I.Đề tài : MỘt số biện pháp giúp học sinh lớP 4 HỌc tốt môn chính tả II. Đặt vấn đề



tải về 164.27 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu03.08.2018
Kích164.27 Kb.




I.Đề tài :

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4

HỌC TỐT MÔN CHÍNH TẢ

II. Đặt vấn đề :

Môn chính tả là một phân môn học có vị trí quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt là rèn luyện và phát triển năng lực tiếng mẹ đẻ cho học sinh trong đó có năng lực viết chữ. Môn chính tả còn là môn học công cụ giúp cho học sinh học tốt những môn học khác.

Tuy nhiên trong thực tế, đa số học sinh lớp 4 còn viết sai chính tả rất nhiều. Có những học sinh trong một bài chính tả viết sai hơn 10 lỗi. Khi chấm bài tập làm văn của một số em tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết quá nhiều lỗi chính tả. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập môn Tiếng Việt cũng như những môn học khác của học sinh.

Từ thực tế, qua hai năm theo dõi trong khối và trực tiếp đứng lớp giảng dạy tôi đã chọn đề tài: Một số biện pháp giúp HS lớp 4 học tốt môn Chính tả.”. Nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả ở trường Tiểu học.



III. Cơ sở lí luận :

Chính tả là phân môn nhằm rèn cho học sinh kĩ năng viết, nghe, đọc và làm các bài tập chính tả, rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Kĩ năng chính tả thực sự cần thiết không chỉ đối với học sinh tiểu học mà còn với tất cả mọi người. Khi đọc một văn bản viết đúng chính tả, người đọc có cơ sở để hiểu đúng nội dung văn bản đó. Trái lại, một văn bản mắc nhiều sai sót về chính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu đầy đủ văn bản. Viết chính tả đúng còn giúp học sinh học tốt các phân môn khác, là cơ sở cho việc học bộ môn Tiếng Việt ở tiểu học. Chính tả còn bồi dưỡng cho học sinh một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như: cẩn thận, chính xác, óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm.



IV. Cơ sở thực tiễn :

Năm học 2016 – 2017, tôi được phân công phụ trách lớp 4B Trường tiểu học Nguyễn Văn Bổng. Hầu hết học sinh lớp tôi đều là người địa phương nên các em phát âm sai quá nhiều. Các em còn viết theo sự phát âm của mình nên dẫn đến viết sai chính tả..

- Học sinh thường mắc các lỗi phổ biến là các tiếng có vần :

en / ăn / eng / ăng

am / om ; ân / âng

un / uôn / uông

- Hoặc tiếng có phụ âm đầu là: c / k; s / x; gi / d; ng / ngh; g / gh.

- Các tiếng có phụ âm cuối c / t; n / ng.

- Thanh hỏi và thanh ngã.

- Bên cạnh đó còn một số em chưa nắm được cách ghép âm, vần nên dẫn đến các em viết sai chính tả rất nhiều.

* Qua theo dõi các bài viết đầu năm, kết quả phân môn chính tả thống kê như sau:


TSHS

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

Dưới 5

34

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

12

35.3

10

29.4

5

14.7

7

20.6

Với tình hình thực trạng của lớp như vậy, bản thân tôi luôn suy nghĩ, đầu tư tìm tòi tài liệu và áp dụng những biện pháp sau nhằm giúp học sinh lớp mình học tốt môn chính tả.

V. Nội dung nghiên cứu :

1. Thống kê, phân loại các lỗi chính tả mà học sinh mắc phải:


Lỗi chính tả của HS rất đa dạng nhưng có thể chia làm 4 loại lỗi như sau:

1.1. Về âm đầu:


Học sinh thường viết lẫn lộn một số chữ ghi âm đầu s/x; ng/ngh/g. Cụ thể:

Bài: DẾ MÈN BÊNH VỰC KẺ YẾU

cỏ xước/ cỏ sước

gần/ghần


Bài: MƯỜI NĂM CÕNG BẠN ĐI HỌC

dữ/giữ


nghị/ngị

Bài: THẮNG BIỂN

gió/dó


rộng/dộng

Bài: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

sao/xa


kính/cính

Bài: AI ĐÃ NGHĨ RA CÁC SỐ 1, 2, 3, 4,...?

nghĩ  ngĩ



Bài: ĐƯỜNG ĐI SAPA

sau  xau

lá  ná


Bài: NGHE LỜI CHIM NÓI

say  xay

nghe  nge


Bài: VƯƠNG QUỐC VẮNG NỤ CƯỜI

sáng  xáng

sỏi  xỏi


Bài: NGẮM TRĂNG KHÔNG ĐỀ

soi  xoi

sâu  xâu




1.2. Về âm chính:


Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi các âm chính và các âm đệm trong các vần sau: iu/iêu/êu; ap/ăp/âp; um/uôm; ưu/ươu; ui/uôi; ong/ông;... Cụ thể:

Bài: DẾ MÈN BÊNH VỰC KẺ YẾU

gục đầu/gộc đầu

mỏng/mổng

chùn chùn/ chuồng chuồng

cuội/cụi


Bài: MƯỜI NĂM CÕNG BẠN ĐI HỌC

đoàn/ đàn

câu chuyện/ câu chiện

cõng/ cỗng



Bài: THẮNG BIỂN

sóng/sống

khoảng/khảng

muốn/mún


Bài: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

tiểu/tểu


suốt/sốt

Bài: AI ĐÃ NGHĨ RA CÁC SỐ 1, 2, 3, 4,...?

vương/vưng

tiếp/típ


Bài: ĐƯỜNG ĐI SAPA

thoắt/thoát

hoa/hao


Bài: NGHE LỜI CHIM NÓI

khiết  khít

chim  chiêm


Bài: VƯƠNG QUỐC VẮNG NỤ CƯỜI

nhịp  nhiệp

triều  trìu


Bài: NGẮM TRĂNG KHÔNG ĐỀ

rượu  riệu, rựu

bương  bưng


Bài: NÓI NGƯỢC

lông  long

đuổi  đủi

1.3. Về âm cuối:


Học sinh thường viết sai chữ ghi các âm cuối như: n/ng/nh; t/c; m/n; nh/n;... Cụ thể:

Bài: DẾ MÈN BÊNH VỰC KẺ YẾU

mặc/mặt


xước/xướt

tảng/tản


Bài: MƯỜI NĂM CÕNG BẠN ĐI HỌC

vượt/vược

quảng/quản


Bài: THẮNG BIỂN

muốn/muống

điên/điêng


Bài: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

buồng/buồn; ngừng/ngừn



Bài: AI ĐÃ NGHĨ RA CÁC SỐ 1, 2, 3, 4,...?

văn  văng

tiếp  tiếc


Bài: ĐƯỜNG ĐI SAPA

thoắt  thoắc; hẩy  hâỉ

những  nhữnh; hoa  hao, ho

đất  đấc



Bài: NGHE LỜI CHIM NÓI

rừng  rừn

khiết  khiếc


Bài: VƯƠNG QUỐC VẮNG NỤ CƯỜI

mặt  mặc; vườn  vường



Bài: NGẮM TRĂNG KHÔNG ĐỀ

bàn  bàng

dắt  dắc; vườn  vường


Bài: NÓI NGƯỢC

nuốt  nuốc

biết  biếc

1.4. Về thanh điệu:


Tiếng Việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã) thì học sinh thường viết lẫn lộn giữa thanh hỏi với thanh ngã. Cụ thể như sau:

Bài: DẾ MÈN BÊNH VỰC KẺ YẾU

điểm/điễm

mở/mỡ


Bài: MƯỜI NĂM CÕNG BẠN ĐI HỌC

quản/quãn;cõng/ cỏng



Bài: THẮNG BIỂN

đã/đả


khoảng/khoãng

Bài: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

cánh/cành; nữa/nửa



Bài: AI ĐÃ NGHĨ RA CÁC SỐ 1, 2, 3, 4,...?

chữ  chử; phải  phãi;bảng  bãng



Bài: ĐƯỜNG ĐI SAPA

hẩy  hẫy

quả  quã


Bài: NGHE LỜI CHIM NÓI

ngỡ  ngở



Bài: VƯƠNG QUỐC VẮNG NỤ CƯỜI

khủng  khũng; trẻ  trẽ

sỏi  sõi


Bài: NGẮM TRĂNG KHÔNG ĐỀ

cũng  củng

hững  hửng; cửa  cữa


Bài: NÓI NGƯỢC

đuổi  đuỗi

cửa  cữa


Tuy nhiên bên cạnh các em mắc lỗi chính tả vẫn còn 1 số em viết rất tốt, chữ đẹp, không sai lỗi chính tả. Ngoài các lỗi sai phổ biến thường gặp, học sinh thường hay mắc lỗi này khi viết tên riêng chỉ tên người, tên địa lý, tên riêng nước ngoài, nhất là học sinh yếu, nếu không được giáo viên nhắc nhở khi đang viết chính tả thì khó có thể viết đúng được.

2/ Nguyên nhân mắc lỗi :

Đa số là do học sinh đọc và phát âm chưa chính xác vì do phương ngữ phát âm của mỗi vùng miền khác nhau, do học sinh chưa hiểu được nghĩa của từ và chưa nắm được những quy tắc viết chính tả.

- Học sinh chưa nắm được một số quy tắc viết chính tả Tiếng Việt .

- Học sinh chưa cẩn thận trong khi viết bài còn viết hoa hoặc không viết hoa tuỳ thích.



3/ Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 4 :

Biện pháp 1: Luyện phát âm:

- Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho đúng, rõ để học sinh dễ phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, âm thế nào, chữ ghi thế ấy.

- Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong các tiết học khác.

- Với những học sinh đọc yếu thì thường viết chính tả sai nhiều. Trong giờ Tập đọc, tôi rèn cho các em luyện phát âm hoặc cho đánh vần những từ, tiếng các em đọc sai. Sau đó, giáo viên giao việc ở nhà cho học sinh là tập đọc một đoạn nào đó và viết đoạn đó vào vở. Hôm sau, học sinh đem lên lớp cho giáo viên hoặc tổ trưởng kiểm tra vào 10 phút truy bài đầu giờ.

- Với những HS có vấn đề về phát âm như nói ngọng, nói lắp..., giáo viên lưu ý học sinh chú ý nghe cô phát âm để viết cho đúng. Vì vậy, giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh yếu viết đúng chính tả.

Biện pháp 2: Phân tích, so sánh:

- Song song với việc phát âm, giáo viên cần áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo của tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ khi thực hiện viết chính tả.

Ví dụ: Khi viết tiếng “mặc” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “mặt”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

- mặc: m+ ăc + thanh nặng (mặc áo, mặc dù, mặc kệ,...)

- mặt: m + ăt + thanh nặng (mặt người, mặt trời, mặt đất,...)

So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “mặc” có vần “ăc”, tiếng “mặt” có vần “ăt”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai.



Biện pháp 3: Giải nghĩa từ:

- Biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ. Muốn viết đúng chính tả thì học sinh phải hiểu nghĩa của từ chính xác.Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc, ... nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả, khi mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng.

- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh. Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu vì nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ.

Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên

* Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái chiêng hoặc miêu tả đặc điểm: chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh bằng dùi, âm thanh vang dội.

* Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên (VD: Mẹ đang chiên cá), hoặc giải thích bằng định nghĩa: chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức ăn vào dầu, mỡ sôi.

- Đối với những từ có chứa tiếng cũ mà nghĩa của từ đó có nghĩa là cổ xưa thì tiếng cũ đó được viết bằng thanh ngã.

Ví dụ : bạn cũ, cũ kĩ, cũ rích, năm cũ, đồ cũ, sách cũ, ...

- Đối với những từ có chứa tiếng củ mà nghĩa của từ đó có nghĩa là củ quả thì tiếng củ đó được viết bằng thanh hỏi.

Ví dụ: củ khoai, củ chuối, củ cải, cải củ ...

- Đối với những từ có chứa tiếng nghĩ mà nghĩa của từ đó có nghĩa là nói lên ý nghĩ thì tiếng nghĩ đó được viết bằng thanh ngã.

Ví dụ : Suy nghĩ, nghĩ ngợi, nghĩ bụng, lo nghĩ, ngẫm nghĩ, ý nghĩ,...

- Đặc biệt, với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa của từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ.

Biện pháp 4: Ghi nhớ mẹo luật chính tả:

Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối nhiều từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách hữu hiệu. Có rất nhiều mẹo luật chính tả, nhưng đối với học sinh lớp 4, giáo viên cần giúp học sinh ghi nhớ một số mẹo luật chính tả đơn giản như:

-Viết âm đầu gh khi sau nó là i, ia, iê, ê, e (Ví dụ: ghi, ghế,...), viết g trong các trường hợp còn lại (Ví dụ: gà, gọn, gần, gắn...).

- Viết âm đầu ngh khi sau nó là i, ia, iê, ê, e (Ví dụ: nghĩ, nghề, nghiêng, nghe...), viết ng trong các trường hợp còn lại (Ví dụ: người, ngành, ngắm, ngoan, ngân...).

- Viết âm đầu k khi sau nó là i, ia, iê, ê, e (Ví dụ: kiến kẻ,...). Viết q khi sau nó là âm đệm u (Ví dụ: quả, quyết, quẻ, quê,...), viết c trong những trường hợp còn lại (Ví dụ: cá, con, cuộn, cười,...).

- Viết i đối với các âm bắt đầu bằng h, k, l, m, t (Ví dụ: kỉ luật, hi sinh, tỉ mỉ, li lẽ; ...).

- Để phân biệt âm đầu s / x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s

Ví dụ như : cây sả, cây sồi, cây sứ, cây sắn, cây sậy, cây sặt, sầu đâu, sầu riêng, cây sim, cây sếu, cây si, ...con vật như con sán, con sâu, con sên, con sò, con sếu, con sóc, con sói, con sứa, con sáo sậu, con sư tử, con sơn dương, ...

- Luật hài thanh: ngang/sắc/hỏi - huyền/ngã/nặng:

Để khắc phục trường hợp lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã, trong các từ láy tiếng Việt, nếu một trong hai tiếng mang thanh huyền hoặc thanh nặng thì tiếng còn lại mang thanh ngã, nếu một trong hai tiếng mang thanh không(thanh ngang) hoặc thanh sắt thì tiếng còn lại mang thanh hỏi. Để ghi nhớ điều này, học sinh chỉ cần thuộc câu thơ lục bát sau:

“ Chị Huyền mang nặng ngã đau

Anh không sắc thuốc hỏi đâu mà lành”.

Ví dụ: vồn vã, vất vả, sẵn sàng, vẽ vời, dữ dội, đẹp đẽ, lạnh lẽo,...

- Viết sai do không phân biệt s/x, có thể sử dụng:

+ Mẹo âm đệm trong các từ có âm đệm thì viết x, trừ từ suyễn, suy, súy, soát (lục soát, soát vé).

+ Mẹo từ láy trong các từ láy âm đầu, cà hai tiếng cùng x hoặc cùng s (VD: xa xôi, sạch sẽ,..). Còn từ láy vần lại thường là x (VD: lao xao, loăn xoăn,...)

Ngoài ra, việc chuẩn bị bài ở nhà của các em cũng không kém phần quan trọng, giúp giáo viên và học sinh tiết kiệm và đỡ mất thời gian trên lớp.

Ví dụ: Sau khi các em chuẩn bị bài ở nhà, lên lớp giáo viên chỉ cần nghe học sinh báo cáo những từ nào khó viết, dễ lẫn lộn và hay viết sai. Các em chỉ cần nêu, giáo viên tổng hợp và giúp các em giải quyết. Các em sẽ nhớ lâu hơn và ít viết sai.

Yếu tố quan trọng nữa là: Sau khi viết bài, nếu học sinh viết sai chữ nào, giáo viên cần cho các em viết lại từ có chữ đó và phân tích nhiều lần để các em nhớ.

- Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: gập ghềnh, công kênh, khấp khểnh, bấp bênh, chông chênh, lênh khênh, bập bềnh, chệnh choạng,...

- Hầu hết các từ tượng thanh đều có tận cùng là ng hoặc nh: đùng đoàng, đoàng đoàng, oang oang, huỳnh huỵch, sang sảng, lẻng kẻng, đùng đùng, thùng thùng, thình thịch, xập xình, oăng oẳng, ằng ặc, lẻng xẻng, ...

- Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân.

- Vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ: ngoằn ngoèo, khoèo chân.

Biện pháp 5 : Chọn bài tập chính tả.

- Trong các bài tập chính tả hầu hết đều yêu cầu chúng ta chọn một trong hai câu của bài tập. Giáo viên nên chú ý chọn những bài tập nào mà học sinh mình dễ mắc lỗi để hướng dẫn học sinh làm .

Ví dụ : Khi dạy bài chính tả (nghe-đọc) Những hạt thóc giống ở bài tập 2 là điền vào chỗ trống :

a): l hay n ? b): dấu hỏi hay đấu ngã ?

Đối với học sinh miền Trung thì thường không mắc lỗi l/n mà rất hay mắc lỗi hỏi/ngã nên giáo viên cần chọn câu b để hướng dẫn học sinh làm bài.

VI) Kết quả nghiên cứu :

Từ những biện pháp trên, tôi đã thực hiện áp dụng vào trong giảng dạy trong suốt hơn học kỳ I vừa qua, bản thân tôi đã thấy phần mắc lỗi chính tả của học sinh giảm đi khá nhiều. Đa số học sinh đã viết đúng chính tả , tình trạng học sinh không viết hoa danh từ riêng, chữ cái đầu câu hoặc viết hoa tuỳ tiện rất ít xảy ra.

* Cụ thể kết quả phân môn chính tả của lớp tôi đạt được như sau:


Kết quả

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

Dưới 5

Các bài viết đầu năm

35.3%

29.4%

14.7%

20.6%

Giữa học kỳ I

38.2%

26.5%

26.5%

8.8%

Cuối học kỳ I

41.2%

23.5%

32.4%.

2.9%

VII. Kết luận :

Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Tuy nhiên vận dụng có hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào khả năng truyền đạt của người giáo viên và sự chăm chỉ học tập của học sinh. Để học sinh đạt được kết quả cao trong học tập, ngoài kinh nghiệm giảng dạy, người giáo viên phải luôn luôn theo dõi những tiến bộ trong học tập của học sinh, qua đó kịp thời cải tiến, điều chỉnh hoạt động dạy cho có hiệu quả hơn. Điều quan trọng là với lương tâm và trách nhiệm, trí tuệ và tâm huyết, mỗi người giáo viên cần biết tự rèn luyện, tự học tập, tự sáng tạo để trở thành tấm gương sáng cho thế hệ trẻ phấn đấu và rèn luyện, xứng đáng với niềm tin của nhân dân, góp phần trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo.

Với kinh nghiệm ít ỏi tích lũy được trong thực tế giảng dạy của bản thân, tôi rất mong nhận sự góp ý, giúp đỡ của đồng nghiệp để rút kinh nghiệm trong việc giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngày càng đi lên.

VIII. Đề nghị : Đối với nhà trường.

 - Nên mở nhiều buổi chuyên đề, đối với phân môn chính tả.

- Nên nhân rộng những tiết hội giảng (môn chính tả) đạt kết quả cao để giáo viên khác học tập.

Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã tích góp được trong quá trình giảng dạy phân môn Chính tả. Xin chia sẻ và mong được  sự góp ý chân thành của cấp trên và đồng nghiệp để đề tài có tính khả thi cao hơn.






Đại lãnh , ngày 15 tháng 2 năm 2017

Người thực hiện
Nguyễn Thị Phương


IX.Tài liệu tham khảo :

1/Vở Thực hành chính tả lớp 4 (tập 1, tập 2).

2/Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 (tập 1, tập 2)

3/Từ điển chính tả Tiếng Việt - Nhà xuất bản Giáo dục .

4/Giáo trình Tiếng Việt thực hành B – Nhà xuất bản Giáo dục.

5/Phương pháp dạy học Tiếng Việt – Nhà xuất bản giáo dục.



X. MỤC LỤC :

TT

Nội dung

Trang

I

Tên đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt môn

chính tả.



1

II

Đặt vấn đề

1

III

Cơ sở lý luận

1

IV

Cơ sở thực tiễn

1-2

V

Nội dung nghiên cứu

2-7

VI

Kết quả nghiên cứu

7

VII

Kết luận

7

VIII

Đề nghị

7

IX

Tài liệu tham khảo

8

X

Mục lục

9

11

Phiếu đánh giá xếp loại sáng kiến kinh nghiệm

10-13








Mẫu 4



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc




PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN


(Ban hành theo QĐ số 32 /2015/QĐ-UBND ngày 11 /11/2015 của UBND tỉnh)

Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt môn chính tả.

Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Phương

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nguyễn Văn Bổng

Họp vào ngày: ........................................................................................................

Họ và tên chuyên gia nhận xét: ..............................................................................

Học vị: .................... Chuyên ngành: ......................................................................

Đơn vị công tác: .....................................................................................................

Địa chỉ: ..................................................................................................................

Số điện thoại cơ quan: ............................................................................................

Di động: ..................................................................................................................

Chức trách trong Tổ thẩm định sáng kiến: .............................................................



NỘI DUNG NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ


STT

Tiêu chuẩn

Điểm tối đa

Đánh giá của thành viên tổ thẩm định

1

Sáng kiến có tính mới và sáng tạo (điểm tối đa: 30 điểm) (chỉ chọn 01 (một) trong 04 (bốn) nội dung bên dưới và cho điểm tương ứng)

1.1

Không trùng về nội dung, giải pháp thực hiện sáng kiến đã được công nhận trước đây, hoàn toàn mới;

30




1.2

Sáng kiến, giải pháp có cải tiến so với trước đây với mức độ khá;

20




1.3

Sáng kiến, giải pháp có cải tiến so với trước đây với mức độ trung bình;

10




1.4

Không có yếu tố mới hoặc sao chép từ các giải pháp đã có trước đây.

0




Nhận xét:

.................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................



2

Sáng kiến có tính khả thi (điểm tối đa: 30 điểm)

2.1

Thực hiện được và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tác giả sáng kiến;

10




2.2

Triển khai và áp dụng đạt hiệu quả (chỉ chọn 01 (một) trong 04 (bốn) nội dung bên dưới)







a)

Có khả năng áp dụng trong toàn tỉnh

20




b)

Có khả năng áp dụng trong nhiều ngành, lĩnh vực công tác và triển khai nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh.

15




c)

Có khả năng áp dụng trong một số ngành có cùng điều kiện.

10




d)

Có khả năng áp dụng trong ngành, lĩnh vực công tác.

5




Nhận xét:

..............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................




3

Sáng kiến có tính hiệu quả (điểm tối đa: 40 điểm)

3.1

Sáng kiến phải mang lại lợi ích thiết thực cho cơ quan, đơn vị nhiều hơn so với khi chưa phát minh sáng kiến;

10




3.2

Hiệu quả mang lại khi triển khai và áp dụng (chỉ chọn 01 (một) trong 04 (bốn) nội dung bên dưới)







a)

Có hiệu quả trong phạm vi toàn tỉnh

30




b)

Có hiệu quả trong phạm vi nhiều ngành, nhiều địa phương, đơn vị

20




c)

Có hiệu quả trong phạm vi một số ngành có cùng điều kiện

15




d)

Có hiệu quả trong phạm vi ngành, lĩnh vực công tác.

10




Nhận xét:

....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................




Tổng cộng




THÀNH VIÊN TỔ THẨM ĐỊNH HIỆU TRƯỞNG

(Họ, tên và chữ ký)

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN


Tên sáng kiến

Mô tả sáng kiến




Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt môn chính tả

1. Thông tin chung.

- Tên tác giả: Nguyễn Thị Phương

- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nguyễn Văn Bổng

- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 15/09/2016



2. Mô tả bản chất của sáng kiến:

a) Thuyết minh tính mới và sáng tạo:

+Tình trạng giải pháp đã biết:

Môn chính tả là một phân môn học có vị trí quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt là rèn luyện và phát triển năng lực tiếng mẹ đẻ cho học sinh trong đó có năng lực viết chữ. Môn chính tả còn là môn học công cụ giúp cho học sinh học tốt những môn học khác.

Tuy nhiên trong thực tế, HS lớp 4 còn viết sai chính tả rất nhiều. Có những HS trong một bài chính tả viết sai hơn 10 lỗi. Khi chấm bài tập làm văn của một số em tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết quá nhiều lỗi chính tả. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập môn Tiếng Việt cũng như những môn học khác của HS.

Từ thực tế, qua hai năm theo dõi trong khối và trực tiếp đứng lớp giảng dạy tôi đã chọn đề tài: Một số biện pháp giúp HS lớp 4 học tốt môn Chính tả.”. Nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả ở trường Tiểu học.

+ Mục đích của sáng kiến :

Qua việc rèn luyện kĩ năng chính tả còn giúp HS học tốt các phân môn khác, là cơ sở cho việc học bộ môn Tiếng Việt ở tiểu học. Bồi dưỡng cho học sinh một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như: cẩn thận, chính xác, óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm.

+ Nội dung sáng kiến :

Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 4 như:

Biện pháp 1: Luyện phát âm

Biện pháp 2: Phân tích, so sánh

Biện pháp 3: Giải nghĩa từ

Biện pháp 4: Ghi nhớ mẹo luật chính tả

Biện pháp 5 : Chọn bài tập chính tả.



b) Tính khả thi, phạm vi áp dụng:

- Đề tài đã được áp dụng thực tiễn trong lớp 4B và bước đầu được nhân ra ở các lớp 4-5 trong năm học 2016 – 2017



c) Hiệu quả đem lại:

- Học sinh học tốt môn chính tả, ít mắc lỗi khi viết chính tả và làm bài

- Nắm vững luật chính tả, viết hoa danh từ riêng và chữ cái đầu câu








Xác nhận của Hiệu trưởng




Đại lãnh , ngày 15 tháng 2 năm2017

Tác giả
Nguyễn Thị Phương




C
Mẫu 3
ỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

CẤP CƠ SỞ

Kính gửi:

- Phòng Giáo dục và Đào tạo Đại Lộc;

- Hội đồng Sáng kiến cấp cơ sở.

Tôi ghi tên dưới đây:


Số TT

Họ tên tác giả

Ngày sinh

Nơi công tác

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến

01

Nguyễn Thị Phương

01/01/1068

Trường Tiểu học Nguyễn Văn Bổng

GV

Đại học Tiểu học

100%

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến :

« MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4

HỌC TỐT MÔN CHÍNH TẢ »

-Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Giúp HS học tốt môn chính tả.

-Ngày sáng kiến áp dụng: 15/09/2016

-Mô tả bản chất của sáng kiến :

+Tình trạng giải pháp đã biết:

Môn chính tả là một phân môn học có vị trí quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt là rèn luyện và phát triển năng lực tiếng mẹ đẻ cho học sinh trong đó có năng lực viết chữ. Môn chính tả còn là môn học công cụ giúp cho học sinh học tốt những môn học khác.

Tuy nhiên trong thực tế, đa số học sinh lớp 4 còn viết sai chính tả rất nhiều. Có những học sinh trong một bài chính tả viết sai hơn 10 lỗi. Khi chấm bài tập làm văn của một số em tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết quá nhiều lỗi chính tả. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập môn Tiếng Việt cũng như những môn học khác của học sinh.

Từ thực tế, qua hai năm theo dõi trong khối và trực tiếp đứng lớp giảng dạy tôi đã chọn đề tài: Một số biện pháp giúp HS lớp 4 học tốt môn Chính tả.”. Nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả ở trường Tiểu học.

+ Mục đích của sáng kiến :

Qua việc rèn luyện kĩ năng chính tả còn giúp học sinh học tốt các phân môn khác, là cơ sở cho việc học bộ môn Tiếng Việt ở tiểu học. Bồi dưỡng cho học sinh một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như: cẩn thận, chính xác, óc thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm.

+ Nội dung sáng kiến :

Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 4 như:

Biện pháp 1: Luyện phát âm

Biện pháp 2: Phân tích, so sánh

Biện pháp 3: Giải nghĩa từ

Biện pháp 4: Ghi nhớ mẹo luật chính tả

Biện pháp 5 : Chọn bài tập chính tả.

+Khả năng áp dụng:

- Đề tài đã được áp dụng thực tiễn trong lớp 4B và bước đầu được nhân ra ở các lớp 4-5 trong năm học 2016 – 2017

+Hiệu quả đem lại:

- Học sinh học tốt môn chính tả, ít mắc lỗi khi viết chính tả và làm bài

- Nắm vững luật chính tả, viết hoa danh từ riêng và chữ cái đầu câu

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.





Đại Lãnh, ngày 15 thảng 02 năm 2017

Người viết đơn




Nguyễn Thị Phương





Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017*Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương *TH Nguyễn Văn Bổng



Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương