I. SÔNg ngòi và TÀi nguyên nưỚc việt nam I sông ngòi, ao hồ, đầm lầy Việt nam



tải về 113.7 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích113.7 Kb.

ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ CÁC MÂU THUẪN VÀ XUNG ĐỘT

TRONG SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC, LẤY VÍ DỤ MỘT SỐ LƯU VỰC SÔNG VIỆT NAM VÀ LƯU VỰC SÔNG MÊ KÔNG

GS.TS.NGND Ngô Đình Tuấn

Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội

I. SÔNG NGÒI VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VIỆT NAM

I.1. Sông ngòi, ao hồ, đầm lầy Việt nam

1. Sông ngòi theo QĐ số 1989/QĐ-TTg ngày 1-11-2010 về danh mục sông suối liên tỉnh và QĐ số 341/QĐ BTNMT ngày 23-3-2012 thì Việt Nam có tất cả 3450 sông suối gồm:



  • 13 sông lớn (F≥ 10.000 km2) và nhánh lớn: sông Hồng, Bằng Giang- Kỳ Cùng, sông Mã, sông Lam, sông Vu Gia- Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Thái Bình, sông Cửu Long, sông Đà, sông Lô, sông Srêpôk, sông Sêsan. Trong đó có 10 nguồn nước liên quốc gia thuộc 10 sông lớn: sông Hồng, sông Bằng Giang- Kỳ Cùng, sông Mã, sông Lam, sông Đồng Nai, sông Cửu Long, sông Đà, sông Lô, sông Srêpôk, sông Sêsan.

  • 392 sông suối liên tỉnh.

  • 2.416 sông, suối nội tỉnh thuộc sông lớn.

  • 319 sông nội tỉnh thuộc 22 lưu vực sông liên tỉnh độc lập.

  • 310 sông nội tỉnh độc lập khác trong đó có 35 sông, rạch có L< 10km.

Như vậy, Việt Nam có 3.415 sông, suối có L ≥ 10km, 35 suối rạch có L < 10km.

Việt Nam có khoảng 206 con sông có nguồn nước xuyên biên giới. Trong đó có 91 sông suối xuyên biên giới với L > 10km:



  • Biên giới Việt Nam - Trung Quốc: 31 sông

  • Biên giới Việt Nam - Lào: 29 sông.

  • Biên giới Việt Nam - Campuchia: 31 sông.

2. Ao hồ tự nhiên

Việt Nam có khoảng hơn 20 hồ ao đầm phá tự nhiên với F ≥ 200ha. Trong đó có hồ Tây, Ba Bể, hồ Lak, Biển Hồ (Pleiku) với F ≥ 500ha.

Ngoài ra có khoảng 10 hồ đầm với F = 1.000ha ~ 21.600ha (Phá Tam Giang), Thị Nại 4.500 ha, Trường Giang F ≥ 3.690ha, Cù Mông F = 3.020ha, Thủy Triều 2.550ha…

I.2. Tài nguyên nước Việt Nam

A. Nước mặt

1. Lượng nước mặt nội địa

a. Phân theo vùng thủy văn thuộc miền đồi núi:

W1đn = 256.380 x 106m3

b. Phân theo vùng thủy văn thuộc miền đồng bằng:

W1đb = 5.152,2 x 106m3

c. Lượng nước nội địa lãnh thổ Việt Nam (W1)

W1 = W1đb + W1đn = 308.090 triệu m3≈ 308 tỷ m3.

d. Lượng nước trên các đảo (W2)

W2 = 2 tỷ m3 nước mặt.

2. Lượng nước mặt ngoại địa chảy vào Việt Nam bao gồm:

W3 = WGâm + W + WChảy + WThao + WĐà + W +

WChu + WLam + WCLong + WĐồngNai = 520 tỷ m3

3. Tổng lượng nước mặt trên toàn lãnh thổ Việt Nam

W = W1 +W2 +W3= 308+ 2+ 520 = 830 tỷ m3

4. Nguồn nước nội địa xét theo từng nhóm sông

W= 307.787 x 106m3 ≈ 308 tỷ m3

5. Tổng lượng nước mặt toàn bồ các nhóm sông ở Việt Nam

Wtb = 835,5 tỷ m3 ≈ 835 tỷ m3.

6. Đánh giá nguồn nước mặt

a. Theo tiêu chí của Hội Tài nguyên nước Quốc tế IWRA trên cơ sở so sánh với bình quân đầu người (hiện nay xấp xỉ 7000 m3/năm)

1) Quốc gia đạt < 4.000 m3/người, năm: Quốc gia thiếu nước.

2) Quốc gia đạt < 2.000 m3/người, năm: Quốc gia hiếm nước.

Nước ta, nếu chỉ tính lượng nước sinh ra trong lãnh thổ thì:

- Lượng nước bình quân đầu người chỉ đạt 3.370 m3/người, năm (2016). Việt Nam là một quốc gia thiếu nước. Nếu tính cả vào lượng nước mặt ngoài lãnh thổ thì bình quân đầu người đạt 9.049 m3/người, năm nhưng lượng nước thêm rát khó chủ động khai thác.

- Nhiều vùng thuộc diện hiếm nước như Đông Nam Bộ, Ninh Thuận- Bình Thuận, Đồng bằng sông Cửu Long…

b. Theo tiêu chí Vacxava năm 1963 dùng hệ số C biểu thị mức độ thiếu nước:

C =

250m3/người, năm: tiêu chuẩn nước tiêu thụ cho một đầu người/ năm.

C≥20: Khu vực đảm bảo nguồn nước tương đối cao.

C=20- 10: Khu vực đảm bảo nguồn nước nhưng phải có sự phân phối trong khu vực.

C=10- 5: Khu vực nguồn nước rất hạn chế, cần dẫn nước ở vùng khác tới.

C<5: Khu vực thiếu nước nghiêm trọng, cần có biện pháp khẩn trương cung cấp thêm.

Việt Nam, tính riêng lượng nước sản sinh ra trên lãnh thổ C = 13,5 là khu vực đảm bảo nguồn nước nhưng phải có sự phân phối trong khu vực. Thực tế lượng nước này bị chảy thoát ra biển, bị tổn thất, bị lãng phí trong khi nhu cầu nước toàn quốc với mức đảm bảo 85% lên tới hơn 140 tỷ m3/năm. Chắc chắn là rất thiếu nước.

B. Tài nguyên nước dưới đất.

Theo chương trình KC-12 có thể tóm tắt như sau:

1) Trữ lượng nước tĩnh chưa đủ số liệu đánh giá cho toàn bộ lãnh thổ.

2) Trữ lượng động thiên nhiên đạt khoảng 50-60 tỷ m3/năm.

3) Có khả năng khai thác an toàn 10- 12 tỷ m3/năm (khoảng 20% TLNĐ) nếu khai thác quá mức nói trên, trữ lượng động sẽ bị suy giảm.

4) Phân bố không đều theo diện tích lãnh thổ:

- Duyên hải Nam Trung Bộ : 0,1- 0,7 l/s km2.

- Vùng Hải Phòng : 0,5- 1,0 l/s km2.

- Vinh - Đông Nam Bộ : 2,0- 3,0 l/s km2.

- Tây Nguyên : 1,5- 3,0 l/s km2.

- Đồng bằng S. Cửu Long : 1,0- 2,0 l/s km2.



II. Đánh giá tỔng quan vỀ các mâu thuẪn và xung đỘt trong sỬ dỤng nguỒn nưỚc.

A. Các lưu vực sông Tây Nguyên và ven biển miền Trung.

1. Đặc điểm tự nhiên và xã hội

1.1. Đặc điểm tự nhiên

1.1.1. “Mái nhà Đông Dương”

a. Tây Nguyên là nguồn của các con sông vùng Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

1) Sông Vu Gia- Thu Bồn bắt nguồn từ các dãy núi:

- Ngok Linh (+2.598m)- Kon Tum nguồn của sông Thu Bồn.

- Ngok Lum Heo (+2.116m)- Kon Tum nguồn của sông Vu Gia.

2) Sông Trà Khúc bắt nguồn từ dãy núi cao Ngok Tem (+1.362m- Kon Tum)- Ngok Kring (+2.066m) là các đỉnh núi biên giới ba huyện Konplong, Dak Hà và Kon Rẫy thuộc tỉnh Kon Tum.

3) Sông Kone bắt nguồn từ thôn Kon Giang (với đỉnh núi cao trên 1.000m) xã Sơn Lang, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai.

4) Sông Ba, bắt nguồn từ dãy núi cao Ngok Rô (+1.509m), đỉnh biên giới ba huyện: Konplong, Kon Rẫy tỉnh Kon Tum và K’Bang tỉnh Gia Lai.

5) Sông Đồng Nai, bắt nguồn từ xã Da Chais, có đỉnh Bi Doup (+2.287m), đỉnh Chư Yên Du (+2.075m), đỉnh N. Lang Bian (+2.167m)- Cao nguyên Lâm Viên thuộc huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng.

6) Sông Cái Nha Trang bắt nguồn từ dãy núi cao thuộc xã Cư San, huyện M’Drak, tỉnh Daklak.

7) Sông Cái Phan Rang, nhánh sông Cha bắt nguồn từ xã Ka Đô huyện Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng chảy về tỉnh Ninh Thuận.

8) Sông Lũy, bắt nguồn từ dãy núi Yan Doe Ne (+1.812m) thuộc huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng chảy về huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

b. Tây Nguyên là nguồn của ba nhánh sông lớn thuộc hệ thống sông Mê Kông:

1) Một nhánh của sông Sekong là Sekamah bắt nguồn từ thôn Đông Nay, xã DakPlô huyện Dakglei nhánh Dak Xou bắt nguồn từ xã Dak Dục, Dak Xu huyện Ngọk Hồi tỉnh Kon Tum.

2) Sông Sêsan, bắt nguồn từ xã Măng Buk huyện Konplong (sông Dakbla) xã Dakplô huyện Dakglei (sông Dak Pơ Ko) tỉnh Kon Tum.

3) Sông Srêpôk, bắt nguồn từ huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng (nhánh Dak Krong Know), từ huyện M’Drak (nhánh Krong Ana) thuộc tỉnh Daklak.

Cả ba sông đều đổ ra dòng chính Mêkông tại Stungtreng.

c. Cao độ giảm dần về hai phía:

1) Các cửa sông ven biển Nam Trung Bộ H(0) = 0

2) Dòng chính sông Mêkông tại Stungtreng H(0) = +36,79m

1.1.2. Mũ lũ xuất hiện sau mùa mưa từ 2-3 tháng

a. Sông Ba

- Mùa mưa tại Pleiku, An Khê : V- X(XI)

- Mùa lũ tại An Khê : IX- XII

b. Sông Srêpôk

- Mùa mưa tại Đức Xuyên : IV-X

- Mùa lũ tại Đức Xuyên (Krong Kno) : VIII-XI

- Mùa lũ tại Giang Sơn (Krong Ana) : IX-XII

- Mùa mưa tại Bản Đôn (Srêpôk) : V-X

- Mùa lũ tại Bản Đôn (Srêpôk) : VIII-XI

c. Sông Sêsan

- Mùa mưa tại Kon Tum : V-X

- Mùa lũ tại Cầu Dakbla (Kon Tum) : VIII-XI

d. Sông Đồng Nai

- Mùa mưa tại Daknong : IV-X

- Mùa lũ tại Daknong : VII-X

1.1.3.Mùa lũ Tây Nguyên xuất hiện sớm hơn ít nhất 1 tháng so với các sông ở ven biển miền Trung; xuất hiện và kết thúc muộn ít nhất 1 tháng so với lũ trên dòng chính sông Mêkông.

- Mùa lũ các sông ven biển miền Trung : X-XII

- Mùa lũ trên dòng chính sông Mêkông tại Stungtreng: VII-X

1.1.4. Tài nguyên nước dưới đất ở Tây nguyên phong phú hơn các tỉnh ven biển miền Trung. Tài nguyên nước mưa, nước mặt vùng Bắc (sông Sêsan) và Nam (sông Đồng Nai) phong phú hơn vùng Trung Tây nguyên (sông Ba, sông Srêpôk).

1.1.5. Lũ trên các sông Tây Nguyên tương đối điều hoà hơn so với các sông ven biển Nam Trung Bộ và ít điều hoà hơn so với các trạm trên dòng chính sông Mêkông.

a. Lũ lịch sử đã xảy ra

1) Trên các sông ven biển miền Trung với Mmax100 = 15,5m3/s.km2 trên sông Kone (Bình Định) đến Mmax100 = 36,37m3/s.km2 trên sông Trà Khúc (Quảng Ngãi).

2) Trên các sông Tây Nguyên với Mmax100 = 6,09m3/s.km2 trên sông Ba (trạm An Khê - tỉnh Gia Lai) đến Mmax100 = 13,22m3/s.km2 trên sông Dakbla (trạm Konplong) tỉnh Kontum.

3) Trên dòng chính sông Mêkông Mmax ≤ 5m3/s.km2.

b. Quá trình lũ, các sông ven biển miền Trung thường nhọn và bẹt dần từ các sông Tây Nguyên đến các trạm trên dòng chính sông Mêkông:

1) Các sông ven biển miền Trung: tl = 12h ~ 36h, phần lớn tl 24h, riêng trạm Củng Sơn trên sông Ba tl 36h.

2) Các sông ở Tây Nguyên: tl = 36h ~ 72h.

3) Các trạm thuỷ văn trên dòng chính sông Mêkông tl = 20 ~ 30 ngày.

c. Lượng mưa 1 ngày max (X1max) đã thống kê được:

1) Các lưu vực sông ven biển miền Trung X1max = 500~800mm/ngày

2) Các lưu vực sông Tây Nguyên X1max = 250 ~ 450 mm/ngày

3) Sông Mêkông phía Campuchia X1max 300mm/ngày.



1.2. Đặc điểm xã hội

1.2.1. Dân số

a. Các tỉnh ven biển miền Trung, mật độ dân số trung bình đạt 212 người/km2 (1-IV-2009).

b. Tây nguyên, đạt 94 người/km2 (1-IV-2009)

c. Ba tỉnh Mondulkiri, Rotanakiri, Stungtreng (Campuchia), mật độ dân số trung bình từng tỉnh đạt 5~8 người/km2 (2009).

1.2.2. Nông, lâm, ngư nghiệp

a. Các tỉnh ven biển miền Trung: trồng lúa, màu là chủ yếu; Đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản; trồng cây ăn quả: xoài, dừa, cam, bưởi…

b. Các tỉnh Tây nguyên: trồng cây công nghiệp như: cà phê, cacao, cao su, chè, hạt tiêu… cây ăn quả như sầu riêng, bơ, vú sữa… cây lương thực chủ yếu là sắn, khoai, lúa…

c. Ba tỉnh phía Campuchia: rừng là chủ yếu. Hiện đang phát triển cây cao su, cà phê, cây họ dầu. Đánh bắt cá trên sông. Cây nông nghiệp: lúa, ngô trồng ở các bãi, vùng trũng ven sông.

1.2.3. Phát triển thuỷ lợi - thuỷ điện



  1. Vùng ven biển miền Trung: Phát triển mạnh về Thuỷ lợi đồng bộ bao gồm các hệ thống hoàn chỉnh: hồ chứa vừa và lớn – đập dâng – trạm bơm (các hồ chứa lớn đều có dung tích phòng lũ). Phát triển nhiều thuỷ điện vừa và nhỏ

  2. Vùng Tây Nguyên: Hồ chứa thuỷ lợi vừa và nhỏ; đập dâng nhỏ, trạm bơm nhỏ. Phát triển mạnh về Thuỷ điện lớn – vừa và nhỏ rất dày. Song không hồ thuỷ điện nào có dung tích phòng lũ

  3. Vùng 3 tỉnh phía Campuchia: Chưa có hồ thuỷ lợi, chỉ có một ít trạm bơm nhỏ. Cây công nghiệp, nông nghiệp chủ yếu dùng nước mưa. Hồ thuỷ điện đang quy hoạch – thiết kế - xây dựng trên hạ lưu sông Sêsan

2. Các mâu thuẫn phát sinh do phát triển hệ thống thuỷ điện ở Tây Nguyên

2.1. Mâu thuẫn giữa xây dựng nhà máy thuỷ điện với việc bảo tồn đa dạng sinh học

a. Các nhà máy thuỷ điện xây dựng gần kề với các Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên với tác động:

- Xâm phạm đến diện tích đất rừng

- Gây ảnh hưởng đến tập tính sinh hoạt của sinh vật như nổ mìn thi công, xe vận tải, phá rừng làm đường giao thông…

- Thay đổi lượng nước, chất lượng nước trong các hồ, bàu… Ví dụ: Các bậc thang thuỷ điện trên sông Sêsan với Vườn Quốc Gia Konkakinh, vườn quốc gia Chư Momray,… Thuỷ điện sông tranh 1 với khu bảo tồn Thiên nhiên Ngọk Linh; Trên sông Srêpôk với khu BTTN Easo. TĐ Krong K’ma với VQG Chư Yang Sin; TĐ BuonKuop với khu BTTN Nam Ka; Srêpôk 3+4+4A với VQG YookDon; TĐ Sơn Lang 1, Sơn Lang 2, Hồ Suối Say với khu BTTN Kon ChưRăng; trên sông Đồng Nai với khu BTTN Nâm Nưng VQG BiDoup Núi Bà; TĐ Đồng Nai 3+4+5 tác động đến VQG Cát Tiên

b. Tạo điều kiện thuận lợi cho bọn Lâm tặc phá rừng, khai thác rừng bừa bãi, vận chuyển gỗ theo đường thuỷ đi tiêu thụ khó kiểm soát.

c. Mất rừng mất đất do bị ngập dưới lòng hồ với tổng diện tich mặt hồ 925km2 (925000 ha) kèm theo diện tích mất đất rừng do thi công lán trại, đường giao thông chiếm khoảng 20 -30% nghĩa là xấp xỉ khoảng 120.000 ha đất rừng bị ngập, bị phá. Người dân tái định cư không đủ đất canh tác (hoặc nhiều lý do khác) cùng với người dân di cư tự do đua nhau phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy… làm diện tích rừng bị mất trắng gấp 2 đến 3 lần. Đó là một con số đáng báo động.

d. Chặt hệ thống sông thành các khúc sông nhỏ, ảnh hưởng lớn đến nguồn sinh lợi của cá, hệ sinh thái thuỷ sinh. Ví dụ trên sông nhánh Dakbla thuộc sông Sêsan với độ dài sông Ls = 157km, diện tích lưu vực Flv = 3436km2 đã, đang xây dựng 9 dự án thuỷ điện với Nlm = 3MW (TĐ Dak Pone 2A) đến 250MW (TĐ Thượng Kon Tum). Nghĩa là trung bình 17,5km có 1 đập thuỷ điện chắn ngang sông (?). Rõ ràng là quá dày.



2.2. Mâu thuẫn giữa Thuỷ điện và Du lịch - Văn hoá

1) Thuỷ điện Buonkuop ở thượng nguồn 3 thác lớn và đẹp: thác DraySap, thác Gia Long, thác Dray Nur. Theo thiết kế mùa cạn xả 5m3/s qua khoang dành riêng cho đập tràn. Thực tế yêu cầu tích nước ban đêm, ban ngày xả xuống với lưu lượng nước lớn hơn nhiều tạo thác đẹp và dữ dội như trước khi xây dựng Thuỷ điện để đảm bảo yêu cầu du lịch.

2) Xây dựng hồ Yali mất thác Yali.

3) Thuỷ điện Srêpôk 4A đang xây dựng được hình thành bằng một kênh dẫn dòng từ Thuỷ điện Srêpôk 4 cắt thẳng đoạn sông cong Bản Đôn 22km tạo cột nước cao cho nhà máy. Đoạn sông cong này chảy qua Vườn Quốc gia Yook Đôn, khu du lịch sinh thái rất sống động hiện nay sẽ trở nên tiêu điều vì lưu lượng nước chảy qua chỉ còn 8,13m3/s.



2.3. Mâu thuẫn giữa thượng và hạ lưu do Thuỷ điện chuyển nước sang lưu vực sông khác.

2.3.1. Thuỷ điện thượng Kon Tum.

Đập đặt trên sông Dak Nghé - nguồn của sông Dakbla thuộc hai xã Dakkoi và Dăk Tăng trên sông Dak Nghé; nhà máy thuỷ điện đặt tại 2 xã Dăk Tăng và Ngok Tem, huyện Konplong tỉnh Kontum, kênh xả chảy ra suối Dăk Lô (còn gọi là Dăk Sélo) nhánh đầu nguồn của sông Trà Khúc. Lưu lượng nước lớn nhất qua nhà máy là 30,5m3/s xả xuống sông Trà Khúc thuộc tỉnh Quảng Ngãi, trong khi dòng chảy tối thiểu trả lại hạ lưu đập sông Dak Nghé chảy về sông Dakbla theo thiết kế chỉ là Qtt = 0,476m3/s (hiện nay tỉnh Kontum chưa nhất trí buộc nhà đầu tư phải thiết kế lại).

Dự án đã tạo ra mâu thuẫn giữa tỉnh Kon Tum nơi mất đất, mất nước, mất rừng, có nguy cơ rủi ro và tỉnh Quảng Ngãi nơi được điện, được nước, tránh được rủi ro do vỡ đập hay những sự cố không lường trước được.

Dự án cũng tạo ra khúc sông chết khoảng 28km (tính từ đập thượng Kon Tum đến đập thuỷ lợi Dăk Nghé).

2.3.2. Thuỷ điện An Khê - Kanak

Sơ đồ khai thác đường dẫn với hai cụm đầu mối. Hồ chứa nước Kanak điều tiết nhiều năm, xây dựng trên sông Ba tại huyện K'Bang với mục đích cấp nước cho hồ An Khê phát điện. Hồ An Khê được xây dựng trên sông Ba tại thị xã An Khê. Nhà máy thuỷ điện An Khê bố trí ở thượng nguồn suối Cô - một nhánh của sông Kone. Nước sau khi vào nhà máy để phát điện sẽ đổ ra lưu vực sông Kone thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Dòng chảy tối thiểu xả trả l ại sông Ba sau đập tràn An Khê theo thiết kế chỉ đạt 2,03 m3/s ~ 3,50 m3/s. Tỉnh Phú Yên không thống nhất với Qtt = 3,50 m3/s. Còn tỉnh Gia Lai đề nghị Chủ đầu tư thiết kế và vận hành xả Qtt (mùa kiệt) "phải đảm bảo cho việc phát triển dân cư cũng như về môi trường và thảm thực vật vùng hạ lưu, đồng thời xem xét đến vấn đề kế hoạch đầu tư, phát triển của các nhà máy dọc theo tuyến đường Đông Trường Sơn". (Theo ước tính của tác giả phải là 5  6m3/s)

Việc chuyển nước của hồ Thuỷ điện An Khê - Kanak và một loạt nhà máy thuỷ điện đập dâng điều tiết ngày đêm ở hạ lưu An Khê đã, đang, trở thành mối lo ngại của tỉnh Gia Lai và tỉnh Phú Yên. Nếu không có quản lý điều hành tốt các nhà máy thuỷ điện này, tương lai đoạn sông Ba sau đập An Khê sẽ gặp rất nhiều khó khăn về nước. Tháng 11 năm 2011, do tích nước vào hệ thống hồ An Khê - Kanak mà dọc chiều dài sông Ba từ đập An Khê đến huyện Kong Chro dài 30km, trở thành khúc sông chết.

2.3.3. Thuỷ điện Đơn Dương (1964)

1) Đập đặt cách làng Dran 1km về phía thượng lưu (thuộc tỉnh Lâm Đồng).

2) Trạm Thuỷ điện đặt cách ga đường sắt Krong - Pha 2km về phía Tây Bắc (thuộc tỉnh Ninh Thuận).

Thuỷ điện Đơn Dương chuyển nước từ nhánh suối Đa Nhin thượng nguồn sông Đồng Nai sang sông Cái Phan Rang với lưu lượng nước xả qua tuốc bin liên tục ổn định là 18m3/s. Hạ lưu đập thuộc sông Đa Nhim không có dòng chảy tối thiểu tạo nên một khúc sông khô.

2.3.4. Thuỷ điện Đại Ninh (2008)

1) Đập, hồ chứa, cửa lấy nước đặt ở huyện Đức Trọng - Lâm Đồng.

2) Nhà máy thuỷ điện và kênh xả nằm ở huyện Bắc Bình - tỉnh Bình Thuận.

Lưu lượng nước xả ổn định liên tục sang sông Luỹ khoảng 18m3/s. Hạ lưu đập Đại Ninh trên sông Đa Nhim - Da Queyon trở thành khúc sông chết.



2.4. Mâu thuẫn giữa 2 tỉnh cùng sử dụng chung một con sông để phát điện

Suối Say là một nhánh thượng nguồn sông Kone chảy qua hai tỉnh Gia Lai và Bình Định. Gia Lai sẽ xây dựng 2 nhà máy thuỷ điện Sơn Lang 1 ở thượng lưu và Sơn Lang 2 ở hạ lưu Suối Say (gần hợp lưu với suối DakHma). Trung lưu Suối Say, Bình Định sẽ xây dựng hồ Suối Say kết nối với hồ Dak KronBung cấp nước cho nhà máy thuỷ điện Vĩnh Sơn 2 thuộc hệ thống bậc thang liên hồ chứa sông Kone - Bình Định gây ra mâu thuẫn không đáng có giữa 2 tỉnh Gia Lai và Bình Định (các nhà máy thuỷ điện trên đều nằm trong Qui hoạch Thuỷ điện đã được Bộ Công Thương phê duyệt chính thức).



2.5. Mâu thuẫn giữa phát triển Thuỷ điện ở Tây nguyên với các tỉnh Đồng bằng

1) Nước các hồ chứa nếu bị ô nhiễm sẽ gây lây lan theo các dòng sông về phía hạ lưu.

2) Sự cố vỡ đập ở thượng nguồn các sông sẽ gây ra hiểm hoạ không chỉ ở Tây Nguyên mà còn tác động đến các vùng sông ở hạ lưu ven biển có liên quan.

3) Các hồ chứa nước không được trữ đầy hoặc cạn kiệt (do rừng bị phá, do hạn hán nghiêm trọng, do biến đổi khí hậu…) sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hạ lưu các sông ở ven biển và cả 3 tỉnh phía Campuchia.



2.6. Mâu thuẫn giữa Thuỷ điện và Thuỷ lợi

1) Các hồ chứa thuỷ điện đều không có dung tích phòng lũ mặc dù tổng dung tích lớn hơn 500 triệu m3.

2) Dung tích chết của các hồ thuỷ điện khá lớn nhưng rất khó khai thác khi gặp những hạn hán nghiêm trọng.

3) Các hồ chứa thuỷ điện vừa và nhỏ phần lớn là do các công ty cổ phần tư nhân xây dựng. Nếu để dành dung tích phòng, chống lũ (không làm ra tiền) họ không muốn đầu tư.

4) Các hồ chứa thuỷ điện chuyển nước sang lưu vực sông khác thường tìm cách hạn chế bớt dòng chảy tối thiểu xả xuống hạ lưu phục vụ cho tưới và các nhu cầu khác.

5) Phát triển thuỷ điện chưa gắn kết giữa qui hoạch thuỷ điện và qui hoạch thuỷ lợi tạo ra mâu thuẫn không đáng có.

Ví dụ:

- Ngày 09/10/2007 QĐ của Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt "Qui hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nước lưu vực sông Sêsan" ghi rõ: Xây dựng hồ Dakbla với Vtb = 189,3 triệu m3; Vphòng lũ = 69,75 triệu m3 chống được lũ năm 1996 ứng với tần suất p = 3% cho thành phố Kontum, cấp nước tưới cho lúa (29000ha), hoa màu, cây công nghiệp (11500ha), cấp nước cho khu công nghiệp tập trung (khoảng 1600ha) và cấp nước dân sinh cho 700.000 người, kết hợp phát điện với Nlm = 30MW.



- Ngày 14/04/2009, Bộ Công Thương quyết định phê duyệt "Qui hoạch đầu nối các dự án nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ khu vực miền Trung và miền Nam vào hệ thống điện quốc gia giai đoạn 2009 - 2010 có xét đến 2015" thì trên sông Dakbla dự kiến sẽ xây dựng 8 dự án mới, trong đó có dự án thứ 8 đặt gần trùng với dự án thuỷ lợi nói trên với Nlm = 15MW nhưng không có dung tích phòng lũ.

2.7. Mâu thuẫn giữa tiêu chuẩn thiết kế đập tràn của các hồ chứa trên cùng một dòng sông sẽ gây ra rủi ro vỡ dây chuyền.

Các hồ chứa thuỷ điện lớn có tiêu chuẩn thiết kế đập tràn cao hơn tiêu chuẩn thiết kế các đập dâng thuỷ điện nhỏ bố trí xen kẽ ở giữa. Nếu một trong các đập dâng bị vỡ (do tiêu chuẩn thiết kế thấp gặp lũ vượt thiết kế như đã xảy ra năm 2009 trên sông Sêsan) thì sẽ gây vỡ đập dây truyền.



2.8. Mâu thuẫn giữa thuỷ điện điều tiết ngày đêm với cộng đồng dân cư sinh sống ven sông và hệ sinh thái thuỷ sinh.

Thuỷ điện điều tiết ngày đêm gây ra khúc sông chết 10 ~ 14h mỗi ngày với Qxả = 0.



2.9. Một số mâu thuẫn khác cần khắc phục

Ngoài những mâu thuẫn nói trên do phát triển thuỷ điện gây ra, bản thân Tây nguyên tồn tại một số mâu thuẫn cần khắc phục:

1) Mâu thuẫn giữa lượng nước đến và lượng nước dùng. Mùa mưa, nhiều nước, dùng nước ít; mùa cạn ít nước lại dùng nhiều nước.

2) Mâu thuẫn giữa địa hình và khai thác sử dụng nước: ruộng vườn nhà ở trên đồi cao, nước sông chảy ở thung lũng sông.

3) Mâu thuẫn giữa qui hoạch phát triển kinh tế với qui hoạch nguồn nước. Đặc biệt là cà phê. Năm 2000, riêng Daklak đã trồng được 260.000 ha cà phê trong khi đó, qui hoạch nguồn nước đáp ứng với tưới cà phê trên toàn Tây nguyên chỉ đạt 120.000ha.

3. Các giải pháp khắc phục

3.1. Lợi ích do phát triển thủy điện mang lại.

1) Phát điện Nlm = 4944,9 + 1700 = 6645MW xấp xỉ 3 nhà máy thuỷ điện Sơn La.

2) Cấp nước mùa cạn Vtb = 15903 x 106m3 xấp xỉ với tổng dung tích hai hồ Thuỷ điện Sơn La và Hoà Bình.

3)Tăng diện tích mặt nước hồ lên 925 km2 có thể phát triển nuôi trồng thủy sản.

4) Phát triển giao thông

5) Chuyển nước từ lưu vực có nhiều nước hay nhu cầu ít nước sang lưu vực nghèo nước hoặc nhu cầu dùng nước nhiều hơn.

6) Có tác dụng bổ cập nước ngầm.

7) Điều hòa hạ thấp mực nước đỉnh lũ, tăng lượng nước mùa cạn, có tác động điều hóa vì khí hậu.

8) Phát triển thủy điện là phát triển năng lượng sạch

9) Phát triển thủy điện đồng nghĩa với phát triển điện và nước. Nếu phát triển không qui hoạch hay qui hoạch không phù hợp, không nghiên cứu kỹ, không có sự tham gia đóng góp và đồng thuận của cộng đồng sẽ gây nên những mâu thuẫn không đáng có hoặc không thể tránh được.



3.2. Các giải pháp khắc phục và giảm thiểu

1) Nhà nước đã ban hành: Quy trình vận hành liên hồ chứa của 11 lưu vực sông, trong đó Tây Nguyên đã có 4 qui trình cho 4 lưu vực sông lớn là: S. Srêpôk, S. Sêsan, S. Ba, S. Đồng Nai, chưa kể sông ven biển Nam Trung Bộ: Vu Gia-Thu Bồn, Trà Khúc, S. Kone-Hà Thanh.

2) Các qui trình vận hành này chưa phải là tối ưu hay hoàn toàn phù hợp mà phải qua thử nghiệm trong một số năm vừa vạn hành vừa ra soát kinh nghiệm sử đổi theo điều kiện cụ thể địa phương, theo hình thái thời tiết, theo yêu cầu tái cơ cấu kinh tế, tái cơ cấu cây trồng vật nuôi, và biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu…

3) Chuyển phương thức quản lý cung sang quản lý cầu (tiết kiệm) và chống thất thoát lãng phí nước.

4) Thực hiện đầy đủ yêu cầu của Quốc hội, Chính phủ đóng cửa rừng, rà soát qui hoạch mạng lưới các hồ chứa thủy lợi- thủy điện đảm bảo an toàn và hiệu quả kinh tế cao.

5) Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập Ủy ban lưu vực sông Sêsan- Srêpôk. Đồng thời xem xét bổ sung nội dung ĐTM:



  • Không chỉ đánh giá một dự án riêng rẽ mà phải đánh giá cả hệ thống bậc thang hồ chứa thủy điện đã, đang và sẽ xây dựng trên dòng sông đó;

  • Đưa phương pháp đánh giá tác động môi trường tích lũy vào danh mục hướng dẫn ĐTM.

B. Lưu vực sông Mêkong

1. Khái quát sông Mêkong

Sông Mêkong bắt nguồn từ cao độ +5000m thuộc dãy Hymalaya với tổng chiều dài 4800km (xếp thứ 12 thế giới), F = 975.000 km2 (xếp thứ 21) n = 15.000 m3/s (xếp thứ 8), Wo = 475 tỷ m3/năm. Có 6 quốc gia chia sẻ tài nguyên: Trung Quốc, Myanma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Có hơn 100 sông nhánh. Phần hạ lưu tính từ tam giác vàng trở xuống có L= 2400km, Fhl= 60.700 km2 (chiếm 77% toàn lưu vực) bao gồm gần như toàn bộ lãnh thổ Lào và Campuchia, 1/3 lãnh thổ Thái Lan, 1/5 lãnh thổ Việt Nam. Phần thượng lưu thuộc Trung Quốc với Lsông = 2161km. Sông chảy qua tỉnh Vân nam có L = 1240km với F = 88700 km2 (22,5% F toàn tỉnh Vân Nam).

Ở Việt Nam, lưu vực sông Mêkông chỉ có 8% với F = 72513km2.

2. Các hệ thống thủy điện bậc thang trên dòng chính sông Mêkong.

a. Thượng nguồn-Sông Lan Thương (Lan Coung), Vân Nam, Trung Quốc

Đã và sẽ xây dựng 8 hồ thủy điện với Nlm = 15900MW nhỏ nhất là GanLanBa Nlm=150MW, lớn nhất là Ngoa Trác Độ Nlm= 5850MW với tổng dung tích hồ chứa Vtb=43,5 tỷ m3, nhỏ nhát Gongguagiao khoảng 150 triệu m3, lớn nhất là Ngoa Trác Độ 24,670 tỷ m3.

Mục đích: - Phát điện

- Tưới cây ăn quả, thuốc lá và cây công nghiệp khác.

- Tương lai khi nhiệt độ không khí tăng thêm, băng ở dãy núi Hymalaya tan ra có thể chuyển nước lên vùng khô hạn phía Bắc.

b. Hạ lưu (Lào- Campuchia- Thái Lan): Có 12 dự án thủy điện đã và đang xây dựng với Vhi=4,05 tỷ m3. Phần lớn là đập dâng với chiều cao đập từ 8m – 76m. Riêng hai đập dâng Bankoum, Lat Sua có V=0; Bankoum V=12x106m3. Lớn nhất là hồ Luang Prabang có Vhi=734 triệu m3 cách cửa biển 2010km. Sambor Vhi=2002x106m3, cách biển Đông 560km.

Ngoài ra còn kể đến:

- Biển Hồ tại Campuchia cao độ +0.5~+15,0m. Diện tích mặt nước hồ =0 km2 ứng với cao độ +0,5; V= 0; = 152.50 km2 ứng với cao độ +12,0m, V=100 tỷ m3; Cao độ +7,5m có V = 40 tỷ m3.

- Đồng bằng S. Cửu Long Nam Bộ có 4 triệu ha đất trồng lúa nước; Campuchia 2 triệu ha đất trồng lúa nước chưa kể đến vùng Đông Bắc Thái Lan khoảng 2 triệu ha cần nước tưới…



3. Các mâu thuẫn và xung đột trong sử dụng nguồn nước Mêkông.

a. Hệ thống hồ thủy điện phía Trung Quốc đối với hạ lưu:

1) Tích trữ bùn cát, chất dinh dưỡng cho đất, thức ăn cho nguồn thủy sản; gây xói lở bờ ở hạ lưu, mất nguồn lợi thủy sản…

2) Giảm nguồn nước do tưới.

3) Không cung cấp thông tin vận hành tích xả của hệ thống liên hồ chứa, gây khó khăn cho dự báo lũ, cạn cho hạ lưu.

4) Khả năng chuyển nước lên vùng khô hạn phía Bắc là hiện thực khi nhiệt độ không khí tăng thêm 2C. Lúc đó mùa cạn sông Mêkông ở hạ lưu sẽ bị khô nước.

b. Hệ thống hồ thủy điện phía Lào- Thái Lan- Campuchia.

1) Khi các hồ PakChom, Bankoum Latsua đi vào hoạt động thì khả năng lấy nước tưới cho vùng Đông Bắc Thái Lan và Lào được mở rộng làm giảm lượng nước đáng kể cho sông phía hạ lưu.

2) Làm giảm lượng nước vào Biển Hồ.

3) Giảm nguồn bùn cát, nguồn chất dinh dưỡng, nguồn thủy sản đáng kể cho Đồng bằng Campuchia và Việt Nam.

4) Để phát triển nguồn nước tưới cấp đủ cho 2 triệu ha đất lúa nước ở đồng bằng Campuchia có khả năng phía bạn phải giữ nước lại ở cao trình +7,5m ứng với V=40 tỷ m3. Lúc đó, đồng bằng sông Cửu Long khô cạn nước, mặn xâm nhập sâu vào cả đồng bằng, gây xói lở bờ sông, cửa biển…

4. Các giải pháp khắc phục và giảm thiểu đối với đồng bằng sông Cửu Long- Việt Nam.

a. Phấn đấu hợp tác chia sẻ nguồn nước với các quốc gia ở thượng lưu.

b. Thay đổi tư duy:


  • Coi nước mặn là một tài nguyên.

  • Chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

  • Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.

  • Tích trữ nước mưa theo từng hộ riêng rẽ, tích trữ nước mưa bằng các bể lớn, hồ nước ngọt ngay ở đồng bằng.

  • Phát triển công nghệ biến nước mặn thành nước ngọt.

  • Sống chung với lũ một cách bền vững.

  • Chuyển phương thức quản lý cung sang phương thức quản lý cầu tiết kiệm nước, chống thất thoát.

  • Sử dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước.

  • Nâng cao ý thức cho người dân, cán bộ quản lý tiết kiệm nước.

  • Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, cho cộng đồng địa phương cùng tham gia ngay từ đầu trong công tác qui hoạch xây dựng các công trình khai thác sử dụng nước có hiệu quả.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thủ tướng Chính phủ: Quyết định ban hành qui trình vận hành liên hồ chứa 11 lưu vực sông ở Việt Nam.

2. Ủy hội sông Mêkông: Các tư liệu liên quan đến các hồ thủy điện đang qui hoạch, xây dựng phía Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia.

3. Ngô Đình Tuấn. Các mâu thuẫn phát sinh do phát triển thủy điện ở Tây Nguyên và giải pháp khắc phục (2014).

4. Ngô Đình Tuấn. Xác định nhu cầu sử dụng nước và dòng chảy môi trường cho hệ sinh thái hạ du. Bài viết theo đặt hàng của Cục Thẩm định và ĐTM - Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tháng 10/2008.



5. Ngô Đình Tuấn +nnk. Báo cáo ĐTM dự án thủy điện Luang Pabang (Lào- 2008).




Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương