Interpreting techniques – KỸ thuật phiên dịCH


Chương 2. TIÊU CHÍ, QUY TẮC VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH



tải về 213.57 Kb.
trang3/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích213.57 Kb.
#4373
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Chương 2. TIÊU CHÍ, QUY TẮC VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI PHIÊN DỊCH


Criteria, Rules and Code of ethics

...we find translators and interpreters, but particularly interpreters, taking on an amazing range of responsibility which goes far beyond linguistic mediator.



(Encyclopedia of Translation Studies)

1. Tiêu chí của một phiên dịch tốt (Criteria for a Good Interpreter)

Người phiên dịch khi bước vào những hoạt động nghề nghiệp cần chuẩn bị cho mình một cách hết sức cẩn thận về năng lực nghiệp vụ (professional competence). Năng lực này thể hiện chủ yếu ở hai bình diện: kiến thức (knowledge) và kỹ năng (skills):

(1) kiến thức ngôn ngữ học.

(2) kiến thức nền dùng để phiên dịch.

(3) kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, và kỹ năng phiên dịch.

1.1. Kiến thức ngôn ngữ học và văn hoá

Về kiến thức, người làm công tác dịch đuổi phải có hai bình diện kiến thức sau: một là kiến thức về ngôn ngữ nguồn (SL) và ngôn ngữ mục tiêu (TL); hai là kiến thức nền về những chủ đề phiên dịch....,

Trước hết xét về kiến thức ngôn ngữ học, một người muốn được tuyển vào đào tạo thành phiên dịch chuyên nghiệp cần phải hiểu biết sâu, cũng như sử dụng thành thạọ hai ngôn ngữ SL và TL.

Nói một cách cụ thể hơn, người phiên dịch cần có một kho từ vựng đồ sộ, càng đồ sộ càng tốt, đặc biệt là từ vựng tích cực (active/productive vocabulary), tức là loại từ vựng dùng để sản sinh phát ngôn. Một người sử dụng tốt tiếng Anh cần phải có ít nhất là 3500 từ để có thể giao tiếp một cách thoải mái về những chủ đề thông dụng (chưa đi sâu vào chuyên ngành). Với số lượng từ này người sử dụng có thể đọc những tác phẩm văn học dễ, ví dụ: Level 6 của hệ Oxford Bookworms Library. Để có thể nghe, đọc hiểu được những bài nói chuyện về chính trị, kinh tế, xã hội, người sử dụng tiếng cần phải bổ sung cho kho từ vựng của mình những từ chuyên ngành thuộc các lĩnh vực đó. Số lượng từ này tuy hạn chế đối với từng ngành chuyên môn, nhưng số lượng ngành chuyên môn (subject matter) lại quá nhiều, do đó số lượng từ đối với người phiên dịch luôn luôn là một sự thách thức.

Người phiên dịch cần phải có năng lực đoán từ trong văn cảnh. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng làm được. Khả năng đoán từ trong văn cảnh chỉ có thể thực hiện được khi vốn từ vựng của mình bao quát được hầu hết những từ trong văn cảnh ấy, chỉ còn lại một hoặc nhiều lắm là hai từ mới mà thôi. Nếu trong câu sau đây, những từ in nghiêng là từ mới thì chúng ta làm thế nào có thể dịch được ý nghĩa của câu:

There are three kinds of animal diets: carnivorous, herbivorous, and omnivorous.

Kiến thức ngữ pháp, tuy có thể biến hóa đa dạng nhưng chốt lại, mẫu câu rất có hạn. Chẳng hạn mẫu câu cơ bản của tiếng Anh chỉ là 32 mẫu (theo Oxford Advanced Learner's Encyclopedic Dictionary, 1992). Hơn nữa quy tắc ngữ pháp cũng có hạn, và khi đưa vào sử dụng người phiên dịch có thể chủ động biến đổi để tạo ra những mẫu tương đương thể hiện cùng một ý tưởng. Tuy nhiên đòi hỏi đối với người phiên dịch không dừng ở chỗ nắm bắt được quy tắc mà ở chỗ ứng dụng quy tắc một cách nhuần nhuyễn với tốc độ nhanh.

Kiến thức văn hóa của cộng đồng SL và TL là một yêu cầu không thể thiếu được. Người phiên địch bất cứ khi nào vào cuộc, bất cứ trong tình huống nào đều thường xuyên va chạm với yếu tố văn hóa của bên này hoặc bên kia hoặc cả hai.

Vào những năm 1980s và 1990s Việt Nam chưa tham gia Công ước Berns về bản quyền tác giả. Trong sinh hoạt hàng ngày người Việt không hề có ý thức, thậm chí không hiểu về bản quyền. Trong một dự án, Bên Anh đưa vào một mục của dự án là cung cấp 4.000 cuốn sách cho quy trình đào tạo cán bộ; còn phía Việt Nam đưa ra điều kiện là chỉ lấy một quyển rồi tự in hoặc phôtô phát cho người học, tiền dư của 3900 cuốn sách sẽ đưa vào sửa chữa nhà cửa.

Cái mà ngừời Anh cho là không thể được thì người Việt cho là bình thường: hai cách tư duy (intellectual approach) khác nhau.

Kiến thức văn hóa bao gồm ba bình diện: hành vi (cử chỉ), phong tục tập quán, yếu tố văn hóa tiềm ẩn trong ngôn ngữ sử dụng. Có nhiều hành vi đối với dân tộc này mang hàm ý tốt nhưng đối với dân tộc khác lại mang hàm ý xấu.

Đi ăn mỳ cùng người Anh thì dù mì nóng đến mấy cũng không nên húp thành tiếng; nhưng đi cùng người Nhật thì hãy húp xùm xụp và xuýt xoa. Khi bắt tay người Anh, hãy đứng thẳng người, giơ tay nắm lấy tay họ, hơi bóp nhẹ rồi thả ra ngay. Khi bắt tay người Nhật, hơi cúi khom người xuống một chút.

Nói đến sự hiểu biết về văn hóa của SL và TL người phiên dịch không chỉ cần biết mà cần nhạy cảm với nó để hòa mình vào trong giao tiếp, và để dịch cho có hiệu quả. Trong những bài nói chuyện của người Anh, có khi trong cả tình huống nghiêm túc, họ vẫn có những câu nói hàm chứa tính hài hước. Những tình huống này người phiên dịch thường lúng túng về cách diễn đạt (nếu hiểu được) hoặc tạo ra những câu không ăn nhập vào đâu (nếu không hiểu được).

Một quan chức người Anh sau bốn năm làm việc ở Việt Nam, trong buổi liên hoan tiễn đưa, anh nói: Tôi đến Việt Nam khi chưa có đèn đỏ. Nay tôi ra về, Hà Nội đã có đèn đỏ, mặc dù nhiều người Hà Nội vẫn chưa biết là đã có đèn đỏ.

Một yêu cầu về kiến thức nữa của người phiên dịch là sự hiểu biết về những nét xã hội (social features).

Sau vài buổi làm việc, khi đã quen nhau, người Anh ít khi xưng hô Mr/Mrs/Miss + tên, mà chỉ gọi tên, dù người đó lớn tuổi hơn mình. Ví dụ: Minh, I have something to argue. Nếu người phiên dịch dịch ra tiếng Việt là: Minh, tôi có điều cần tranh luận thì sẽ tạo ra một thái độ khác hẳn với ý đồ của người nói, vì trong xã hội Việt Nam, nhất là đối với người lớn tuổi, chúng ta không bao giờ gọi tên không mà phải đệm từ xưng hô.

Đối với người Anh, trong nhà con cái cũng gọi bố mẹ bằng tên riêng.

1.2. Kiến thức nền (Background knowledge)

Kiến thức nền đối với người phiên dịch không phải chỉ là những kiến thức phổ thông, sự hiểu biết chung chung về xã hội mà là những kiến thức (tương đối) sâu về những chủ đề dịch. Trong sinh hoạt hàng ngày, một người bình thường (không phải chuyên gia) khi bàn đến một chủ đề chuyên môn, người đó cũng đã có sự hiểu biết nhất định về lĩnh vực đó. Một người không phải là thợ điện nhưng không thể không biết điện áp, điện hai pha, điện ba pha, áp tô mát, bộ đổi nguồn, v.v. là gì. Người phiên dịch không thể dừng ở mức độ này được. Trong bất cứ một hội thảo, một đợt làm việc nào đó, chủ đề đều tương đối sâu vào một ngành, người phiên dịch phải đương đầu với những kiến thức chuyên ngành tương đối sâu. Hơn thế nữa, sự thách thức này rất đa dạng, vì không một người phiên dịch nào tuyên bố rằng tôi chỉ dịch về một vài ngành nào đó mà thôi. Chúng ta hãy đọc trích đoạn bài trình bày quan điểm về tư tưởng ngôn ngữ của James W. Tollefson trong Hội nghị Quốc tế Lần thứ tư về Ngôn ngữ và Phát triển, tổ chức tại Hà Nội vào 13-15 tháng 10 -1999.

Chỉ qua đoạn giới thiệu này chúng ta thấy diễn giả đã trình bày công trình nghiên cứu của mình rất sâu vào khu vực giảng dạy ngoại ngữ dưới một cách nhìn mới; hay nói một cách khác, với những khái niệm mới. Rõ ràng cái khó của người phiên dịch sẽ là nhữig khái niệm mới chứ không phải chỉ là từ. Những từ như ideology, Standard language ideology, intepretations of reality,... là những khái niệm, những quan điểm giáo dục học. Phần sau của bài nói chuyện, tác giả nêu những quan điểm này một cách cụ thể và những điểm tranh luận. Đọc bằng mắt để dịch đã khó, nghe để dịch lại càng thách thức. Người phiên dịch không có kiến thức về hệ thống tư tưởng của các phương pháp dạy ngôn ngữ sẽ gặp nhiều khó khăn, ngay cả trong cách diễn đạt.

Language Ideology and Language Education

In this paper I will examine how our beliefs about language and second language learning and teaching shape our professional experience. The major claim explored here is that our beliefs about language fundamentally determine our interpretations of the reality of language classroom, including students, teachers and what we teach, how we should teach, and virtually everything that matters in language education.

The search for underlying assumptions takes us into the study of ideology. Therefore I will briefly define what I mean by language ideology, and then I will examine some important ways that it shapes what we do in language education. I am especially interested in what I will call "standard language ideology" which refers to a cluster of beliefs about the value of linguistic homogeneity. I explore the impact of standard language ideology upon common language teaching practices and how those practices often are in the service of social and political agenda. Finally I will consider one pedagogical alternative to standard language ideology.

Trong nhiều trường hợp người phiên dịch cần phải nắm vững cả những kiến thức có tính chuyên biệt của một ngành (expertise on the field of specialisation) thì mới dịch được. Chẳng hạn khi chúng ta phải dịch những hội thảo về xây dựng luật. Đã nói đến xây dựng luật thì kiến thức phải rất sâu vì người làm việc đều là những chuyên gia về luật, và khi nói với nhau họ không nói theo kiểu giải thích nội hàm của các khái niệm, mà sử dụng chúng như những đơn vị đúc sẵn, những đơn vị được mặc nhiên công nhận. Hoặc khi chúng ta phải dịch một hội thảo về luật có liên quan đến những vấn đề xã hội, những khái niệm và quan điểm lại càng khó. Chúng ta hãy đọc một trích đoạn về chính sách đối với người bệnh tâm thần của Mỹ Asylum Policy under U.S. Law:

Đoạn trích trên cho ta thấy người phiên dịch không phải chỉ đối mặt với thuật ngữ chuyên ngành mà còn cả khái niệm chuyên ngành nữa.

Trong trường hợp dịch những chủ đề chung về xã hội như vấn đề hội nhập, bảo vệ rừng, tệ nạn xã hội, tăng trưởng kinh tế nói chung, v.v. thì vùng giao thoa giữa vốn kiến thức thể hiện trong bài nói của diễn giả với vốn kiến thức của người phiên dịch tương đối lớn. Tuy nhiên, khi vào một hội nghị quốc tế về chuyên ngành thì những bài phát biểu, gọi là technical papers, thường không phải là những bài viết cho những người ngoại đạo (non-expert). Khi chuẩn bị bài nói, diễn giả không có ý thức viết cho phiên dịch dịch, mà viết để trình bày những điều mình muốn nói, muốn tranh luận, muốn thuyết phục về quan điểm chuyên ngành. Do vậy nội hàm của vấn đề đôi khi không bộc lộ (not explicitly stated by the speaker). Những quan điểm chuyên môn đưa ra không giải thích mà tranh luận. Vì vậy người phiên dịch muốn thành công phải phát hiện được cả những ý tưởng bộc lộ và những hàm ý.

While the INA does not define persecution, U.S. courts have interpreted the term to involve “the infliction of suffering or harm upon those who differ… in a way that is regarded as offensive.” Although persecution “does not require bodily harm or a threat to life or liberty, “it is a strong concept involving more than discrimination or harassment. The persecutor need not to be the government as long as the government is unable or unwilling to control the persecuting individual or organisation.

Journal of Law and Policy. Brooklyn Law School. 2004. Volume XII. No.2. Nothing to Declare but their childhood: Reforming U.S. Asylum Law to Protect the Rights of Children. Rachel Bien.. p.805.

Một câu như "They are insidious skin parasites, infesting the occupants of factories and offices. They cause itching, prickling and crawling sensations in the skin that are almost untreatable. These creatures may only exist in the mind, but their effects are real and infectious; (Peter May. 2004. Scratching the Surface. IELTS Practice Tests, P.50) đối với những nhà chuyên môn có lẽ họ chỉ gặp khó khăn về ngôn ngữ (không biết từ) vì họ đã có khái niệm chuyên ngành về vấn đề này (tức là kiến thức ngoài ngôn ngữ: extra-linguistic knowledge), vì thế khi biết từ là họ hiểu chính xác ngay. Nhưng đối với những người ngoài ngành thì ngôn ngữ chưa đủ để hiểu một cách chính xác. Nhiều từ chúng ta dùng hàng ngày nhưng nếu hỏi sâu vào khái niệm đằng sau những từ đó thì không phải ai cũng biết như chứng khoán, kiểm toán, phát triển bền vững, v.v.

Một phiên dịch đi dịch cho hội nghị về “Renovating the teaching of health in multigrade primary schools (Đổi mới giáo dục và dạy học sức khỏa ở các trường tiểu học dạy lớp ghép)” sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không tìm hiểu những kiến thức ngoài ngôn ngữ như "đổi mới giáo dục", “Dạy học sức khoẻ” và “lớp ghép”. Người phiên dịch dù dịch chủ đề nào đều phải tìm kiếm ý nghĩa (sense) của bài nói chứ không phải chuyển ngang từ vựng từ ngôn ngữ nọ sang ngôn ngữ kia.

Như vậy dù cho chủ đề dịch là chủ đề chung hay chuyên ngành, mỗi hoạt động dịch đều dựa trên cùng một quy trình: đó là sự phối hợp giữa kiến thức ngôn ngữ học với những kiến thức ngoài ngôn ngữ học vì mỗi lời dịch phải là một dòng chảy thể hiện ý tưởng của diễn giả chứ không phải chỉ là một chuỗi từ ghép lại với nhau. Vậy cơ sở quan trọng nhất của quy trình này là “hiểu lời nói” (understanding the speech).

1.3. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, và kỹ năng phiên dịch

Đúng về mặt sử dụng ngôn ngữ, người phiên dịch phải nắm vững các kỹ năng giao tiếp như tóm tắt, đơn giản hóa khi cần thiết, tạo điều kiện hiểu biết lẫn nhau, để sau này phát triển thành những kỹ thuật dịch.

Trong nói năng, người phiên dịch phải nói lưu loát (fluent) về cả SL và TL. Nói lưu loát, trôi chảy không phải là nói nhanh, mà là thể hiện được những đặc thù của ngôn ngữ mình đang nói, ví dụ khi nói tiếng Anh phải đảm bảo bốn yếu tố cơ bản là âm tốt (good pronunciation), trọng âm và nhịp điệu (stress & rhythm), ngữ điệu (intonation) và tốc độ tự nhiên (normal speed). Năng lực nghe hiểu là yếu tố quan trọng nhất đối với người phiên dịch (xem Chương 3). Nói đến nghe hiểu, người phiên dịch không phải lúc nào cũng đi dịch cho người bản ngữ, nhất là tiếng Anh. Chẳng hạn khi dịch cho người Ấn Độ nói tiếng Anh, cách phát âm của tiếng Anh- Ấn quả thật là nổi tiếng về độ khó nhận biết. Mỗi người không bản ngữ có một sắc thái riêng về giọng điệu do sự can thiệp của tiếng mẹ đẻ. Đấy là không kể những từ vựng quen dùng trong một cộng đồng phi bản ngữ, gọi là localised forms, không có trong tiếng Anh chuẩn, ví dụ bed-tea của Ấn Độ (cốc chè sữa nóng uống vào lúc vừa ngủ dậy buổi sáng), cách dùng Mrs thay cho my wife. OKla và cách dùng can thay cho động từ chính của tiếng Anh Singapore. Người Singapore còn gọi tiếng Anh của họ là Senglish.

Ngay cả đối với người bản ngữ Anh, mỗi vùng cũng có giọng địa phương của nó. Người vùng Sussex đọc các âm /au/ thành /eu/. Người Đông London (East End of London) có giọng nổi tiếng của mình gọi là Cockney accent, họ có cách nói riêng gọi là rhyming slang, cách nói bí mật chỉ có người Cockneys mới hiểu. Đó là cách dùng từ và nhóm từ hợp vần với từ mình muốn nói chứ không nói thẳng từ đó ra. Ví dụ: khi muốn nói feet, người Cockneys nói là plates of meat; hoặc apples and pears có nghĩa là stairs. Người Birmingham còn có cách phát âm khác hẳn với RP (Received Pronunciation: phát âm chuẩn), gọi là phương ngữ Brummy. Ví dụ: thay cho lời chào How do you do?, người Birmingham nói là "Adoo", always phát âm là / 'auwiz/, âm / ai/ phát âm thành như từ life. Hãy tưởng tượng nếu người phiên dịch gặp diễn giả là người Birmingham nói câu sau đây thì sẽ hiểu ra sao: *Yow'd think by now it woz time the rest ov the Wairld spowk roit loik us, wudden cha? (You'd think by now it was time the rest of the world spoke right like us, wouldn't you?).

Khả năng thích nghi nhanh với giọng địa phương của diễn giả là yếu tố quan trọng tạo khả năng dịch thành công, tức là đáp ứng tiêu chí dịch đúng (correctly) và chính xác (accurately).

1.4. Những tiêu chí về tính cách của người phiên dịch khi hành nghề

(i). Tự tin. Người phiên dịch không thể tự tin theo kiểu "trời sinh voi sinh cỏ", cứ vào cuộc rồi sẽ tìm ra cách, hoặc tự tin theo kiểu chờ vận may, nghĩa là biết rất lơ mơ về chủ đề mình gặp, nhưng cứ nhận dịch, chờ vận may là diễn giả sẽ hỗ trợ mình theo một cách nào đấy. Lòng tự tin của người phiền dịch chân chính chủ yếu xuất phát từ hai thái độ. Một là chuẩn bị kỹ càng trước khi vào cuộc: tìm hiểu chủ đề, đọc nghiêm túc những tài liệu có trong tay, chuẩn bị sức khỏa. Hai là đối với những chủ đề khó quá hoặc quá xa lạ với mình, cũng như trường hợp được mời dịch quá gấp (short notice) không có thời gian chuẩn bị thì nên từ chối.

(ii). Xây dựng cho mình một tính cách, một kỹ năng giao tiếp đúng mực. Người phiên dịch trong mọi trường hợp cần lịch sự (polite), nhạy cảm trong giao tiếp (sensitive), công bằng (fair), khiêm tốn (honest), bình tĩnh (calm) và có thái độ hỗ trợ, xây dựng (supportive). Chúng ta hãy cùng nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này trong phần sau đây.

2. Đạo đức người phiên dịch (Code of Ethics)

Người phiên dịch trong mọi trường hợp phải trung thành với văn bản, tức là với nội dung diễn giả trình bày. Những tiêu chí người phiên dịch phải đáp ứng để đảm bảo được sự trung thành rất đa dạng vì không hẳn chỉ là những yêu cầu trình độ chuyên môn cao mà còn là sự rèn luyện thói quen cũng như đạo đức, luân lý xử thế.

Một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình đào tạo phiên dịch là triết học của nghề nghiệp (the philosophy of the profession), trong đó phải kể đến các quy tắc về đạo đức, những quy tắc dịch, và hàng loạt những thủ pháp có liên quan đến vai trò khác nhau của một người phiên dịch trong công việc hàng ngày.

Khi bước vào nghề phiên dịch, người phiên dịch luôn luôn phải được đào tạo và tự rèn luyện một cách chu đáo. Có như vậy trong cuộc đời phiên dịch, người phiên dịch mới luôn luôn đảm bảo được ba bước khi nhận bất cứ nhiệm vụ dịch nào. Đó là:

i. Trước khi bước vào cuộc dịch (Before the assignment)

ii. Trong khi dịch (During the assignment)

iii. Sau khi dịch (After the assignment)

Trước khi dịch

Chuẩn bị kỹ (Be well-prepared)

Khi nhận nhiệm vụ đi dịch cho một sự kiện nào đó, ví dụ như một hội nghị, hội thảo, một cuộc đàm phán, một khóa huấn luyện chuyên môn, v.v. người phiên dịch cần chuẩn bị kỹ. Ở đây chúng ta nói đến chuẩn bị kiến thức về chủ đề dịch. Nó bao gồm rất nhiều bình diện như đọc có tính chất nghiên cứu về chủ đề dịch, thu thập và chọn lọc thông tín quan trọng về hội nghị tạo cho mình sự chủ động khi thực hiện nhiệm vụ, ví dụ có thể trong hội nghị sẽ có những quan điểm không thống nhất, dẫn đến những cuộc tranh luận gạy gắt. Việc đọc những bài viết của diễn giả là không thể thiếu được. Nhiệm vụ của người phiên dịch sẽ tập trung vào những vấn đề đó.

Nói đến tài liệu, người phiên dịch cần biết rằng hầu hết các diễn giả trong hội nghị sẽ không đọc y nguyên văn bản viết của mình. Ngay cả khi họ gửi bản tóm tắt thì đó cũng không phải là văn bản để họ đọc nguyên văn. Cả hai loại tài liệu, toàn văn và tóm tắt, đều chỉ là những ý chính mà diễn giả sẽ trình bày mà thôi. Nhưng như vậy cũng đã là may mắn cho người dịch rồi. Người phiên dịch còn phải sẵn sàng "chiến đấu" với những diễn giả hùng biện nhưng không hề đưa trước bất cứ một tài liệu nào. Điều này thường hay xảy ra do khó khăn về giao dịch, hoặc do diễn giả quá bận rộn với công việc của mình nên chỉ gần sát ngày hội nghị mới ngồi viết ra bài nói chuyện của mình để mang theo.

Đối với những cuộc dịch đàm phán, người phiên dịch càng cần phải nghiên cứu kỹ tài liệu vì trong đàm phán hai bên hầu như không bên nào có thể chuẩn bị những bài diễn văn của mình. Họ chỉ chuẩn bị những ý chính, những điểm cần đàm phán, quan điểm của mình về những điểm ấy, và đặt ra mục tiêu họ cần đạt được qua đàm phán. Những cuộc dịch đàm phán hai bên thường xảy ra dưới hình thức nêu vấn đề, thảo luận, tranh luận, v.v. Và người phiên dịch thường phải dịch "vo", tức là dịch không có tài liệu, không được chuẩn bị. Trong những sự kiện này tài liệu người phiên dịch có thể có được thường là một dự thảo (draft), và tài liệu "sống" (nếu người phiên dịch may mắn được bên chủ nhà mời gặp trước để nói sơ qua tình hình, gọi là buổi briefing).

Khi đã có tài liệu trong tay người phiên dịch cần phải đọc kỹ tài liệu bằng cả hai thứ tiếng. Có hai việc lớn cần phải làm:

(1). Liệt kê những từ mới trong từng bài phát biểu (theo văn bản đưa trước của diễn giả). Mỗi bài viết có một liệt kê từ vựng riêng, không cần lập danh sách từ (glossary) xếp theo vần ABC cho tất cả các bài trong hội nghị,

(2). Phân loại theo yêu cầu của hội nghị và sắp xếp theo thói quen về trật tự của mình. Việc sắp xếp tài liệu quan trọng ở chỗ trong khi dịch người phiên dịch không thể có thời gian tìm tài liệu, mà phải nhìn ra ngay nó ở đâu. Một kinh nghiệm phân loại là xếp tài liệu thành từng cặp chủ đề (cả hai thứ tiếng SL & TL), rồi sau đó toàn bộ tư liệu sắp xếp theo thứ tự mà chương trình hội nghị, đàm phán đưa ra.

Ví dụ: Diễn đàn Việt Nam Gia nhập WTO có chương trình như sau:

DIỄN ĐÀN: VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Thứ Hai


8:30–9:00

Đăng ký đại biểu

9:00-9:30

Phiên khai mạc

Phát biểu của PGS TS Lưu NH

Phát biểu khai mạc của GS. TS Wook Robinson

9:30-10:20

Phiên 1: "Các cơ hội và thách thức của Việt Nam sau khi gia nhập WTO"

Diễn giả 1: PGS. TS. Nguyễn T.T.

Bình luận: Dr. H.S. Kang

10:20-10:30

Nghỉ giải lao

10:30-12:00

Phiên 1 (tiếp tục)

Diễn giả 2: Dr Moon S.K.

Bình luận 1: PGS. TS. Trần T. D.

Bình luận 2: TS. Đặng C.

Diễn giả 3: TS. Phạm Đ.T.

Bình luận 1: Dr. Jane W. B..

Bình luận 2 : Professor Jenkely

Bình luận 3: Dr Ja Van Chong

Với một chương trình làm việc trong một buổi như trên, người phiên dịch phải sắp xếp tài liệu SL & TL theo chủ đề: bài viết của diễn giả và người bình luận được xếp vào một cặp tiếng Việt và tiếng Anh, cùng với liệt kê từ vựng đã chuẩn bị sẵn.

- Cặp thứ nhất: Diễn giả 1 & Bình luận (Bài viết và liệt kê từ vựng thuộc về hai bài này)

- Cặp thứ hai: Diễn giả 2 & Bình luận 1+2 (Bài viết và liệt kê từ vựng thuộc về ba bài này)

- Cặp thứ ba: Diễn giả 3 & Bình luận 1 +2+3 (Bài viết và liệt kê từ vựng thuộc về bốn bài này) 

Ở Việt Nam, cho đến thập kỷ đầu của thế kỷ 21 chưa có trường đào tạo phiên dịch chuyên nghiệp, các môn dạy dịch trong các trường đại học, các khoa ngoại ngữ chưa thể gọi là đào tạo dịch. Mãi đến năm 2003 mới có một số ít người được đi đào tạo dịch ở Belgium khoảng 3-6 tháng. Cho nên các phiên dịch thường là "tự phát", làm việc nhờ năng khiếu và kinh nghiệm cá nhân của mình. Cũng vì thế một người phiên dịch có trách nhiệm cần phải tăng cường hơn khâu chuẩn bị.



Chuẩn bị về năng lực ngôn ngữ (Linguistic Competence)

Tiêu chí đầu tiên của người phiên dịch là biết hai ngôn ngữ ở trình độ ngang nhau, ít ra là tiếng mẹ đẻ và một thứ tiếng nữa (ví dụ: tiếng Anh). Vậy việc chuẩn bị năng lực ngôn ngữ cho một hội nghị, một cuộc đàm phán, một diễn đàn cụ thể thường tập trung vào tìm hiểu những khái niệm mới (notions, concepts) được thể hiện bằng từ, đồng thời đọc đi đọc lại để có thể nhớ thuộc lòng được càng nhiều càng tốt và rèn luyện sự trôi chảy về chủ đề sắp dịch. Như trên đã nói, hiểu khái niệm quan trọng hơn biết từ rất nhiều vì nhiệm vụ dịch là chuyển tải ý nghĩa (ideas) chứ không phải là chuyển dịch từ (words). Ví dụ: khi dịch chén đồng, không thể dùng từ tương đương tiếng Anh là drink a brass cup, vì từ này có nghĩa là chén rượu uống để thề thốt suốt đời một lòng một dạ với nhau, hoặc chén hoàng hoa không phải là drink a flower cup vì nó có nghĩa là chén rượu ly biệt.

Trong quá trình tìm hiểu về chủ đề cần quan tâm đến những khái niệm đặc thù của một cộng đồng hoặc những khái niệm mang tính văn hóa đặc thù (cultural awaremness) mà hội nghị đó hoặc bài viết của diễn giả nào đó đề cập đến. Đặc biệt những hội thảo về văn hóa như cảnh quan văn hóa (cultural landscape), bảo tồn bảo tàng (conservation), khảo cổ (archeology). Ngay cả những hội nghị về những vấn đề quốc tế như bảo vệ môi trường (environment protection) cũng đụng chạm nhiều về văn hóa, vì môi trường gắn với đời sống, tập tục, thói quen của từng cộng đồng khác nhau.

Trau dồi năng lực ngôn ngữ (Improve one's linguistic competence)

Người phiên dịch cần luôn luôn nắm bắt các cơ hội để lắng nghe: nào là các bài giảng, các buổi lễ, các cuộc tranh luận, v.v. trên radio và TV, ở trường đại học, ở các cuộc mít tinh công cộng, v.v. Trong những cơ hội này, người phiên dịch không những nghe giống như các người khác là lấy kiến thức, mà còn nghe để luyện tay nghề: vừa nghe vừa ghi chép (theo kiểu để dịch), vừa nghe vừa dịch nhẩm theo. Ngày nào cũng dành một thời gian làm việc này, hình thức này hay hình thức kia, nó sẽ tạo thói quen và tạo ra một phản xạ, mà thuật ngữ chuyên ngành gọi là sự ám ảnh tích cực (positive obsession).

Một hình thức nữa cũng có tác dụng nâng cao năng lực ngôn ngữ cho dịch là chép chính tả (dictations). Hãy sử dụng các buổi phát thanh hoặc TV đọc chậm của Đài VOA. Tập chép lại các thông tin một cách đầy đủ, không phải ghi chép tóm tắt để dịch. Kỹ thuật chép chính tả này khác với bài tập chính tả thông thường là người đọc không dừng lại cho người nghe chép.

Một hình thức quan trọng và đa dạng giúp người phiên dịch tiếp cận với các góc độ khác nhau của ngôn ngữ, đó là hài kịch (comedy), chuyện hoạt hình, tiểu thuyết, phim ảnh. Trong những tác phẩm loại này, các nhân vật thường sử dụng những câu ngữ pháp tồi nhưng rất "bản ngữ", nói tiếng địa phương (dialect), hoặc phát âm chệch để tạo tiếng cười (phonetic deviation). Một ví dụ về cách nói không đúng ngữ pháp nhưng rất bản ngữ:

Man: I don't like to cook, but I don't like to eat in the cafeteria every day either.

Woman: True. The food does get kind of... same old same old.



(TOEFFL * iBT. Pamela J. Sharpe. Model Test L Tapescript:575)

Khi tự đào tạo để tăng cường năng lực ngôn ngữ, người phiên dịch cần chú ý ba bình diện sau đây:

- Nghe, hiểu và ghi nhớ được một câu trong khi nói một câu khác.

- Dịch đuổi theo một phát ngôn có tốc độ tự nhiên (normal speed).

- Lưu trữ một vốn từ tương đối phong phú về các chủ đề khác nhau.

Chuẩn bị về khả năng nói rõ ràng (Be a clear speaker)

Một hội nghị, một cuộc đàm phán thành công nhiều hay ít phụ thuộc khá nhiều vào phiên dịch. Hai bên hiểu nhau tới mức nào phụ thuộc khá nhiều vào tính rõ ràng của lời dịch. Tất nhiên người phiên dịch không được phép dịch sai, nhưng ngay cả khi nắm bắt đúng được ý tưởng của diễn giả SL, người phiên dịch còn nhiệm vụ quan trọng là xây dựng câu bằng TL. Thường trong việc này sự can thiệp của SL làm cho người phiên dịch dễ bộc lộ một văn phong "lai căng", làm cho lời dịch hoặc mơ hồ khó hiểu, hoặc ngô nghê. Chúng ta thấy rất rõ nhiệm vụ dịch là nhiệm vụ tái tạo thông điệp (reformulation) của diễn giả ngay lập tức. Đặc biệt khi SL và TL khác nhau xa về cấu trúc ngôn ngữ, như tiếng Anh và tiếng Việt, quy trình reformulation lại càng phức tạp. Đây là lý do mà nhiều người rất giỏi ngoại ngữ nhưng không phiên dịch được. Người giỏi ngoại ngữ thường nghiêng về xây dựng câu (building sentences), còn người phiên dịch nghiêng về tái tạo câu (reforming sentences). Hơn nữa động thái dịch là động thái bị động: vừa phải chuyển dịch đầy đủ cả ý chính lẫn ý hỗ trợ, vừa phải liên tục nghe những ý tiếp theo của diễn giả.

Các cuộc giao tiếp hàng ngày chính là môi trường huấn luyện người phiên dịch: ở mọi nơi, trong mọi tình huống hãy tập nói với độ nghiêm chỉnh cao về ngôn ngữ. Ngay cả khi vui đùa cùng bạn bè, người thân, cũng nên bộc lộ cách nói rõ ràng (phát âm, thể hiện ý tưởng). Những người khiếm khuyết về khả năng nói rõ ràng như tật nói lắp, tật nói quá nhanh kèm theo phát âm "cẩu thả", tật nói chậm (không có khả năng phản xạ nhanh), v.v. không nên theo nghề phiên dịch. Những người có những tật có thể sửa được, nhưng phải rất kiên trì và công phu, như tật nói "ngọng" (trong tiếng Việt), "ngọng" các âm đặc thù của tiếng Anh, tật nói nhát gừng (staccato), tật ầm ừ để nghĩ (time consuming), v.v. cần phải rèn luyện cho đến khi khắc phục được những tật đó mới nên nhập cuộc.

Rèn luyện trí nhớ (Memory training)

Trí nhớ của người phiên dịch là yếu tố không thể ở mức yếu kém. Trí nhớ cần phải được rèn luyện thường xuyên. Điều này sẽ được nói rõ trong Chương 4 của quyển sách này.



Rèn luyện đạo đức (Integrety & dignity)

Xây dựng tính cách là điều cần thiết đối với mọi người. Riêng với người phiên dịch thì lại càng đòi hỏi khắt khe hơn vì luôn luôn phải đối đầu với những hiện tượng tiêu cực.

Trước hết người phiên dịch không được tận dụng những thông tin mình nắm được qua một đợt dịch nào đó để kiếm lợi nhuận cho riêng mình. Đây bị coi là một hành động vi phạm bản quyền trí tuệ, vi phạm pháp luật, vì những thông tin mình có được không phải của mình.

Thor, the thunder god, went to a dude ranch. After riding all day, he cried,

"I’m Thor!"

His riding instructor answered, "You forgot the thaddle, thilly!

Chú thích: Hãy thay âm /s/ vào những âm trong nhữtig từ Thor, thaddle, thilly.

Người phiên dịch không nên nhận quà của bất cứ bên nào, nhất là nhận tiền hoặc một lời hứa hẹn nào đó về quyền lợi. Một hiện tượng tuy không xảy ra thường xuyên, nhưng một khi đã có thì lại rất nghiêm trọng. Đó là một bên tham gia đàm phán có ý "mua" phiên dịch để dịch có lợi cho mình, hoặc để cung cấp những bí mật của bên kia trong quá trình dịch, thông qua "nghe lỏm" hoặc phát hiện tài liệu mật, v.v. Tất nhiên cũng có nhiều trường hợp rất vô tư, diễn giả muốn thưởng cho phiên dịch nhằm động viên khích lệ người dịch. Dù trong trường hợp nào, quà cáp luôn luôn làm nghiêng cán cân tình cảm. Trừ những trường hợp món quà nhỏ là một thỏi sôcôla hoặc bánh trái, hoặc một hộp nước uống, hoặc một vật kỷ niệm như "pin" cài áo, v.v., còn khẩu hiệu của người phiên dịch là “nói không với quà cáp” (Say no to gifts).

Trong quá trình đi dịch, nếu một bên nào đó mời đi ăn uống, người phiên dịch chỉ nên chấp nhận khi nó thuộc về phong tục tập quán văn hóa của họ: không nhận lời sẽ làm người mời phật ý.

Trong khi dịch (During the assignment)

Sau khi chuẩn bị kỹ càng, người phiên dịch có thể "ung dung" bước vào hội nghị với lòng tự tin. Vậy thì khi thi hành nhiệm vụ người phiên dịch cần phải làm những gì, thể hiện điều gì, và tuân thủ những quy tắc gì, chúng ta cùng xem xét.



Đúng giờ (Be strictly punctual)

Tính đúng giờ trong đời sống sinh hoạt đã quan trọng, trong khi thi hành nhiệm vụ dịch lại càng quan trọng. Hãy thử tưởng tượng hai bên đàm phán đã có mặt đầy đủ, ngồi vào bàn sẵn sàng và... chờ phiên dịch đến.

Đúng giờ đối với người phiên dịch không phải đúng giờ bắt đầu làm việc (ví dụ hội nghị bắt đầu 8:30, phiên dịch có mặt 8:30). Đúng giờ nghĩa là phải đến sớm ít nhất 10 phút, nếu không cần chuẩn bị về mặt kỹ thuật. Tuy nhiên trong hầu hết các hội nghị, các cuộc đàm phán đông người, người phiên dịch phải tự mình thử máy móc sẽ dùng đến, ví dụ điều chỉnh âm lượng micro, chỉnh vị trí máy chiếu,... tự sắp đặt lên bàn: tài liệu, đồ dùng để ghi chép, V.V., tự điều chỉnh chỗ ngồi của mình để có thể nhìn rõ màn hình máy chiếu mà diễn giả dùng đến, đôi khi còn phải gặp gỡ diễn giả (trong trường hợp cần phải làm rõ một vài điều tối quan trọng).... Trong những trường hợp này người phiên dịch nên có mặt trước giờ khai mạc 15-30 phút.

Người phiên dịch không thể viện bất cứ lý do gì để đến muộn giờ. Nếu nhà xa hãy tính giờ cần thiết để vượt qua quãng đường đó cộng thêm 15-30 phút. Nếu phải đi qua một nút giao thông hay ách tắc, hãy đi trước giờ ách tắc, nếu đi bằng phương tiện công cộng như xe buýt, hãy đi trước 1-2 chuyến. Mọi sự tính toán đều cần thiết để không muộn giờ. Đến muộn không phải chỉ là tác phong, mà còn là sự thể hiện về tư cách: thiếu tôn trọng người khác, coi thường công việc, bất lịch sự, và là hành vi thiếu văn hóa.



Tự giới thiệu mình (Introduce Yourself)

Trước khi bất đầu dịch, hãy xin phép hội nghị hoặc hai bên đàm phán một phút để tự giới thiệu mình bằng một hai câu ngắn: My name's... I'm your interpreter today. Chỉ một hai câu như vậy. Không giới thiệu dài dòng về bản thân, nhất là không nên nói bất cứ một câu nào có tính khoe khoang khả năng dịch của mình. Xin đừng nghĩ rằng nói như vậy hội nghị sẽ tin tưởng vào mình. Lời khoe khoang bao giờ cũng có hiệu quả ngược lại với sự mong muốn của người nói. Lòng tin nằm trong chất lượng công việc.



Vô tư trong công việc (Be Impartial)

Khi nhận làm việc cho bất cứ ai, người phiên dịch cần luôn luôn tôn trọng đạo đức nghề nghiệp (professional demeanour), dù cho rất quen thuộc với người đó, hay có quan hệ đặc biệt trong đời thường.

Khi bắt đầu công việc, người phiên dịch phải luôn luôn tôn trọng ý kiến của mọi người phát biểu, coi đó là nhiệm vụ của mình phải thể hiện đúng, không bao giờ bộc lộ thái độ chán chường (boredom), nghi ngờ (scepticism), chống đối (opposition), hoặc châm biếm (irony).

Thái độ chán chường thể hiện ở chỗ khi dịch người phiên dịch dùng một thứ giọng uể oải, đôi khi còn đệm theo những cái ngáp vô vị. Nó sẽ kéo theo chất lượng dịch kém. Tất nhiên không phải ai cũng nói hay, nói hấp dẫn làm cho người phiên dịch vui thích, hâm mộ. Nhưng việc nói hay hoặc nói chán không liên quan gì đến phiên dịch.

Thái độ nghi ngờ thể hiện khi người phiên dịch cảm thấy hình như diễn giả đang nêu một vấn đề thiếu lô-gíc hoặc sai (theo kiến thức của người dịch). Điều đầu tiên là người phiên dịch phải khiêm tốn. Mình nghĩ họ nói sai, nhưng trên thực tế khi đã đưa vấn đề ra hội nghị thì diễn giả thường đã phải suy tính kỹ, và hơn nữa họ là người trong ngành, còn phiên dịch là người ngoài ngành, không thể biết hết được nội tình của họ. Hơn nữa, nếu diễn giả có trình bày điều gì đó sai hoặc mơ hồ thì các bên tham gia hội nghị sẽ đánh giá, tranh luận. Đó không phải là nhiệm vụ của người phiên dịch.

Thái độ chống đối lại càng sai trái nếu phiên dịch cho rằng diễn giả nói sai và trong lời dịch mình chữa lại theo ý của mình. Người phiên dịch cần phải nhận thức rằng mình không được phép tham gia vào nội dung trình bày của diễn giả. Thái độ chống đối bằng cách thêm thắt những câu châm biếm vào lời dịch sẽ làm cho toàn hội nghị phẫn nộ, và làm như vậy người phiên dịch đã vi phạm đạo đức nghề nghiệp, đồng thời làm hại đến chính uy tín của mình.

Khi chuyển tải một thông điệp từ ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, thông điệp đó phải được bảo vệ thông qua sự trung thành của người dịch, cho nên bất cứ một thái độ nào như đã nói ở trên xảy ra đều là sự vi phạm vào nội dung thông điệp. Dù cho những thái độ trên chỉ tồn tại trong ý tưởng của người phiên dịch trong khi đang làm nhiệm vụ, chưa thể hiện bằng những hiện tượng cụ thể, thì cũng đã nên tránh. Nó sẽ bóp méo thông điệp ở dạng này hay dạng kia, làm hại đến uy tín của diễn giả.

Người phiên dịch bao giờ cũng phải tỏ thái độ (qua giọng nói) luôn luôn nhiệt tình với chủ đề đang thảo luận. Không có được điều này nó sẽ dẫn đến những thái độ sai trái ở trên, làm cho mình mất sự sáng suốt trong khi dịch, mà trong nghề dịch gọi là hiện tượng thiên lệch (lopsided development), một xu hướng sai lầm trong nghiệp vụ (faulty vocational guidance).

Có một lần chúng tôi đi dịch cho một hội nghị về bảo tồn bảo tàng. Mỗi lần một diễn giả nói xong, chủ tọa (chairman) hội nghị đều cám ơn và tóm tắt ý kiến của diễn giả đó. Tuy nhiên, do bệnh dài dòng, lời tóm tắt dài gần bằng phần trình bày của diễn giả. Qua vài lần, đội phiên dịch cảm thấy tức tối, chán chường lắm, bảo nhau cứ khi ông này nói thì cắt đi, chỉ dịch bâng quơ cho xong chuyện.

Phong cách dịch (Speaking style)

Một điều tối kỵ trong khi dịch là người phiên dịch sử dụng lối nói kẻ cả (speak with authority), tỏ ra hiểu biết, dù cho người đó có hiểu biết sâu về chủ đề đang địch hay không. Giọng nói ngạo mạn này sẽ làm hội nghị, các bên đàm phán phẫn nộ. Ngược lại người phiên dịch cũng không nên quá rụt rè, quá khiêm tốn, thông qua cách dịch không chắc chắn, hay hỏi lại, dịch rồi lại chữa, hay đệm thêm nhóm từ như hình như, có thể là...theo tôi nghe được thì có thể là, v.v. làm cho người nghe cảm thấy không tin tưởng vào lời dịch.

Cần tìm ra con đường đứng giữa hai tuyến cực đoan này. Một trong những biện pháp thông thường nhất là hãy dịch một cách rõ ràng bằng lời lẽ của diễn giả, chứ không phải lời lẽ của mình. Ví dụ: diễn giả không dằn giọng thì người phiên dịch không dằn giọng, diễn giả không dùng mẫu câu nhấn mạnh thì người dịch cũng không dùng câu nhấn mạnh, diễn giả không cười nói thì đừng đệm những động tác cười vào lời nói, v.v. Hãy trung thành với thái độ của diễn gịả. Mặt khác, khi gặp khó khăn, người dịch có thể dừng lại để hỏi lại diễn giả (tất nhiên chỉ có thể làm được ở những cuộc đàm phán, diễn đàn, bài giảng) một cách nghiêm túc và tự nhiên, tránh dịch bừa rồi khi thấy không ăn nhập giữa hai bên (ví dụ giữa câu hỏi và câu trả lời) thì xin lỗi, rồi hỏi lại, dịch lại.

Khi nhận việc người phiên dịch cần xác định thái độ của mình trước khi vào cuộc. Mỗi hội nghị, hội thảo, tọa đàm, đàm phán đều có cái không khí riêng, đặc thù của nó. Hội nghị (conference) thì trang nghiêm, nghi thức (formal), diễn đàn (forum) thì tự do và thân mật (informal), đàm phán (negotiation) thì thận trọng, khéo léo (careful), hội thảo (workshop) thì đầy những sự tán đồng và phản đối (agreement and disagreement), v.v. ở những hội nghị ngoại giao (diplomatic level) cần chú ý đến sự tinh tế trong cách dùng từ (the nuances of words), còn những cuộc gặp gỡ giữa các nhà khoa học thì điều quan trọng lại là độ chính xác về thuật ngữ và khái niệm (technical accuracy), những cuộc gặp gỡ chính trị (political assembly) thì cách diễn đạt phải cứng rắn, chắc chắn (forcefulness of expression). Những cuộc tụ họp nói chuyện văn chương, nghệ thuật thì lời nói phải hào hoa phong nhã (elegance of speech). Người phiên dịch cần phải thích ứng với không khí này.



Ghi chép để hỗ trợ quy trình dịch (Take notes to support one's interpretation)

Ghi chép là một kỹ thuật quan trọng. Trong quá trình nghe, chuẩn bị dịch, người phiên dịch cần phải thành thạo trong việc ghi chép. Chúng ta sẽ nghiên cứa chi tiết kỹ thuật này trong Chương 5.



Nghe tích cực, tập trung tư tưởng (Listen actively & concentration)

Nghe tích cực là thói quen nghe chọn lọc và ghi nhớ. Người phiên dịch muốn tổ chức tốt lời dịch của mình cần phải có khả năng chọn lọc ý chính, sắp xếp các ý phụ trợ cho từng ý chính và ghi nhớ. Tất cả những động tác này xảy ra đồng thời với quá trình nghe hiểu. Khi diễn giả SL dừng lại, trong đầu người phiên dịch đã phải có đầy đủ thông điệp bằng TL một cách chính xác. Nhằm đạt được hiệu quả này người phiên dịch phải có năng lực tập trung cao độ trong khi nghe để có thể thực hiện được một loạt quy trình nghe-hiểu bằng SL-chọn lọc- sắp xếp-chuyển mã-diễn đạt lại bằng TL.

Điều quan trọng nhất để có thể tập trung được là tránh những tác động của ngoại cảnh, ví dụ như trước khi đi làm có điều gì bức bối, bực tức với ai đó, hoặc có việc gì gây cấn trong mấy ngày trước đó giải quyết vẫn chưa xong; hay nói một cách chung nhất là đang nằm trong tình trạng đứng ngồi không yên. Để tránh điều này phải dùng đến ý chí của mình, tạo cho mình một quan niệm: việc gì đã xong rồi thì thôi, không nên bực tức dai dẳng, việc gì không giải quyết được ngay thì hãy tạm gác lại, tập trung vào việc trước mắt. Đồng thời hãy tận dụng không khí sôi động của một cuộc hội nghị, hội thảo, không khí nghiêm túc, căng thẳng của một cuộc đàm phán để xoá đi những ấn tượng gây mất tập trung.

Trong khi đang địch rất cần sự tập trung cao độ (maximum concentration), tránh bị tác động của ngoại cảnh, ví dụ bị thu hút bởi bóng dáng một người đẹp, bị lãng đi vì trông thấy người bạn lâu năm không gặp đang ngồi bên dưới (cố nhớ ra tên người ấy). Chỉ một vài giây lãng đi người phiên địch đã bị mất một lượng thông tin đáng kể.

Có một lần chúng tôi đi dịch cho hội nghị về "Phủ xanh đồi trống". Một diễn giả đứng lên nói "I'd like to say for a minute about..." Anh phiên dịch nói "Tôi xin nói một phát về..." Mọi người cười ồ lên. Anh phiên dịch ngơ ngác không biết tại sao mọi người lại cười.

Người phiên dịch cần tập trung cao độ để nghe-hiểu được diễn giả nói gì, đồng thời kiểm soát được những điều mình nói. Đừng bao giờ rơi vào tình trạng như đang nói trong mơ. Người phiên dịch lành nghề bao giờ cũng dùng hai tai vào hai việc tuy khác nhau nhưng đồng nhất, đó là dành một tai nghe người khác nói và một tai nghe mình nói, để tự kiểm soát chất lượng âm thanh và nội dung dịch.



Thể hiện năng lực ngôn ngữ (Linguistic performance)

Người phiên dịch không được sáng tạo. Mọi lời dịch phải chính xác (accuracy) và trung thành (faithfulness) với nội dung diễn giả trình bày hoặc phát ngôn của hai bên đàm phán.

Sự chính xác (accuracy) của lời dịch bao gồm ba không (three no's). Đó là không thêm (no addition), không bớt (no omission) và không thay đổi (no alteration).

Quy tắc không thêm thường rất rõ ràng, nhưng đôi khi do nghe không hiểu được đầy đủ nên người phiên dịch hay thêm để lấp chỗ trống. Chúng ta cần biết khi người phiên dịch chèn thêm những câu vô hại, người nghe cũng rất tinh tế phát hiện ra vì họ là người trong cuộc. Một vài lần phát hiện ra những phát ngôn thêm theo kiểu này, và nguy hại hơn nếu trong những phát ngôn thêm ấy có những ý sai với chuyên môn của họ, người nghe sẽ nghi ngờ khả năng dịch và do đó sẽ dẫn đến chỗ mất lòng tin vào người dịch.

Quy tắc dịch đầy đủ, tức là không bớt, là đòi hỏi rất cơ bản của một buổi làm việc. Dịch không đầy đủ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của buổi trao đổi, nhất là trong các cuộc đàm phán. Dịch không đầy đủ sẽ làm giảm bớt khả năng tranh luận, khả năng thuyết phục của hai bên. Tuy đây là quy tắc "sạch nước cản", nhưng nhiều phiên dịch mắc phải do năng lực ghi nhớ còn thấp và kỹ năng ghi chép chưa nhuần nhuyễn.

Quy tắc không thay đổi thường nói đến những trường hợp người phiên dịch làm người nghe hiểu khác đi so với nguyên bản. Ví dụ phát ngôn I'm only too happy to do it có nghĩa khẳng định; nhưng nếu người phiên dịch suy từ cấu trúc bình thường của too + adjective = negative meaning thì người nghe sẽ hiểu đó là loại câu chối từ làm một việc gì đó. Hoặc trong trường hợp a few mang nghĩa rất ít, nhưng quite a few lại mang nghĩa rất nhiều chứ không phải quá ít. Hiện tượng thay đổi nghĩa chỉ xảy ra khi kiến thức về thành ngữ của người phiên dịch còn nghèo. Nhưng hiện tượng đổi nghĩa trong khi dịch hay xảy ra nhất là khi diễn giả dùng phương tiện ngữ âm để thay đổi nghĩa của phát ngôn, ví dụ cùng một nội dung từ vựng, xuống giọng (falling tune) là khẳng định và lên giọng (high rising) là nghi ngờ.

Nói tóm lại cả ba hiện tượng chệch hướng trên đều xuất phát từ trình độ nghe hiểu. Hãy liên tục tăng cường khả năng nghe hiểu. (Chi tiết xem Chương 3).

Từ chối (Decline work)

Ở các nước tiên tiến, người phiên dịch từ chối không nhận dịch những ngôn ngữ mà họ không được đào tạo, không được kiểm định (accreditated) và cấp bằng. Ở nước ta do chưa có chuyên ngành đào tạo phiên dịch như một nghề nghiệp nên đòi hỏi này chưa thể thực hiện được. Tuy nhiên, để giữ thể diện cho mình, bảo toàn tín nhiệm và thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, người phiên dịch nên từ chối không nhận việc trong trường hợp chủ đề mời dịch vượt quá tầm hiểu biết của mình, về ngôn ngữ sử dụng dịch, ít ra phải là đạt trình độ của những người tốt nghiệp xuất sắc thực sự của các khóa chính quy của các trường lớn chuyên đào tạo ngoại ngữ ở ba miền Bắc, Trung, Nam, v.v. Những người chỉ học tại chức hoặc những khoá ngoại ngữ ngắn hạn không nên đi vào nghề phiên dịch.

Trong nghề phiên dịch chúng ta đôi khi thấy có những trường hợp khó xử.

Một là, khi người phiên dịch nhận lời dịch cho một cuộc hội đàm, v.v., sau đó phát hiện ra mục đích hoặc nội dung của nó người phiên dịch từ trước đến nay vẫn phản đối, hoặc thành viên của cuộc hội đàm đó là những người mà người phiên dịch cảm thấy khó chịu khi phải tiếp xúc thì có nên tiếp tục hợp đồng không?

Có lần tôi đi dịch cho một hội nghị y tế chuyên về ung thư. Thật đáng tiếc, sau năm phút tôi biết mình không kham nổi. Ban tổ chức phải lập tức điều một bác sĩ chuyên ngành ung thư, biết tiếng Anh, đến ngồi cạnh tôi. Tất nhiên bác sĩ đó không thể dịch được, nhưng khi diễn giả nói đến từ chuyên môn nào, bác sĩ giúp tôi từ tương đương bằng tiếng Việt, hoặc ngược lại bằng tiếng Anh. Sau đó chẳng bao giờ tôi còn dám phiêu lưu như vậy nữa.

Hai là, trong khi đang dịch cho một hội nghị nào đó gặp phải những lời tuyên bố mà người phiên dịch biết chắc rằng không đúng sự thật, không trung thực hoặc phương hại đến người khác thì người phiên dịch có dịch không?

Câu trả lời của chúng ta là Có. Trong mọi trường hợp người phiên dịch không có quyền hủy bỏ hợp đồng mình đã ký kết. Trong những trường hợp trên nghề phiên dịch quy định rằng người phiên dịch không chịu trách nhiệm về bất cứ nội dung phát biểu nào, miễn rằng họ dịch trung thành với diễn giả.

Sự hợp tác (Cooperation)

Trong mọi trường hợp người phiên dịch phải làm việc với một tình thần thực sự hợp tác. Trong thuật ngữ của nghề dịch có một từ gọi là team work (nghĩa đen: làm việc cùng đồng đội), ý nghĩa của nó hơi khác với nghĩa thông thường. Team work không phải là sự hợp tác giữa các phiên dịch với nhau, cũng không phai là một nhóm người làm việc đồng thời với nhau như trường hợp hai ba giáo viên cùng lên lớp để lúc thì giảng chung, lúc thì chia nhóm luyện, gọi là team teach. Khái niệm của từ này là người phiên dịch phải có tinh thần hỗ trợ người chủ trì (authority), ví dụ chủ tọa một cuộc họp, một hội nghị (chairman), một người phỏng vấn (interviewer). Có những trường hợp tuy không thường xuyên xảy ra, nhưng không phải là hiếm có. Đó là trường hợp diễn giả phát hiện ra rằng mình đã nói điều đáng ra không nên nói làm cho người nghe phản ứng không tốt, và có thể ông ta vớ lấy "cái cọc" là "đổ tội" cho người phiên dịch dịch nhầm (mis-interpreted). Trong tình huống này người phiên dịch phải sẵn sàng "làm bia đỡ đạn" (serve as a scapegoat).



Bảo vệ bí mật (Professional secrecy)

Người phiên dịch cần nhận thức rằng tất cả những ý tưởng, những sự kiện, hay nói cách khác là toàn bộ nội dung một cuộc hội đàm hoàn toàn không phải là kiến thức của mình. Bản quyền trí tuệ này thuộc về những người có liên quan trong hội nghị, hội đàm. Như vậy mình không được phép công bố ra nơi khác, không được sử dụng với bất cứ mục đích nào nếu không được phép của (các) đương sự, kể cả dùng nó như câu chuyện "làm quà" ở bất cứ nơi nào.

Trong quá trình dịch nếu phát hiện, nghe được những thông tin đặc biệt nào đó ví dụ bí mật của ngành, bí mật quốc gia, kể cả bí mật của cá nhân, hoặc những chi tiết về đời riêng của người khác, v.v. người phiên dịch phải có trách nhiệm không được làm lộ những điều đó ra ở bất cứ nơi đâu, bất cứ hình thức nào.

Sau khi dịch (After the assignment)

Sau mỗi đợt đi dịch, người phiên dịch nên dành thời gian cho chính mình, ngẫm nghĩ về đợt làm việc vừa qua. Hãy tự thưởng cho mình bằng một nụ cười trước những thành công, kể cả những thành công nho nhỏ như dịch được một thành ngữ hay, học thêm được một cách diễn đạt từ một diễn giả người Anh v.v. Đồng thời hãy nghĩ lại những giây phút lúng túng, hoặc những câu dịch sai (mà không ai biết), hoặc cách xử lý khi không nhớ hết ý của diễn giả, v.v. Có biết bao điều đáng nghĩ lạỉ.

Đó chính là quy trình tự phê (self-criticism) và tự đánh giá (self-evaluation), Những giây phút tự phê và tự đánh giá này sẽ giúp người phiên dịch định hướng tiếp theo cho công việc của mình: cần phải làm gì thường xuyên hàng ngày để nâng cao nghiệp vụ và năng lực ngôn ngữ, cần phải làm gì khi chuẩn bị cho một đợt phiên dịch mới.

REFERENCES

- AUSIT (Australian Institute for Interpreters and Translators). Code of Ethics

- AIIC (International Association of Conference Interpreters). Code of Ethics

- QATI (Queensland Association of Translator and Interpreters. Code of Ethics Fenton, Sabine. Lectures on Interpreting and Translating. Hanoi University of Foreign Languages. 1995.

- NSW Ethic Affairs Commission. CIIS (Community Interpreter and Information Service). Code of Ethics.

- University of NSW Institute of Language: Ethics of the Profession and General Rules of Interpreting

- Victoria College: Professional Ethics and Procedures for Interpreters.

- WAITI (The Western Australian Institute of Translators and Interpreters). Code of Ethics



tải về 213.57 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương