Interpreting techniques – KỸ thuật phiên dịCH


Chương 9. GIẢI THÍCH & DỊCH TÊN RIÊNG



tải về 213.57 Kb.
trang10/11
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích213.57 Kb.
#4373
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Chương 9. GIẢI THÍCH & DỊCH TÊN RIÊNG


Explanation & The Interpretation of Proper Names

... culture is different, variability, and always a potential source of conflict when one culture enters into contact with another.

(Claire Kramsch: 1)

1. Dịch các yếu tố mang hàm ý văn hóa và khái niệm chuyên ngành

Ngày nay khi nói đến sử dụng ngôn ngữ (language use) và giao tiếp (communication) người ta không chỉ nói đến bốn kỹ năng nói, nghe, đọc, viết mà còn cả trình độ hiểu biết về văn hóa của ngôn ngữ mục tiêu. Đại đa số phiên dịch người Việt là dịch Anh-Việt và Việt-Anh. Vì thế trình độ hiểu biết văn hóa ở đây chính là hiểu biết về nền văn hóa Anh (England, Scotland, Wales, và North Ireland) và Việt Nam. Phiên dịch người Việt thường chủ quan về nền văn hóa của mình. Chưa hẳn điều đó đã đúng. Chúng ta có thể biết nhiều về từ văn hóa (cutural terms), nhưng chưa hẳn đã hiểu rõ nội hàm của những thuật ngữ ấy. Chứng ta đều biết ở một số nơi người Việt có tục thờ “Ông Ba mươi”, nhưng nếu người nước ngoài hỏi “Tại sao lại thờ hổ?” thì không phải ai cũng trả lời một cách chính xác được.

Văn hóa mà chúng ta đề cập đến dưới góc độ phiên dịch không phải chỉ là những sự kiện văn hóa. Nó bao hàm một bộ phận rất quan trọng mà người phiên dịch thường xuyên phải đương đầu với, đó là những ngôn từ (từ, nhóm từ, câu) và ý tưởng (ideas) mang hàm ý văn hóa. Ví dụ: khi một diễn giả, trong bài diễn văn của mình về phong trào bảo vệ môi trường, nói rằng “nến không đốt không cháy”, thì người phiên dịch phải dịch như thế nào để gây được cảm xúc đối với người Anh giống như đối với người Việt khi nghe câu này. Ngược lại khi người Anh nói đến một quiet evening thì làm thế nào để người Việt hiểu được đó không phải là một buổi tối yên lặng.

Bary Tomaiin & Susan Stempleski cho rằng văn hóa trong sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp bao gồm ba phạm trù:

ELEMENTS OF CULTURE

PRODUCTS: literature; folklore; art; music; artefacts.

BEHAVIOURS: customs; habits; dress; foods; leisure

IDEAS: beliefs; values; institutions

Để có thể địch được trôi chảy, trung thành với diễn giả và tạo ra được cảm xúc giống nhau giữa người nghe SL cũng như TL, người phiên dịch cần biết rằng diễn giả trong lời nói của mình bao giờ cũng bộc lộ những nét văn hóa của cộng đồng sinh trưởng (cuturally-conditioned behaviour), tất nhiên những hành vi này có sự khác nhau do ảnh hưởng của lứa tuổi, giới tính, thành phần xã hội, và nơi cư trú. Vì thế người phiên dịch cần chú ý đến ngôn ngữ của diễn giả, đặc biệt là cách dùng những từ, nhóm từ mang nghĩa sắc thái do ảnh hưởng của văn hóa SL. Khi người phiên dịch nghe thấy nhóm từ như to walk one's dog thì phải hiểu rằng nhóm từ này thể hiện một thói quen (habit), một hành vi (behaviour) rất bình thường, một sự ưa thích có tính truyền thông của người Anh (nghĩa tích cực), khác với quan niệm dẫn chó đi chơi của người Việt cho rằng đó là một sự học đòi, làm ra vẻ trưởng giả (nghĩa tiêu cực). Cũng như khi người Anh gọi những người thủy thủ già hoặc những thủy thủ lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm là sea dog với một sự trân trọng, thương mến, thì người phiên dịch không thể dịch là con chó biển già vì nó sẽ tạo ra một hình ảnh bị khinh thường, chế riễu, không phải là hình ảnh của một thủy thủ lão thành.

Ngoài ra còn rất nhiều trường hợp người phiên dịch gặp phải những thách thức về khái niệm chuyên ngành khi dịch cho các hội thảo (workshops), chuyên đề (seminars), nhưng đối tượng nghe không phải đều là các chuyên gia thuộc chuyên ngành đó, ví dụ hội thảo về bảo vệ môi trường cho thanh niên hoặc cho sinh viên trong các trường đại học nói chung.

Trong quy trình được đào tạo người phiên dịch cần tạo cho mình một thái độ ham hiểu biết, hứng thú, tò mò về nền văn hóa TL (intellectual curiosity about the target culture). Có như thế, khi dịch người phiên dịch mới nhanh chóng nhận biết ngôn từ diễn giả dùng có mang hàm ý products, ideas, behaviours của SL không, rồi từ đó tìm kiếm phương thức chuyển dịch. Chuyển dịch không có nghĩa phải luôn luôn tìm được tương đương (equivalents) giữa SL và TL. Rất nhiều trường hợp phải viện đến một kỹ thuật có hiệu quả, đó là kỹ thuật explanation.

“… * trong dịch đuổi, người phiên dịch có thể gặp những khái niệm, những thuật ngữ văn hóa và thiết chế, vân vân …, không có tương đương trực tiếp trong ngôn ngữ mục tiêu, và do đó cách tốt nhất là giải thích cho thính giả hiểu.”

*…as in consecutive, interpreters may be faced with notions, cultural and institutional references, and so on, that have no direct equivalent in the target language, and which ideally should therefore be explained to the audience.”

Khi dùng kỹ thuật explanation người phiên dịch cần phải thận trọng ở chỗ nó phải thích hợp với thính giả. Trong một hội nghị của các bác sĩ tim mạch mà người dịch lại giải thích endocarditis (bệnh viêm màng tim) là gì, trong hội thảo của các nhà văn hóa thế giới mà người phiên dịch lại giải thích ý nghĩa của cultural landscape (cảnh quan văn hóa) là gì, trong hội thảo về Phật giáo người phiên dịch giải thích Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi là gì,... thì thật là coi thường thính giả quá mức.

Kỹ thuật explanation thường chỉ dùng để dịch + giải thích nội dung của những từ, nhóm từ hoặc câu mang đậm nội dung văn hóa đặc thù của một nền văn hóa, hoặc một khái niệm chuyên ngành sâu nào đó mà những người sống ngoài nền văn hóa hoặc người ngoài ngành chuyên môn đó khó có thể hiểu được.

Ví dụ: lollipop lady/man (một người, đàn ông hoặc đàn bà, do nhà trường trả lương làm nhiệm vụ giúp học sinh qua đường ra vào trường trong những giờ đến trường hoặc tan học, người đó cầm biển có đề STOP - CHILDREN). Hình ảnh người cầm cây gậy này trông giống như chiếc kẹo mút nên có từ này. Trong tiếng Việt không có từ tương đương.

Hoặc nhiều từ chỉ tên các loại trường học ở Vương Quốc Anh như grammar schools, voluntary schools, v.v. cũng vậy.

Ngược lại nếu trong bài diễn văn của diễn giả Việt Nam có đề cập đến nhóm từ ba khoan (three delays movement) mà người dịch không giải thích rằng đó là phong trào do Đoàn Thanh niên Cộng sản phát động trong thời chiến (những năm 1960); ba khoan là: chưa yêu, khoan yêu; yêu rồi, khoan cưới; và cưới rồi, khoan đẻ, thì từ đó thật là mơ hồ đối với ngay cả thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay, chứ kể gì người nước ngoài.

Ở một bình diện khác, người dịch thường hay phải đối mặt với những khái niệm (notions), hiện tương văn hóa (cultural references),... không có tương đương trong TL, phải dịch theo cách giải thích để thính giả có thể hiểu được. Tuy nhiên người dịch không được chiếm dụng nhiều thời gian để giải thích. Do đó, đối với những từ mang khái niệm khó hiểu được sử dụng nhiều lần trong bài nói của diễn giả, người phiên dịch thường giải thích một lần rồi sau đó đặt cho nó một từ nói tắt, và sử dụng từ đó như một từ tương đương. Kỹ thuật dịch + giải thích chỉ ứng dụng khi thính giả không phải là người chuyên ngành, hoặc từ đó là từ mới đối với một cộng đồng. Chẳng hạn khi diễn giả nói đến rau sạch người phiên dịch có thể giải thích đó là loại rau không tưới phân, tưới chất hóa học, v.v. rồi từ đó cùng từ c.veg. khi dịch Việt-Anh; hoặc nông nghiệp hữu cơ đầu tiên dịch giải thích là canh tác nông nghiệp không sử dụng phân bón được sản xuất từ hóa chất hoặc phân người, không sử dụng chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu nguy hiểm còn dư lại trong đất trồng trong một thời gian dài và những tích lũy trong cơ thể động vật, và từ đó nếu dịch Việt-Anh thì dùng từ viết tắt OrgA, nếu dịch Anh-Việt thì dùng từ viết tắt NNHH hoặc thậm chí NH.

Kỹ thuật giải thích thực sự nâng cao chất lượng lời dịch và tạo không khí thông suốt giữa các đại biểu hội nghị hoặc các bên làm việc với nhau.



Exercise 1: Sau đây là một đoạn trong bài nói chuyện của một chuyên gia giao thông người Anh. Bạn phải dịch đoạn này cho thính giả người Việt. Có yếu tố nào cần phải giải thích không?

The realisation of the environmental and social damage of the high level of car use, has resulted in strategies to reduce it by changing behavioural patterns and promoting public transport alternatives. The Government, in response to these problems, published “A new deal for transport better for everyone”, a White Paper in the summer of 1998, setting out a strategy to boost public transport use and reduce people's dependence on cars.

Chú thích:

White Paper là tài liệu công bố những báo cáo chính thức của Chính phủ, giải thích những ý tưởng và kế hoạch mới của Chính phủ có liên quan đến một vấn đề quan trọng trước khi đưa ra trình Nghị viện một luật mới.



Exercise 2: Sau đây là một đoạn trong bài nói chuyện của một quan chức trong ngành bóng đá người Anh sang thăm Việt Nam. Bạn phải dịch đoạn này cho thính giả người Việt. Có yếu tố nào cần phải giải thích không?

The image of British, primarily English, football was severely tarnished by the problem of hooliganism which became evident in the 1960's, peaking in the 1970s/mid-1980s.

Violent and abuse behaviour both at domestic matches and those involving English teams abroad became a defining feature as the game's health declined, especially off the pitch.

Thực ra từ “hooligan'” nhiều người đã từng nghe thấy nhưng không phải nhiều người hiểu rõ nó là gì. Nếu chỉ dịch là thói du côn, thói côn đồ thì chưa rõ nghĩa trong tình huống này. Người phiên dịch nên nói vài lời cho rõ nghĩa hơn.

* Chú thích:

hooligan: người phá phách một cuộc chơi, gây đối kháng, tạo ra những xung đột bạo lực khi có những mâu thuẫn về sự ủng hộ đội này đội kia, hoặc giữa những người hâm mộ (fans) của các câu lạc bộ bóng đá khác nhau. Đây là hiện tượng nổi tiếng, làm xấu đi hình ảnh bóng đá nước Anh một thời:

hooliganism: hiện tượng, trào lưu, xu hướng nói trên.

Exercise 3: Sau đây là một đoạn trong bài nói chuyện của một bạn trẻ người Anh sang thăm Việt Nam. Bạn phải dịch đoạn này cho thính giả người Việt. Có yếu tố nào cần phải giải thích không?

The Outward Bound Trust runs a wide range of adventure courses and expeditions. Some are based at the Trust residential locations, while others involve adventurous journeys through some British wildest and most dramatic country. The courses offer the participants the chance to take part in challenging experience, including rock-climbing, and sailing. Prince Philip calls these schemes "a do-it-yourself kit in the art of civilised living".

Chú thích: Có hai yếu tố không quen thuộc với cộng đồng người Việt. Đó là:

Outward Bound Trust: Đây là tổ chức thanh niên nhằm phát huy tính năng động của tuổi trẻ, tôi luyện ý chí, rèn luyện tuổi trẻ những kỹ năng cần thiết để đối mặt với thiên nhiên; phát huy tính độc lập sáng tạo trong cuộc sống ngoài trời, huấn luyện tuổi trẻ tham gia những trò chơi, những môn thể thao thích hợp với tuổi trẻ.

do-it-yourself: đây là nhóm từ rất quen thuộc với người Anh. Ở Anh có những cửa hàng gọi là ĐIY (viết tắt của do-it-yourself) cho thuê dụng cụ gọi là DIY kits để bạn mang về nhà làm việc gì đó. Ví dụ bạn muốn đóng bàn ghế ở nhà, hãy thuê một DIY kit dùng cho thợ mộc. Tại cửa hàng này bạn có thể thuê từ một cái kìm cho đến một bộ đồ đầy đủ.

Nếu chỉ dịch từng từ Outward Bound Trust là Câu lạc bộ hoạt động ngoài trời, và Do-it-yourself kit là bộ dụng cụ tự làm thì rất khó hiểu và dễ gây hiểu lầm.



Exercise 4: Trong một cuộc nói chuyện giáo dục quần chúng ý thức bảo vệ môi trường, diễn giả có nói như sau:

The earth is warmed by the ''greenhouse effect". Without it there would be no life on earth. However activities as the burning of coal and other fossil fuels are leading to a built-up of greenhouse gases in the atmosphere, so that the climate of the earth could be seriously affected.

Nếu bạn phải dịch đoạn này cho thính giả không phải chuyên viên về môi trường thì có gì cần thêm giải thích?

Chú thích:

Nếu chỉ dịch greenhouse effect là hiệu ứng nhà kính thì không phải những người không chuyên ngành ai cũng hiểu nội hàm của nó.

greenhouse effect: hiện tượng tăng nhiệt độ không khí do sử dụng quá nhiều carbon dioxide trong không khí làm cho nó giữ lại nhiệt độ của mặt trời vượt quá mức cần thiết.

Exercise 5: Trong một bài nói chuyện về hệ thống giáo dục ở Anh chúng ta thấy có rất nhiều tên các loại trường rất xa lạ với hệ thống của Việt Nam. Khi nói chuyện, thường diễn giả chỉ nói đến tên loại trường chứ không giải thích. Nếu người phiên dịch không chêm một vài câu giải thích, thính giả (trừ những chuyên gia giáo dục) sẽ rất khó hiểu. Chúng ta nghe đoạn sau đây.

Over 90% of pupils go to publicly-funded schools, usually known as state schools. In most areas children aged 5 to 10 attend primary schools, and move on to secondary schools at age 11 for education up to 16 or beyond.

The size of infant classes has been steadily falling towards the target size of 30 pupils. Classes in secondary schools are smaller, with an average pupil: teacher ratio of 18:1.

Within the state schools system in England and Wales there are a number of categories of schools: community schools, voluntary schools, foundation schools.

Independent schools or public schools (the older established ones), are not funded by the state and obtain most of their finances from fees paid by parents and income from investments.

Chú thích:



community schools: wholly owned and maintained by Local Education Authority (LEAs)

voluntary schools (voluntary aided schools and voluntary-controlled schools): provided by voluntary bodies, mainly churches or bodies associated with churches. They are financed and maintained by LEAs but the assets of the schools are held and administered by trustees.

foundation schools: financed and maintained by LEAs with the assets of the schools held by the governing body or by a charitable foundation, independent schools or public schools are known as private schools.

2. Dịch tên riêng

Phiên dịch Việt Nam trong khi dịch thường hay lúng túng khi gặp phải tên riêng, đặc biệt là trong phần giới thiệu đại biểu của một hội nghị.

Mỗi nước tên riêng có một đặc thù riêng và nhìn chung đây là những yếu tố không thể dịch được (untranslatable), và không nên dịch (not to be translated). Không có một phiên dịch nào lại dịch Mr Home là Ông Nhà. Peter Newmark (1982: 70) chia tên riêng thành năm loại hình: tên riêng (người, con vật, đồ vật, v.v.) (proper names), tên gọi các thiết chế lịch sử (historical institutional terms), tên gọi các tổ chức quốc tế (international institutional terms), tên gọi các thiết chế của một quốc gia (national institutional terms); và tên gọi của một sự kiện, hiện tượng văn hóa (cultural terms).

Có một trường hợp phổ quát đòi hỏi phải dịch tên riêng, đó là tên các nhân vật trong các truyện cổ tích, chuyện dân gian vì những loại chuyện này rất phổ biến trong trẻ em trên toàn thế giới. Trẻ Việt có Cô bé quàng khăn đỏ, thì trẻ Anh có “The Red Riding Hood”, trẻ Việt có Nàng Bạch Tuyết, Cô bé Lọ Lem, v.v. thì trẻ Anh có Snow White, Cinderella, v.v.

Ngoài ra những tên riêng, và những tên mang hàm ý văn hóa là những yếu tố không nên dịch, trừ những trường hợp đã có sự chuyển dịch từ lâu đời và trở thành một tên quen thuộc trong cộng đồng TL. Ví dụ trong tiếng Việt có một số tên riêng Châu Âu đã được phiên âm theo tiếng Hán -Việt từ lâu đời như Ý (Ý Đại Lợi: Italy), Luân Đôn (London), v.v. Không phải tên riêng Châu Âu nào cũng được người Việt chấp nhận âm Hán-Việt, như Nã Phá Luân (Napoleon), Thạch Sĩ Bia (Shakespeare), Phú Lang Sa (Pháp), v.v. Tuy nhiên có những tên tuy quen dùng, nhưng người bản xứ trong quan hệ ngoại giao không vừa ý, người dịch cũng nên tránh dùng. Ví dụ ta nên dùng Ôxtrâylia hơn là Úc, Mê Hi Cô hơn là Mếch Xi Cô, ít-ta-lia hơn là Ý.

Về tên các nhân vật lịch sử, nhiều tên cũng có thể dịch một bộ phận, khi bộ phận tên đó thể hiện một chức năng hay một hiện tượng, hay một hình ảnh tôn vinh, v.v. Ví dụ ta thường gọi Richard, the Lion Heart là Richard Sư tử Tâm. Đối với những tên lạ, nhất là tên người của những nước như Trung Quốc, Ả Rập, Châu Phi, Nam Mỹ, v.v thường phiên dịch Việt Nam không thể biết được cách viết những tên đó, đồng thời quên rất nhanh, nghe xong có thể quên ngay. Vì thế cần ghi chép tên riêng, nhưng đừng nên quan tâm đến chữ viết, mà ghi lại theo kiểu phiên âm (to note phonetically), nghe như thế nào ghi âm như thế.. Ví dụ Mc Carthy (Anh/Mỹ) = Macathi, Litipét (Trung Quốc), Munsung Kang (Hàn Quốc), Láckhơđa Brahimi (Afghanistan), v.v.

Đối với những tên nhãn hiệu trình tòa (trade marks) người dịch nên giữ nguyên và đọc theo kiểu phiên âm, ví dụ như những tên thuốc, tên một số đồ dùng như máy giặt Ê lếch trô lắc (Electrolux), thuốc Nếch xi um (Nexium). Nếu nó có một từ viết tắt (acronym) thì sử dụng từ này, nếu không vẫn phải sử dụng tên đầy đủ của nó, ví dụ nhãn hiệu áo Panther không thể dịch là áo báo.

Tên một số tổ chức quốc tế thông thường đã được dịch ra TL, trở thành một tên riêng trong hệ thống TL, nhưng khi sử dụng tên viết tắt thì không nên dịch ra TL rồi dùng cách viết tắt của TL. Ví dụ: World Bank nên dịch là tổ chức Ngân hàng Thế giới, nhưng khi dùng tên viết tắt thì phải là WB, chứ không nên dùng NHTG, International Monetary Fund nên dịch là Quỹ Tiền tệ Quốc tế, và từ viết tắt là IMF, không nên dùng QTTQT, Cũng như vậy tên các tổ chức Việt Nam nên dịch ra tiếng Anh và dùng nó như một tên riêng khi dịch từ Việt sang Anh, ví dụ: Bộ Xây Dựng dịch là Ministry of Construction. Tuy nhiên có một điều khác là tên viết tắt của những tên riêng này thường lại dùng cách viết tắt của Anh, ví dụ: MOC (Ministry of Construction: Bộ Xây dựng), MOET (Ministry of Education and Training:BỘ Giáo dục & Đào tạo). Trong những trường hợp này không có một quy định có tính chất chính thông nào. Các tên đó thường là do một nhóm làm dự án, hoặc một tổ chức dịch thuật nào đó đưa ra và trở thành một tên riêng.

Tuy nhiên khi tên thiết chế này kèm theo một tên riêng như Trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm thì chỉ dịch tên chức năng còn tên riêng giữ nguyên (Đoàn Thị Điểm Primary School).

Tên những yếu tố mang nặng đặc thù văn hóa của một dân tộc, như món ăn đặc thù bánh tôm, nem, bún thang, kẹo mè xửng, v.v. của Việt Nam không nên dịch mà dùng kỹ thuật phiên âm và giải thích (explanation), cũng như món haggis của Scotland không nên dịch là món dạ dày cừu nhồi. Nhóm từ này chỉ nên dùng để giải thích, haggis -ha- git (dạ dày cừu nhồi), hoặc món powsowdie = pao-sâu-đai (đầu cừu hầm), hai món rất đặc trưng trong Hội thơ Burns'Night (25 tháng Giêng hàng năm), kỷ niệm ngày sinh của thi sĩ nổi tiếng người Scotland Robert Bums. Những thuật ngữ văn hóa khác cũng không nên dịch, ví dụ tên bài hát cổ kính đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Anh nhứ Auld lang syne (có nghĩa đen là old long since), bài hát lúc giao thừa hàng năm.

Nhìn chung đối với các tên riêng chúng ta không nên dịch. Kỹ thuật chủ yếu sử dụng trong bình diện này là kỹ thuật phiên âm (transcription). Người phiên dịch cần có cái tai ngữ âm nhạy bén, sẵn sàng bắt (và nhớ) âm của các tên riêng để khi dịch có thể nhắc lại chúng gần sát với cách phát âm của bản ngữ.

Tất nhiên còn nhiều trường hợp phức tạp khác đã được Peter Newmark đề cập đến và đưa ra giải pháp. (Chi tiết xem Peter Newmark, 1982: 70-83)

REFERENCES

- Foreign and Commonwealth Office. Britain and the World Environment.

- Foreign and Commonwealth Office. Education and Training in the United Kingdom.

- Foreign and Commonwealth Office. Football in the UK.

- Foreign and Commonwealth Office. Transport in Britain -Foreign and Commonwealth Office. Young People in Britain.

- Kramsch, Clair (1993). Context and Culture in Language Teaching. OUP.

- Peter Newmark (1982). Approaches to Translation. Pergamon Press.

- Tomalin, Barry & Susan Stempleski (1993). Cultural Awareness. OUP.





tải về 213.57 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương