ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


Năng chiếu diệu quang 能 照 妙 光: Có thể chiếu những tia sáng huyền diệu, hay chiếu hào quang



tải về 0.7 Mb.
trang5/19
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích0.7 Mb.
#2092
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19

Năng chiếu diệu quang : Có thể chiếu những tia sáng huyền diệu, hay chiếu hào quang.


Thế gian thường bảo mặt trời là lớn và sáng nhứt, nhưng mặt trời chỉ chiếu khắp bốn châu, vẫn bị mây giá, sương mù che khuất ánh sáng, tường nhà không xuyên thấu được. Như vậy, ánh sáng mặt trời có hạn lượng mà còn bị chướng ngại nữa. Nếu đem so với Phật quang hay hào quang, thì ánh sáng huyền diệu của chư Phật, quang minh rực rỡ có thể chiếu suốt mười phương, tam giới, chiếu tan hết thảy những điều phiền não, khổ sở, tối tăm của tất cả chúng sanh.

Tiêu trừ nghiệt chướng 消 除 孽 障: Là diệt trừ hết những mầm ác, nghiệp xấu gây chướng ngại cho cuộc sống và việc tu hành của con người.

Nghiệp chướng làm mê mờ chân tánh, nếu không sám hối thì khó có thể tiêu trừ sạch hết được. Vì nếu chúng ta phạm vào tội nghiệp rất nặng, lẽ ra phải bị đọa vào Địa ngụ A tỳ, nhưng nếu biết ăn năn, sửa lỗi, lo lập công bồi đức, thì vẫn có thể tiêu trừ được ác nghiệp và đắc quả.



Nhược hữu chúng sanh văn ngã ưng đương thoát nghiệt

若 有 眾 生 聞 我 應 當 脫 孽



Nhược hữu 若 有: Nếu như có.

Chúng sanh 眾 生: Hay chúng sinh (satta), Hán dịch âm là Tát đỏa, nghĩa là loài hữu tình, có sinh mạng, có sanh tử, tức là các loài như thảo mộc, thú cầm hay nhơn loại.

Theo Phật, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tức là có sẵn mầm giác ngộ ở trong người và như vậy nên có thể thành Phật trong tương lai.

Theo Cao Đài, mỗi chúng sinh là một tiểu linh quang của Đấng Chí Tôn, nên đều có Thiên tánh, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có câu: “Thầy là các con, các con là Thầy”.

Văn Ngã 聞 我: Nghe lời Ta. Đức Phật hằng nhắc nhở chúng sanh là nên nghe lời chân thật của Ngài đã dạy.

Ưng đương 應 當: Phải nên. Hai chữ nầy thể hiện tấm lòng tha thiết, khẩn khoản của Phật, đã bao lần đinh ninh dặn dò, khuyên lơn những mong người nghe kinh mau phát tâm cầu nguyện.

Thoát nghiệt 脫 孽: Giải thoát khỏi mầm ác nghiệt.

Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng

念 佛, 念 法, 念 僧



Niệm 念: Tưởng nghĩ đến, đọc trong tâm.

Phật 佛: tức là Bụt. Do chữ Buddha, Hán phiên âm là Phật 佛 để chỉ một cách tôn kính tất cả những bậc đã đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn.

Pháp 法: Là một danh từ chỉ chung về Đạo, Qui luật, nguyên lý tự nhiên, Giáo lý của chư Phật, chư Bồ Tát.

Tăng 僧: Chỉ người xuất gia tu hành theo Phật pháp.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Chí Tôn nói: “Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giái nên mới gọi là Pháp, Pháp có mới sanh ra Càn Khôn Vũ Trụ rồi mới có người nên gọi là Tăng. Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy”.

Sở dĩ chúng ta tụng kinh và niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng là vì chúng ta muốn cho lương tri, lương năng được trong lành, sáng suốt. Bởi tâm chúng sanh luôn luôn lúc nào cũng bị vật dục che mờ cái thần minh ấy, làm cho không thể nhận thấy được chân thiện mỹ. Niệm Phật, Pháp, Tăng có công năng định tâm gìn ý và hướng tâm ý con người đến những điều tốt đẹp, thuần lương, nhờ vậy những tư tưởng xấu xa đen tối sẽ lần lần bị tiêu diệt. Niệm Phật, Pháp, Tăng còn có thể nhờ những quyền năng vô thượng, đức hạnh tròn lành của các Đấng cứu giúp cho ta thoát khỏi họa tai, hôn ám.

Tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ

從 是 法 條 三 期 普 度


Tùng thị : Tùng là tuân theo. Thị là phải, đúng. Tùng thị là tùng theo vì cho đó là đúng, là phải.

Pháp điều : Những điều khoản của giáo pháp hay luật pháp.


Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ là hệ thống pháp luật của nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, gồm: Pháp Chánh Truyền, Tân Luật, các Đạo Luật, và các Đạo Nghị Định.

Tam kỳ Phổ Độ 三 期 普 度: Phổ độ chúng sanh trong thời kỳ thứ ba.

Từ thời Thượng Ngươn đến nay, Đức Chí Tôn đã cho mở ra ba thời kỳ phổ độ để cứu giúp chúng sanh: Đó là Nhứt Kỳ Phổ Độ, Nhị Kỳ Phổ Độ và Tam Kỳ Phổ Độ:

Nhứt Kỳ Phổ Độ: Vào thời kỳ Thượng Ngươn.

Phật thì có Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ.

Tiên thì có Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên Giáo ở Trung Hoa.

Thánh thì có: Vua Phục Hy khởi đầu Nho Giáo ở Trung Hoa

Thánh Moise mở Do Thái Giáo ở Do Thái.

Nhị Kỳ Phổ Độ: Vào thời kỳ Trung Ngươn.

Phật: Đức Thích Ca Mâu Ni chấn hưng lại Phật Giáo.

Tiên: Lão Tử chấn hưng Tiên Giáo, còn gọi Lão Giáo.

Thánh: Đức Khổng Tử mở Khổng giáo để chấn hưng Nho Giáo

Ngoài ra, Đức Chúa Jésus Christ mở Thiên Chúa Giáo ở Do Thái.

Tam Kỳ Phổ Độ: Vào thời kỳ Hạ Ngươn.

Đức Chí Tôn dùng huyền diệu Thiêng Liêng giáng cơ mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một Tôn Giáo phổ độ chúng sanh trong thời Hạ Ngươn mạt pháp nầy, với tôn chỉ là “ Qui nguyên Tam Giáo Phục nhứt Ngũ chi”. Thay mặt cho Tam Giáo thì có Tam Trấn Oai Nghiêm.

Nhứt Trấn Oai Nghiêm Lý Đại Tiên Trưởng, tức Thái Bạch Kim Tinh thay mặt cho Tiên Giáo.

Nhị Trấn Oai Nghiêm Đức Quan Âm Bồ Tát thay mặt cho Phật Giáo.

Tam Trấn Oai Nghiêm Quan Thánh Đế Quân thay mặt cho Thánh Giáo.

Tất đắc giải thoát luân hồi

必 得 解 脫 輪 迴

Tất đắc : Ắt được, tất phải được.

Giải : Là mở ra, cởi bỏ.

Thoát : Ra trót lọt, không dính mắc gì hết.


Giải thoát 解 脫: Cởi bỏ mọi trói buộc, như khổ đau, phiền não.

Luân hồi 輪 迴: Luân là bánh xe xoay vần, Hồi là quay trọn vòng này trở lại đến vòng khác, cứ thế quay mãi.

Sự luân chuyển của chúng sanh trong sáu cõi (Lục đạo 六 道), sanh tử, tử sanh tiếp nối nhau không ngừng như cái bánh xe quay không có khởi điểm. Chúng sanh vì vô minh gây ra nghiệp, rồi bị nghiệp lực cuốn hút vào vòng sống chết không bao giờ dừng nghỉ, chỉ khi nào thông đạt được Giáo pháp mới mong được giải thoát hay chứng quả mà thôi. Phật dạy: “Đêm dài với kẻ mất ngủ, đường rất xa với kẻ lữ hành mỏi mệt. Cũng thế, vòng luân hồi sẽ tiếp nối vô tận với kẻ ngu si, không minh đạt chánh pháp”(Kinh Pháp Cú).



Giải thoát luân hồi 解 脫 輪 迴: Là cởi bỏ hết mọi sự khổ đau, phiền não đã trói buộc con người ở thế gian, hầu thoát khỏi luân hồi sanh tử.

Đắc lộ Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề thị chi chứng quả Cực Lạc Niết Bàn

得 路 多 羅 三 藐 三 菩 提 是 之 證 果 極 樂 涅 槃



Đắc lộ 得 路: Đạt được một con đường đi, có nghĩa là đắc Đạo.

Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề 多 羅 三 藐 三 菩 提: Hay còn gọi là Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề do Phạn ngữ Samyak Sambodhi. Đa La dịch là Thượng, Tam Miệu dịch là Chánh Đẳng, Tam Bồ Đề dịch là Chánh Giác.


tải về 0.7 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương