to remain conqueror.

The Tower has a long, rich history. It has served as everything from a fortress to the Roval Mint. Today most visitors come to view the vast collection of Crown Jewels in the Jewel House. When King Charles I was executed in 1649 almost all the royal jewels were destroyed. Most of the jewels now on display date from that time on. Other displays include the gold spurs of Saint George, Henry ni's armor, and the three Swords of Justice.

Viewing the Tower of London with its lovely, picturesque towers, drawbridge, moat, gardens, and galleries can stir the imagination. Such well-known historical figures as Sir Thomas More, Sir Walter Raleigh, and Mary, Queen of Scots, were imprisoned there. It's not surprising that there are many legends and tales about the Tower, including stories about a resident ghost.



(Richard A. Boning. Multiple Reading Skills. H.
Unit 46. McGraw-Hill, Inc. 1995)


KEEPING CLEAN IN SPACE

Astronauts have important work to do in space. They must stay healthy to do a good job. Part of staying healthy is keeping clean. Astronauts must take care of their personal hygiene.

But how do astronauts wash themselves in space? Can they take a bath or a shower? No, they can’t. On early space flight astronauts tried to take showers, but it didn’t work. The water floated all around because water is weightless in space. Now astronauts take towel baths. They get two wash clothes a day. They put soap oil one and use it to wash. Then they put water on the other and use it to rinse off the soap.

And how do they wash their hair? Astronauts use a wet, rinseless shampoo. They gently rub the shampoo into their hair. They try not to make soap bubbles because bubbles are difficult to get out of the air. Then they dry their hair with a towel.

And how do astronauts brush their teeth? They brush their teeth just like they do on earth. Each astronaut has a personal hygiene kit with a toothbrush, toothpaste, and dental floss. The kit also has a comb, a brush, deodorant, and body lotion. There are nul clippers too. But nails grow very slowly in space, so astronauts cut their nails only once a month.

What do astronauts miss most about earth? A hot shower!



(Read All about it. Book 1.P.38)

LADIES AND GENTLEMEN

Ladies and Gentlemen,

If I can have your attention for a moment please. I have the final notices for this final session of the conference.

Now first of all, I'd like to mention that the urban pollution session has been very popular so will be moving the final discussion to room 201, that’s room 201, which means that the domestic shelter session will be changed from room 201 to room 304, that’s the domestic shelter session in room 304.1 hope everybody's got that.

Now I have a notice here that you must return your keys to the Porter's Lodge before you leave, so anybody who has forgotten to bring them with you, please get them and return them before you leave. Thank you.

Turning now to your discussion records, I would like to see you return them to the session chair people by 5 o'clock this afternoon, that's 17:00 (seventeen hundred hours). Thank you.

Regarding coaches for the airport... they will be gathering outside the Kenedy Building at 3:30, that's fifteen thirty hours, and there will be another one a bit later than that at 15 hour, thats'17;15, that's. 5:15. I'd like to ask you all to be there ready for the buses at least five minutes before the departure time. So we can all leave promptly and everybody will get home on time. Thank you.

I have particular messages for Doctor Sad... Schapsinger and Dr Garbeldy and Dr Surinander... I'd like to ask you three. Are you here Dr Schapsinger, Dr Garbeldy... yes... and Dr Surinander? I'd like to ask you to collect your reprints from the conference desk before you leave. Thank you.

Finally I have a reminder from Dr Goldman from the Chicago Institute that the sixth annual Convention of P.E.S. will beheld in Hawaii in October 1986.1 think you'll all be interested in marking that date in your calendar, that's the sixth annual Convention of P.E.S., October 86. And I'd like anybody that's interested in that conference to leave your name at the conference desk. Thank you very much.

Ladies and Gentlemen,

I know it's been a happy event for me of this conference, and I hope you too have found it a happy and productive time. Thank you all for coming.

(Themes for Listening and Speaking:1)

BRITISH COASTS

Evening on the Sea of the Hebrides.

Three and a half hours out from the nearest point of the Scottish mainland, the ferry is arriving in the Western Isles.

Night or day, these ferries provide a lifeline to the outside world.

The Western Isles, or Outer Hebrides as they are also known - a chain of islands stretching along the edge of Britain, and the frontier of Europe.

In all, Britain has some 19,000 kilometres of coastline - a high proportion in relation to its landmass - and much of the country's history and economy has been shaped by its relationship with the sea.

And nowhere more so than here, in the Western Isles.

But - even in this remote place conservation challenges are now coining to the fore.

These are Atlantic islands, washed by the comparatively warm waters of the Gulf Stream - and rich in diverse ecosystem of international significance.

Here a traditional way of life survives, and “crofting”, a distinctive ancients form of land use, is still important.

This is a lifestyle in close harmony with the sea.

Interview with Donald MacDonald

"Living in the place like the Western Isles one's never far from the sea. The sea is all around us, and so it’s very much a part of you and a part of life."

Interview with Stewart Ansus

“I think it’s fair to say that the coast and the sea have a special place in the heart of islanders.

The land is fairly poor, and they really have to live on the land with the help of the sea, and there’s been a certain understanding of relationships in the natural heritage which has encouraged a sustainable use of the local resources.”

The majority of the islanders still speak the old Gaelic language, and the sea is enshrined in traditional Gaelic culture.

Gaelic Music Band

Coastal and maritime matters have become increasingly high-profile in recent times - with national and international debate on the way to treat our coastal environment and safeguard its sustainability.

And so too in the Western Isles, where concern is growing over outside impacts.



JOB OPPORTUNITIES

Brian Green: First of all I'd like you to thank Ms Lee who is going to talk about public relations. Ms Lee.

Suzy Lee: Thank you Mr Green, it is always an honour to be chosen to speak at events such as these and have the opportunity to talk to the potential future leaders of your profession. I hope that my talk today will inspire some of you to enter the field of public relations. I have been working for Good Communications for over ten years and in that time have helped shape a company which is now recognised as being the leader in its field in Hong Kong and the fifth largest in the world. What, you may ask, has made us so successful? Maybe it's the wining and dining of influential journalists, a cliché so often believed by the general public? No - a good company first and foremost relies on good people. PR is a people industry and although you can enter the firm straight from school as a secretary and work your way up, we also have a very successful graduate recruitment scheme. PR companies must also have excellent relations with the local media as well as with the local people. Lastly, our company's success can also be attributed to its business integrity or business honesty which is well-known and widely respected throughout the business community. Many PR companies will promote anything for the money but we only take on clients whose business aims or products we agree with. This means that we might have turned down a few potential clients in the past but the policy has worked well in the long run as we have earned a great deal of respect.

I love my job, the variety of the work, the personal responsibility which allows you to take control and, of course, Good Communications pay a very competitive salary. And if you work hard the company has a policy of promotion by merit rather than by seniority which is a great incentive. I can't pretend that it doesn't have any faults, however. I must warn you that the hours can be very long, especially if you have to put together a sponsorship deal for an art or sporting event. You end up working both in the evenings and all weekend as your presence is usually needed to make sure everything is running smoothly. It can also be quite stressful, as you have the constant pressure of deadlines. If your copy is not at the newspaper on time it will obviously go to print without you! Finally you always have to retain your good cheer and composure even when dealing with difficult clients or rude member of the public. But I tend to think that the rewards are worth it.

People often ask me what qualities are needed to make a successful career in public relations. Above everything else I think that fluency is essential. People must be able to express themselves well both in the spoken and written word - that after all is what communication is all about. The ability to think logically and clearly is important, as are very good organisational skills. As I mentioned earlier you sometimes have to deal with awkward or ill-mannered people so it is important that you are always diplomatic or tactful; you wouldn’t last long in the job if you were always losing your temper.

Well, that tells you what we are looking for and what you can do for us. Now I’ll tell you what we can do for you. When you join our company either from school or university your education doesn't stop there! We run a number of courses for our staff and if you need special training we will pay for you to attend courses at other institutions. For example, most account managers are sent on a marketing course run by the Institute of Marketing here in Hong Kong as well as a journalistic writing course run by the New Territory University. In this age of computers we also feel that it's important for our staff to keep up to date and we run regular computer training courses at the company. Finally as so much writing is involved in the job, all staff have their own PC, so if they really can't type at all we send them on a basic typing course. We find this much more effective than employing an army of secretarial staff.

I think I should stop there as I've run out of time. I think I have covered all the main points relevant to working in the PR industry but I would be happy to answer any additional queries at the end of the seminar. Thank you for your kind attention.

(A Seminar on Career Opportunities. Paper 2. p. 27-28)

VOA: STOCK MARKET CRASH

Seventy-five years ago, an event shook the world: the great American stock market crash of 1921.

It began October 24th, 1929. Fear seized the New York Stock Exchange. Investors wanted to sell their shares before the stocks lost value. Over the next five days, millions of shares flooded market. Many investors lost all their money.

During the nineteen twenties, many American had invested in the stock market. Many got rich. In 1928, Herbert Hoover -was elected president. He said the future was bright with hope.

People were being advised to buy stock before prices climbed even higher. Stock market rules let investors buy shares even if they did not have enough money to pay for them.

During the summer of 1929, some economists warned that there was no real value behind the high stock prices. President Hoover urged stock market officials to make trading safer and more honest. But he did not think the government should interfere in the market.

When the drop in stock prices finally came, it was slow at first. It pick up speed as investors sold more and more shares. Several bankers bought stocks in an effort to prevent a crash.

But the intense activity continued. October 29th is remembered as Black Tuesday. That day alone, stocks lost a tenth of their value.

The crash caused a lot of people to lose their jobs, their farms and their homes. Many banks and businesses failed. The crash led to a worldwide depression.

(VOV Special English. Week 152, Episode 960, SN-2)
Flat 16 A

Wing Luk Building

Hen Fa Chuen

Chai Wan

Hong Kong

STOP


31st October 1994

Dear Betty,

Hello! How are you? Well, I hope.

STOP


I'm fine. I'm writing because I want to tell you my plans for the Christmas holiday. The big news is that we're planning to go to Japan for two weeks this winter.

STOP


We're going to spend a few days in Tokyo first. Then we're going skiing in Hokkaido, which is an island in the north of Japan.

STOP


I'm very excited about the trip. I've never been skiing before, and this is the first time for me to see snow. A friend of mine went skiing last year. Unfortunately, she broke her leg. I hope that doesn't happen to me! Just to be safe, I'm going to ski very slowly - at least, to begin with!

STOP


We're going to leave Hong Kong on December 20. Hong Kong will be cool by then, and my father says that the weather in Tokyo will be colder. But we're only going to stay in Tokyo for a few days before flying on to Hokkaido. And, of course, it will be even colder there because of all the snow!

STOP


It's funny to think that before we leave Hong Kong we will all be wearing normal winter clothes. Then a few days later we will all be wearing thick jackets and gloves so that we don't get cold!

STOP


I saw a television programme about Tokyo recently. I'm looking forward to visiting it because it seems like a very interesting city. In fact, I thought that it looked a little bit like Hong Kong, but without as many tall buildings. It seemed to be just as busy and crowded, though!

STOP


Well, that's all for now. I will send you a postcard from Japan.

Love


Amy

FULL STOP!


EARTHQUAKES

Earthquakes were the most sudden, unexpected and destructive force of nature. They strike without warning. The grounds start to shake and there is simply no way of knowing when it will stop. It might be a small drama or a huge once-in-a-life-time quake. In a way you cannot escape. You can only hope you survive.

In tills century alone earthquakes have killed more than two million people, yet in total. The earth shook violently for less than one hour. Earthquakes are very common. Around the world they're up to a million a year, but most of them are too weak to be felt. In an average year there may be a few hundred quakes which cause minor damage, and between one and twenty major earthquakes.

This is central Italy October 1997. An earthquake struck a wide region in the middle of the night. It caused damage to many buildings and six deaths. Ten hours later the first of several after-shocks hit. It was much stronger than the first tremor. Hundreds of houses collapsed. In one village the whole population was made homeless.

Interview... captions in English.

The after-shocks brought tragedy to seven hundred year old facilica... of St. Francis of assisi. After the original quake a group of monks in... were examining the beautiful frescos on the walls and ceiling for sights of damage. While they were working the after-shocks struck. One of the ceilings collapsed on them killing four people.

Without people earthquakes propose no threat. In an uninhabited regions, even a major trement may leave no sight of whatever happen.

But this is a crowded planet. Many regions prone to earthquake are also full of people. Urban areas are becoming larger and more complex. Cities are growing all the time.

A large earthquake in a crowded urban area will kill more people in a few seconds than any other form of natural disasters.

Today an estimated six hundred million people are living in areas where damaging earthquakes occur. They live with the risk that their homes and lives may be destroyed any moment. It's a risk that becomes just part of life.



GODDESS OF THE NILE: CLEOPATRA

Three centuries later, shortly before the birth of Christ, Egypt was still ruled by a living goddess, Cleopatra, a Greek descended from one of Alexander's generals. She looked back to the Golden Age of Alexander's world empire and was determined to do even better herself.

Alexander died at the age of 32. By the time Cleopatra was 23, she had gone even further than Alexander making her entrance into Rome as Queen off Egypt and consort of Julius Caesar, the most powerful man in the world.

There were complex times. To keep your throne you had to be adaptable. Ruthless, intelligent and a great politician. Cleopatra had all these traits which is why history has provided us with lots of interpretations of Cleopatra. Renaissance poets saw her as a heroine dying for love. And painters alluded to her eroticism in their bare breasted portrayals of the dying queen. Hollywood reinforced the image of Cleopatra as a vamp starting with Theda Bara's seductive portrayal in 1917.

But who was the real Cleopatra? What did she really look like?

We're in Berlin because this is the best portrait of Cleopatra in the world. There was very few ancient sculptures that are existing. So this is probably as close as we're going to get to how she really looked. She's rather plain looking, isn't she? Look at her hair. It's tied up in a simple bun. It's a classical Greek hairstyle. It's practical but not exactly designed to captivate a Roman general.

We have from ancient sources that her hair was a reddish colour, wavy. But look at her nose. It's a little bit too long and hooked at the end. And her mouth, is not exactly sensual. She's not wearing any jewelry. There are no earrings, no necklace. This is not a portrait of a femme fatale.

The ancient sources tell us she was intelligent, witty, charming, a linguist and along with this, she had a tremendous determination. It was this amazing combination of abilities that made Cleopatra the most famous woman in history. It wasn't her beauty.

Women in Egypt had always been powerful Queen Hatshepsut, Nefertiti and now Cleopatra. But during the era of the Ptolemy's the role of Greek women had changed. They gain an identity apart from that of their husbands or families. Women participated in the arts and civic life and marriage became a union of two people, not just two houses. The portraits of women in this period shoe strong individuals looking back at you with confidence. They're almost haunting. Women would not have this power again until the 20th century. Cleopatra was well educated, strong minded with ideas of her own and a female.

As an intellectual, Cleopatra would have been heartbroken: when during fighting between Egyptians and Caesar's Roman troops, there occurred one of the greatest tragedies of the ancient world - the burning of the library of Alexandria. It's sad to think about what was lost in the fire at Alexandria. There are the missing manuscripts of Aristotle and Plato. They were probably there. There was an entire room, with editors of Homer. Maybe even there were early manuscripts of the Old Testament, which would probably help settle Biblical questions today.

Cleopatra was eventually able to replace 200,000 of the manuscripts. Books were very important to her. It's ironic that today everybody knows her for her beauty, but it was her intelligence that was the most important asset she had.

(Crazy English)

SPRING

Springs are always the same. In some years April burst upon Virginia hills in one prodigious leap - and all the stage is filled at once, whole choruses of tulips, arabesques of forsythia, cadenzas of flowering plum. The trees grow leaves overnight.

In other years, spring tiptoes in. It pauses, overcome by shyness, like my grandchild at the door; peeping in, ducking out of sight, giggling in the hallway. "I know you're out there, I cry, "Come in!" And April slips into our arms.

(From Spring, by James J. Kilpatrix. Crazy English)

DRUGS FOR THE POOR

Good afternoon ladies and gentlemen,

It is a great pleasure for me to be here to address this meeting of OECD delegates, and I'd like to thank you for having invited the representative of my organisation to dress you on very important issue of compulsory licensing of drugs in the developing world.

You've asked me to come in and address you on this question at a moment when the OECD countries are in the process of working out the position that they will be presenting at the forthcoming ministerial meeting in Singapore, which will be the first meeting after the launch of the negotiation in Doha just 18 months ago. And in order to prepare that position, you have asked a number of NGOs, like my own, to say what we feel about the issues that should be discussed in Singapore.

The Doha Decoration, ladies and gentlemen, represented an important breakthrough for many developing nations. It was the first time that the voice of the developing nations was heard in multi-lateral trading negotiations. In the negotiations that had taken place up to Doha, the developing nations had simply had to accept the agenda that was imposed on them by the rich nations represented here the OECD. Doha marked a change because for the first time the developing world had their say in whit the agenda, the negotiations was going to be, and one of the important points on the agenda was the issue of compulsory licensing.

Now, you are familiar with the situation as I am on the issue of compulsory licensing. The developing countries in which most of pharmaceutical companies work, have always opposed compulsory licensing on the basis of the absolutely intangible protection of intellectual property rights. A pharmaceutical company which comes up with the new drug, paten-stand drug, is protected under an exclusive paten for up to 20 years, and obviously wants to recoup the considerable cost of the research and development, which was going into that drug, by imposing a very high price when it sells those drugs all over the world.

Now you know as I do, but perhaps we know better than you do because we work in a lot of developing countries, that the real killer diseases in the world today: malaria, and AIDS, among others, are mostly to be found in developing countries. And it is to me and to my organization, morally unacceptable that developing countries, and their peoples, who suffer disproportionately from AIDS and malaria, should be forced to pay the prices that rich country consumers pay for the drugs.

And therefore the fact that compulsory licensing has now been put on the agenda of these negotiations is extraordinary important because it would permit, for the first time, local companies in countries like South Africa, India, and Brazil and in other countries, where AIDS in a big problem, but where there is also considerable local companies to produce those drugs. It will enable these countries to produce those drags under a compulsory license from an American, or British or Swedish drug companies for the first time. And as those drugs are being produced under compulsory licence in the developing world, they can be produced at developing world prices and they can be sold at developing world prices to the people who need those drugs so desperately in the developing world.



VOA: BROKERS' CHEATING

In a fair market, business compete to provide products and services to buyers. Competition is supposed to keep down prices The top law enforcement official in New York State is investigating competition m the insurance industry.

In October, Attorney General Eliot Spitzer brought civil action against the biggest insurance broker in the world. Marsh and McLennan Companies is accused of cheating buyers. These are mostly businesses, but also local governments and some individuals.

Insurance is a guarantee against risk, insurance companies pay for losses when something bad happens. There are many kinds of insurance policies, such as automobile insurance, fire insurance and health insurance.

Brokers bring together buyers and sellers. The job of an insurance broker is to collect competing offers, called bids, for insurance companies. Buyers then choose the best one.

Mister Spitzer says the Marsh company directed buyers to companies from which it received special payments. These are known as “contingent commissions.” Also he says the company at times requested false bids from insurance companies, to create the appearance of real competition.

Several large insurance companies are named, but not charged, in the action.

These include Ace and A.I.G., the American International Group. A.I.G. is the world's largest insurance company. Two officials from A.I.G. and one from Ace said they are guilty of criminal charges in connection with the case. Other companies are still under investigation.



(VOA Special English Week 151. Episode 955. SN-4)



tải về 213.57 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương