ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


Phát tâm thiện niệm 發 心 善 念: Phát khởi tấm lòng nghĩ đến điều lành, tức biết lo tu hành, làm phước



tải về 0.7 Mb.
trang7/19
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích0.7 Mb.
#2092
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   19

Phát tâm thiện niệm : Phát khởi tấm lòng nghĩ đến điều lành, tức biết lo tu hành, làm phước.


Thính đắc Ngã ngôn phát tâm thiện niệm 聽 得 我 言 發 心 善 念: Ý Phật rất chân thành tha thiết dạy cho chúng ta rằng: Nếu nghe được lời nói chân thật của Ta (Đức Phật), thì hãy mau mau phát khởi lòng thiện niệm mà lo tu hành hầu được thoát khỏi luân hồi sinh tử. Kinh Phật đã từng dạy mạng sống con người chỉ ngắn ngủi trong hơi thở! Vì hơi thở ra mà không trở vào tức bước sang kiếp khác, vì vậy năm tháng ngày giờ, cho đến mỗi giây phút, đều có vô thường ở trong đó, chẳng ai quyết đoán mạng sống của mình dài được bao lâu. Phật dạy:

Chớ hẹn đến già rồi niệm Phật.

Đồng hoang mồ trẻ thấy đông người.

Tất đắc A Nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề tất đắc giải thoát 必 得 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提, 必 得 解 脫

A Nậu : Phiên âm từ Phạn ngữ là Anout: Nghĩa là không, vô.


A Nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề 阿 耨 多 羅 三 藐 三 菩 提: Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Giải thoát 解 脫: Giải là cởi bỏ. Thoát ra trót lọt. Giải thoát là không dính mắc, hệ lụy một điều gì hết.

Giải thoát là cởi bỏ thoát khỏi mọi trói buộc, mọi phiền não, mọi khổ đau và được an lạc tự tại. Giải thoát cũng có nghĩa là không còn vướng mắc trong vòng sanh tử luân hồi nữa.

Trong cuộc sống hằng ngày, ít có ai ý thức được rằng chính mình đang đang gây tạo khổ đau, phiền não. Ngược lại, ta cứ nghĩ rằng chúng từ bên ngoài đến trói buộc ta. Tu tập là để có thể ý thức được những khi khổ đau khởi lên để ta kịp thời buông bỏ.

Tất đắc giải thoát 必 得 解 脫: Ắt được giải thoát.

Nhược hữu nhơn thọ trì khủng kinh ma chướng

若 有 人 受 持 恐 驚 魔 障


Thọ trì 受 持: Nhận lãnh và giữ gìn. Người tu hành khi thọ trì giới thì phải nhận lãnh và giữ gìn giới luât theo pháp môn mình.

Khủng kinh : Sự sợ hãi, kinh khủng.


Sự sợ hãi hay kinh hoàng là một loại phiền não lớn và đau khổ nhất của con người nơi thế gian nầy. Giáo pháp của Đạo nhằm đem đến niềm an vui, hạnh phúc cho chúng sanh. Do vậy, Vô úy thí, tức là làm một việc khiến cho chúng sanh hết sợ hãi, an tâm, đó là một loại bố thí có công đức vô lượng, trên cả Pháp thí và Tài thí.

Ma chướng 魔 障: Sự chướng ngại do Ma tạo ra để cản trở việc tu hành. Theo Tôn giáo Ma có thể hiểu là tất cả những gì ngăn cản các thiện căn, cản trở chánh pháp, hoặc như các phiền não, hoài nghi, làm nhiễm loạn thân tâm, gây chướng ngại cho việc tu hành đều là ma chướng.

Ma chướng có thể chia làm hai loại:



Nội ma 內 魔: Là những thói hư tật xấu hay tham sân si, dục vọng...ẩn chứa trong trong thân tâm chúng ta, luôn luôn chờ cơ hội tác động, xúi giục chúng ta làm điều ác.

Ngoại ma 外 魔: Là những điều bất thiện, những tập nhiễm sấu xa của xã hội bên ngoài lôi cuốn chúng ta vào đường ác đức.

Chúng sanh đời mạt pháp, phước thì mỏng, chướng thì dầy, huệ cạn, nghiệp sâu, nên tu hành thường vướng phải ma chướng, tín tâm yếu ớt nên bị hãm vào lưới ma, lại bị ác nghiệp lôi kéo, khó bề thoát khỏi đọa. Vì vậy, phải có đức tin kiên trì tưởng niệm Chí Tôn, tạo lập công quả, hành nhơn tác thiện để được các Đấng hộ trì viễn ly ma chướng.



Nhứt tâm thiện niệm 一 心 善 念

Nhứt tâm 一 心: Một lòng, lòng luôn luôn.

Nhứt tâm thiện niệm 一 心 善 念: Một lòng nghĩ đến điều lành, hay luôn luôn nghĩ đến điều lành. Bởi vì nghĩ đến điều lành là không nghĩ đến điều dữ, không gieo ác nghiệp. Phật có dạy: “Không tạo ác nghiệp là hơn, vì làm ác nhứt định thọ khổ; làm các thiện nghiệp là hơn, vì làm lành nhứt định thọ vui” (Kinh Pháp Cú).

Trong Minh Tâm Bửu Giám có câu: 一 日 不 念 善, 諸 惡 皆 自 起 “Nhứt nhựt bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi”: Một ngày chẳng nghĩ đến điều lành, mọi điều ác sẽ tự dấy lên.

Chẳng cần phải tu nhiều kiếp mà vẫn được giải thoát: Hễ đầy đủ công đức và nhất tâm niệm Phật cho đến mức nhất tâm bất loạn thì nhờ vào sức tiếp dẫn của các Đấng sẽ được vãng sanh về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, không còn vướng mắc trong vòng sanh tử nữa.

Năng cứu khổ ách, năng cứu Tam tai, năng cứu tật bệnh

能 救 苦 厄 能 救 三 災 能 救 疾 病


Năng cứu : Có khả năng cứu giúp, có thể cứu giúp.


Khổ 苦: Tiếng Hán có nghĩa là đắng, khó chịu. Khổ còn có nghĩa là sự đau khổ về vật chất hay tâm thức của con người. Những điều dễ chịu, vui sướng trong thế gian nầy Phật cũng cho là khổ, bởi vì chúng sẽ bị hoại diệt, không thường tại.

Trong kinh Phật dạy: Cái khổ trong địa ngục bị thiêu đốt cũng chưa phải là khổ, cái khổ bị làm ngạ quỉ đói khát cũng chưa phải là khổ, cái khổ làm súc sanh kéo cày bị đánh cũng chưa phải là khổ, mà cái khổ vô minh không biết đường đi mới là khổ. Vì thế, Tiên Phật thường dạy cho chúng sinh diệt trừ vô minh, trở nên tỉnh giác mà biết được đường tu hành để thoát vòng luân hồi sanh tử.



Con người có hai loại khổ đau: Vật chất và Tinh thần. Người khổ về vật chất, ta có thể cứu giúp một ít được, còn khổ đau về tinh thần, ta chỉ xoa dịu phần nào mà thôi. Chỉ có các Đấng Trời Phật và các Giáo pháp mới có thể cứu vớt hết chúng sinh về các loại khổ đau, nghiệt chướng và còn dẫn dắt ra khỏi vòng luân hồi khổ não.

Khổ ách 苦 厄: Khổ sở và tai nạn.

Năng cứu khổ ách 能 救 苦 厄: Có thể cứu giúp những khổ sở và tai nạn.

Tam tai 三 災: Ba thứ tai họa xảy đến: Hỏa tai 火 災, Phong tai 風 災và Thủy tai 水 災.

Hỏa tai : Tai họa do lửa như cháy nhà cửa...



tải về 0.7 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương