ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


Nguyện giải Tân kinh chơn thiệt nghĩa



tải về 0.7 Mb.
trang3/19
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích0.7 Mb.
#2092
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19

Nguyện giải Tân kinh chơn thiệt nghĩa


願 解 新 經 真 實 義

Nguyện giải 願 解: Nguyện là muốn trong lòng. Giải là mở ra, giải nghĩa.

Phật là Đấng Từ bi, thấy được vô minh của chúng sinh, nên hằng mong muốn đem Giáo pháp, kinh điển để giải thích cho tường tận để chúng sanh hiểu biết mà giác ngộ, hầu được giải thoát khỏi vòng luân hồi khổ não nên nói là nguyện giải.



Tân kinh 新 經: Kinh mới, tức là những bài kinh do các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho chúng sanh trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Những bài kinh này được Hội Thánh in trong quyển kinh “Thiên Đạo và Thế Đạo”. Còn những bài kinh trước Tam Kỳ Phổ Độ được gọi Cựu kinh.

Bên Phật Giáo, câu kệ này được viết: “Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa”.



Chơn thiệt nghĩa 真 實 義: Ý nghĩa chân thực, ý nghĩa xác thực không sai. Lời Chí Tôn và chư Phật nói ra là lời chân thật, vì phát xuất ra từ lòng từ bi thương yêu chúng sanh vô vị lợi. Do vậy, chúng sanh cần nên Tín xác, tức là tin tưởng tuyệt đối, tin tưởng hoàn toàn nơi Chí Tôn và chư Phật.

Nguyện giải Tân kinh chơn thiệt nghĩa: Nguyện giải thích bài Tân kinh chơn thiệt của Phật.


Bài Kệ “Khai Kinh” này được bên Phật Giáo dịch thành văn vần như sau:

Vòi vọi không trên pháp thẳm sâu,

Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu.

Ta nay nghe đặng chuyên trì niệm,

Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết: Di Lạc Chơn Kinh

釋 迦 牟 尼 文 佛 說: 彌 勒 真 經



Thích Ca Mâu Ni Văn Phật 釋 迦 牟 尼 文 佛: Thích Ca Mâu Ni Văn Phật tức là Phật Thích Ca (Sakyamuni), người sáng lập ra Phật giáo. Thích Ca là tên một dòng họ quý tộc cai trị một trong 16 Vương quốc Ấn Độ thời bấy giờ. Mâu ni có nghĩa là ẩn sĩ. Thích Ca Mâu Ni là bậc trí giả trầm lặng của dòng Thích Ca.

Đức Phật Thích Ca tên là Tất Đạt Đa, họ Cồ Đàm, con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và Hoàng hậu Maya (Ma Da), sinh vào năm 623 (có thuyết năm 544) trước Tây lịch, tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), cách thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) khoảng 15 cây số, ngày nay là một thành phố ở nước Nepal.

Sau khi hạ sanh Hoàng tử được 7 ngày, Hoàng hậu Ma Da từ trần. Tất Đạt Đa được người dì là Maha Pajàpati (Ma Ha Ba Xà Ba Đề) nuôi dưỡng. Năm 16 tuổi, Ngài thành hôn với Yosodhara (Gia Du Đà La).

Là một người có năng khiếu suy tư sâu sắc và lòng thương người vô hạn vô biên, Thái Tử lại rơi vào tình trạng trầm tư lo lắng, luôn cảm thấy lòng mình nặng trĩu bao nỗi bâng khuâng thắc mắc. Nên dầu sống trong cảnh vàng son nhung lụa, nhưng tình cờ lần đầu tiên, Ngài ra thành chứng kiến được bốn sự đau khổ: Sanh, lão, bệnh, tử, nên Ngài quyết chí xuất gia tu hành để đi tìm một con đường dẫn tới giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người hầu hướng đến an lạc.

Năm 29 tuổi, sau khi người con trai của Ngài là Rahula (La Hầu La) sinh ra, Ngài quyết chí hy sinh từ bỏ một Thái tử đang độ tuổi thanh xuân, đang sống trong quyền quý cao sang, chứa chan hạnh phúc. Thái Tử liền đến xứ Uruvela tu khổ hạnh. Qua thực nghiệm, Ngài thấy rằng chân lý tối hậu giải thoát an lạc, diệt trừ khổ đau không thể cầu được ở bên ngoài, ở bất kỳ một Đạo sư nào, cũng không phải qua pháp môn hành xác, mà sự chứng ngộ ấy cần phải được thể hiện ở chính trong nội tâm của mỗi người và không dựa vào một tha lực nào khác. Vì thế, Ngài từ bỏ phép tu khổ hạnh, Ngài chú tâm Thiền định và thành Đạo, chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Sau đó Ngài đi khắp nơi giáo hóa. Đức Phật nhập diệt năm 80 tuổi vào năm 486 hay 483 trước Tây lịch tại Câu Ni Na. Theo truyền thuyết Pali, Đức Phật diệt độ ngày rằm tháng tư.

Thuyết 說: Nói, thuyết giảng, nói rõ ra. Ý muốn nói: Kinh nầy do chính Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết giảng cho chúng sinh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ bằng huyền diệu của cơ bút.

Di Lạc Chơn Kinh 彌 勒 真 經: Một bài kinh tận độ do Đức Thích Ca Mâu Ni giáng cơ thuyết giảng về tầng trời Hỗn Nguơn Thiên và Hội Nguơn Thiên của Đức Di Lặc Vương Phật cho chúng sanh trong thời Tam Kỳ Phổ Độ tụng đọc.

Chú thích: Theo nguyên bản kinh của Hội Thánh bằng chữ Quốc ngữ ghi là “Di Lạc Chơn Kinh”, nhưng phiên âm Hán Việt, theo cách phát âm của Hán Việt Tự Điển Thiều Chửu và Hán Việt Từ Điển Đào Duy Anh phải viết là “Di Lặc Chơn Kinh”. Ngoài ra, bên Phật Giáo cũng thường viết là Di Lặc Vương Bồ Tát.

Chép bản kinh của Hội Thánh, chúng tôi giữ nguyên chữ trong chánh kinh, nên viết “Di Lạc Chơn Kinh”, nhưng phần chú giải thì chúng tôi viết Di Lặc Chơn Kinh hay Di Lặc Vương Phật.


C/. DỊCH NGHĨA:

Bài Kệ khai “Di Lặc Chơn Kinh”

Những giáo pháp vô thượng của Đức Phật lắm cao sâu, huyền vi và mầu nhiệm.

Dù trăm ngàn muôn kiếp không có duyên phần cũng rất khó mà gặp đặng.

Ngày nay Ta nghe biết, được thọ lấy và gìn giữ,

Nguyện giải thích bài Tân kinh nầy với ý nghĩa chơn thiệt của Phật.

Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết giảng về bài “Di Lặc Chơn Kinh”.
2.-HỖN NGUƠN THIÊN:

A/. KINH:

THƯỢNG THIÊN HỔN NGUƠN hữu:

- Brahma Phật

- Civa Phật

- Christna Phật

- Thanh Tịnh Trí Phật

- Diệu Minh Lý Phật

- Phục Tưởng Thị Phật

- Diệt Thể Thắng Phật

- Phục Linh Tánh Phật

Nhứt thiết chư Phật, hữu giác, hữu cảm, hữu sanh, hữu tử, tri khổ nghiệp chướng luân chuyển hóa sanh, năng du Ta Bà thế giái độ tận Vạn linh đắc qui Phật vị.

B/. CHÚ THÍCH:

Thượng Thiên Hỗn Ngươn hữu

上 天 混 元 有



Thượng Thiên Hỗn Ngươn 上 天 混 元: Trên hết, là tầng Hỗn Ngươn Thiên, một Tầng Trời do Đức Di Lặc Vương Phật cai quản. Trong Kinh Đại Tường cũng cho biết Đức Phật Di Lặc cầm quyền Giáo Chủ ở Tầng Hỗn Ngươn Thiên:

Hỗn Ngươn Thiên dưới quyền Giáo Chủ,

Di Lạc đương thâu thủ phổ duyên.

Brahma Phật 梵 摩 佛

Brahma: Dịch là Phạm Ma, theo Ấn Độ giáo là một vị Thần tự sinh ra từ khi mới tạo thiên lập địa, có công sáng tạo ra vạn vật. Ngài thường được gọi là vị đại tổ, một vị cha chung của muôn loài, một vị Thần tạo lập ra Vũ trụ.

Brahma Phật 梵 摩 佛: Vị Phật giáng trần trong thời kỳ Thượng ngươn hay ngươn Thánh đức tức là ngươn vô tội. Brama Phật là một trong ba vị Phật được gọi là Tam thế Phật thờ trên nóc Bát Quái Đài, Tòa Thánh Tây Ninh. Ngài đứng trên mình con Huyền Nga, tay mặt bắt ấn khai nguơn, tay trái nắm bửu châu, mặt nhìn về phía Tây, tức hướng mặt trời lặn, biểu tượng cho sự lo lắng của Ngài khi cõi trần sắp chìm sâu trong nguơn tranh đấu điêu tàn. Brahma Phật thuộc ngôi thứ nhứt, điều khiển Thượng nguơn Thánh đức, chủ về cơ sanh hóa.

Civa Phật 濕 婆 佛

Civa: Được dịch là Thấp Bà, là vị Thần hủy diệt, tức là vị Thần phá hoại cái cũ, cái xấu để sáng tạo ra cái mới, cái tốt đẹp hơn. Theo Ấn Độ giáo, Thần Civa ngoài việc dẫn dắt loài người đi đến sự hồi tâm, còn có sứ mệnh che chở bảo hộ cho loài người.

Civa Phật 濕 婆 佛: Vị Phật điều khiển Trung Ngươn, tức ngươn Tranh Đấu. Vị Phật nầy được giáng trần trong ngươn tranh đấu của nhơn loại. Civa Phật trên nóc Bát Quái Đài mặt nhìn về phương Bắc, mình đứng trên lưng rắn bảy đầu, ấy là tượng trưng Phật diệt thất tình cho nhân loại khỏi bị mê muội ở trần gian tục lụy mà tranh đấu, hủy diệt lẫn nhau, miệng Ngài thổi sáo để thức tỉnh nhơn sanh hồi tâm hướng thiện. Civa Phật có bộ tinh nhũ trước ngực, là ngôi thứ hai trong tam thế Phật.

Nói về Đức Phật Mẫu, Đức Hộ Pháp có thuyết như sau: “Bần đạo cũng nên chỉ rõ Đức Phật Mẫu đến tại mặt thế gian này, đã tượng trưng bên Ấn Độ. Phật giáo Ấn Độ gọi Ngài là Civa Phật, là cái hình ở trên Bát Quái Đài, chúng ta để trên nóc đó, thấy có tinh nhũ nơi ngực Ngài.



Hồi buổi Chí Tôn phân định, phân tánh của Ngài, lấy khí, tức nhiên là Ngài dùng cái linh pháp của Ngài biến tướng ra Phật Mẫu. Phật Mẫu thuộc về Âm, Chí Tôn thuộc về Dương, Âm Dương hiệp lại mới biến hóa ra Càn khôn Vũ trụ và sanh ra vạn vật.

Đức Civa Phật, Ấn Độ làm một cái hình phân nửa giống đàn bà, còn cái tướng thì đàn ông, bởi hồi đó con người chưa phân rõ chắc chắn nam nữ, Âm Dương. Đức Civa trong huyết khí, tức là huyết, còn chơn linh đào tạo là do Đức Chí Tôn.

Đức Chí Tôn là Phật, Đức Phật Mẫu là pháp, pháp mới sanh ra Càn khôn Vũ trụ và vạn vật, vạn vật ấy do nơi tinh mà ra, tức là Tăng. Thần tức nhiên là Đức Chí Tôn, Thần phân định Khí, Khí mới sanh ra Tinh. Phật là Chí Tôn, Pháp là Civa tức Phật Mẫu, Tăng là vật loại trên Càn khôn Vũ trụ này”.

Christna Phật 毘 紐 佛

Christna: Còn được gọi là Visnu hay Vichnou, là một vị Thần bảo tồn. Như ta biết Brahma là vị Thần sáng tạo, Civa là vị Thần hủy diệt, còn Vichnou là vị Thần bảo vệ Vũ trụ, luôn luôn che chở cứu giúp con người. Vichnou tượng trưng cho hạnh phúc, tốt lành vì Vichnou thường giáng thế để tế độ tất cả chúng sanh thoát khỏi sự khổ não.

Christna Phật 毘 紐 佛: Hay Vichnou Phật là vị Phật điều khiển Hạ Ngươn tức là ngươn Bảo Tồn hay ngươn Tái Tạo. Vị Phật nầy được giáng sanh trong thời Hạ Ngươn, hay ngươn Tái Tạo. Trên Bát Quái Đài Tòa Thánh, Phật Christna Vichnou mình trần, tay mặt chống gươm, tay trái chống nạnh, đứng trên mình con Giao Long, mặt hướng về phương Nam. Ngài là ngôi thứ ba của Tam thế Phật, tượng trưng cho ngôi bảo tồn.

Khi nói về Phật Christna Vichnou, Đức Hộ Pháp cho biết như sau: “Dầu cho những chơn linh nào chết nơi chân trời hay góc biển đi nữa, mà đầy đủ công nghiệp, tâm đức thì Phật Christna Vichnou cũng lãnh lịnh Chí Tôn tuần du trên mặt thế mà rước chơn linh ấy về ngay nơi Bạch Ngọc Kinh”.

Tóm lại, Brahma Phật, Chiva Phật, Christna hay Vichnou Phật là ba vị Phật, còn gọi là Tam thế Phật, có nhiệm vụ lãnh lịnh Đức Thượng Đế điều khiển ba nguơn của Trời đất.

Thanh Tịnh Trí Phật 清 淨 智 佛 (*)

Thanh tịnh 清 淨: Trong trẻo lặng lẽ. Chữ nhà Phật: Xa lánh những hành vi độc ác cùng những điều phiền não ở đời.

Trí 智: Hiểu biết về mặt trí thức các hiện tượng và những quy luật của chúng, định nghĩa đúng các pháp. Tri thức là một thành phần của trí tuệ bát nhã, sự thấu hiểu tất cả nội dung giáo lý thuần lý.

Phật 佛: (Buddha) là tiếng Phạn, có nghĩa “Trí huệ, giác ngộ”

Về mặt thể, Phật có nghĩa là trí huệ, về mặt dụng, Phật có nghĩa là giác ngộ. Theo Giáo lý Phật có 3 loại trí:

a/ Nhất thiết trí : Là sự hiểu rõ chính xác, tường tận về bản thể vũ trụ, là trí huệ nhận biết toàn thể mọi hiện hữu trong pháp giới. Đây là trí huệ của hàng Thanh văn.

b/. Đạo chủng trí : Chủng là chỉ các hiện tượng vô lượng vô biên trong vũ trụ. Biết được hết các sự sinh thành của các hiện tượng nầy gọi là Đạo chủng trí. Đây là trí huệ của bậc Bồ Tát.

c/. Nhất thiết chủng trí : Thấu suốt mọi chân tướng của vũ trụ, nhân sinh, không mê lầm. Đó là trí huệ của chư Phật, cũng là Thanh tịnh trí.

Diệu Minh Lý Phật 妙 明 理 佛

Minh Lý 明 理: Làm sáng tỏ chân lý.

Diệu minh lý 妙 明 理: Làm sáng tỏ chân lý huyền diệu.

Bất cứ Giáo pháp nào của các Tôn giáo đều đem chân lý ra để diễn bày cho chúng sinh hiểu. Chân lý đó nếu được người lãnh hội, hiểu biết rõ thì được gọi là giác ngộ. Theo Phật, giác là Bồ Tát, mê là chúng sinh. Như vậy, người giác ngộ là người có thể sáng tỏ được chân lý huyền diệu của chư pháp, nên có thể đoạt được giải thoát.



Phục Tưởng Thị Phật 復 想 視 佛

Phục tưởng thị 復 想 視: Sự tưởng nghĩ và nhận thấy chân tánh trở lại, tức là quán tưởng để thấy lại bản lai diện mục hay Phật tánh.

Thượng Đế hóa sinh ra vạn linh, trong đó con người được phú cho tánh thiện lành, gọi là Thiên tánh hay Phật tánh. Vì nghiệp quả, phải luân hồi sinh tử, nên con người không thấy được nguyên tánh, hay còn gọi là bản lai diện mục. Do vậy, kẻ hành giả phải giác ngộ tu hành để thấy trở lại Thiên tánh của mình, gọi là kiến tánh. Muốn kiến tánh người tu hành phải làm sáng tỏ cái tâm gọi là minh tâm. Như vậy, minh tâm thì sẽ kiến tánh tức thành Phật vậy.



Diệt Thể Thắng Phật 滅 體 勝 佛

Diệt thể 滅 體: Diệt bỏ hình thể hay hình sắc.

Hình thể hay hình sắc là một thể vật chất khi hội đủ những nhân duyên nào đó và tùy những nhân duyên ấy mà trụ một thời gian, rồi tiêu diệt mất. Hình sắc vốn vô thường, dễ hoại diệt.

Đạo vốn vô vi, nhưng nếu không có hữu hình hay hình thể thì cũng không đặng. Ví như Ngọc Hoàng Thượng Đế là Đấng vô hình vô ảnh, nếu chẳng mượn Thiên Nhãn để tượng Đức Chí Tôn thì Đạo làm sao có thể pháp. Nhưng nếu vì hình thể thái quá thì Đạo sẽ xa rời chánh pháp.

Về sự diệt hình thể, Đức Chí Tôn dạy Ngài Thái Thơ Thanh như sau: “Thời kỳ mạt pháp nầy, khiến mới có Tam Kỳ Phổ Độ, các sự hữu hình phải phá tiêu diệt.



Thầy đến chuyển Đạo, lập lại vô vi, các con coi thử bên nào chánh lý: Hữu hình thì bị diệt đặng, chớ vô vi chẳng thể nào diệt đặng.

Th ...Thầy đã khiến con đi “Đế Thiên Đế Thích” đặng xem cho tạng mặt hữu hình, nội thế gian nầy, ngày nay ai cũng nhìn nhận cho là tối đại, mà con đã thấy nó còn bền vững đặng chăng? Lòng Đạo đức con Thầy thấy rõ, nhưng thời giả dối đã qua, thời kỳ chân thật đã đến, Thầy không muốn cho con hao tài, tốn của, mà gìn giữ sự giả dối.

Chẳng cần con lo lập Thánh Thất của Thầy và sùng tu Phật tượng chi hết. Con hiểu bổn nguyên BẢO SANH là bổn nguyên Thánh Chất của Thầy.

Thầy khuyên con để dạ lo cho nhơn sanh mà thôi...”.

Phục Linh Tánh Phật 復 靈 性 佛

Phục 復: Hồi phục, trở lại.

Phục linh tánh 復 靈 性: Linh tánh của con người được tìm thấy lại để giác ngộ, đắc quả. Điều nầy bên Phật giáo gọi là kiến tánh.

Tánh hay linh tánh là một thực thể sẵn có nơi mọi chúng sinh, không do tạo tác mà thành, không do tu tập mà được. tánh cũng là cái tâm tánh thực của chúng sanh vậy.

Về bản tánh, mọi chúng sinh đều bình đẳng với chư Phật, Tiên, không chút sai biệt. Tuy nhiên vì chúng sinh có quá nhiều vọng tưởng và chấp trước, là cội gốc của mọi phiền não, nên quên mất tánh Phật, và mãi chìm sâu trong vòng luân hồi sinh tử vô tận. Muốn phục lại cái linh tánh hay kiến tánh người tu phải phá bức màn vô minh, tức là diệt bỏ thất tình lục dục, đoạn trừ vọng tưởng, phiền não thì minh tâm kiến tánh, tức là đạt thành Phật vị.

Nhứt thiết Chư Phật 一 切 諸 佛

Nhứt thiết 一 切: Tất cả, hết thảy.

Chư Phật 諸 佛: Các vị Phật.

Nhứt thiết Chư Phật 一 切 諸 佛: Tất cả các vị Phật.

Hữu giác, hữu cảm, hữu sanh, hữu tử

有 覺, 有 感, 有 生, 有 死



Hữu giác 有 覺: Có hiểu biết, có giác ngộ.

Giác 覺: Là hiểu biết hay tỉnh thức, tức là tỉnh ngộ, không còn mê lầm, vô minh.

Giác là một trạng thái tuyệt đối của tâm dứt bặt hết phân biệt, vọng tưởng.

Giác ngộ là hiểu biết thấu triệt mọi sự vật như thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh. Giác ngộ tức là thấy rõ nguồn gốc của sự khổ đau và sanh tử, chọn lựa một con đường để được giải thoát sanh tử. Nói một cách khác, con người khi dứt trừ được hết vô minh thì giác ngộ.

Hữu cảm 有 感: Có mối rung động trong lòng, có những việc làm gây sức mạnh ảnh hưởng đến chung quanh.

Con người vì cảm mà sinh ra tình ái. Tình ái cũng là một chướng ngại cho người tu, Bài kệ chuổi bên Phật có viết:

Ái hà thiên xích lãng,

愛河千尺浪


Khổ hải vạn trùng ba.

苦海萬重波


Dục thoát luân hồi khổ,

欲脫輪迴苦


Tảo cấp niệm Di Đà.

早急念彌陀


Sông yêu ngàn thước sóng,

Biển khổ muôn lượn qua.

Luân hồi mong vượt thoát,

Mau sớm niệm Di Đà.

(Thiên Vân dịch)

Chính cảm mà sinh tình, do tình mà con người phải chìm sâu sông yêu bể ái, là khởi đoan của mọi khổ đau, phiền não. Trong Kinh Pháp Cú, Phật cũng cho rằng: “Những người say đắm theo ái dục, tự lao mình trong lưới buộc như nhện giăng tơ. Ai dứt được sự buộc ràng không còn dính mắc nữa, thì sẽ xa mọi thống khổ để ngao du tự tại”.

Hữu sanh 有 生: Được sanh ra và có sự sống.

Theo giáo lý nhà Phật, Sanh là một trong bốn cái khổ của con người, gọi là Tứ khổ: Sanh, Lão, Bệnh, Tử. Hễ có sanh ắt phải có tử.

Nhưng phải có sanh ở thế gian nầy, tức là phải được làm người để tu hành thì chơn linh mới có thể thăng tiến được. Đức Chí Tôn có nói: “Dầu một vị Đại La Thiên Đế xuống phàm mà không tu, cũng khó trở lại địa vị đặng”. Ấy vậy, sanh là một con đường mà người khách trần mượn để đi lên, hay nói cách khác, con người phải có kiếp sống ở thế gian này nghĩa là phải đầu thai xuống thế giới hữu hình, có xác thân để được tu tâm sửa tánh, lập công bồi đức thì chơn linh mới có thể thăng tiến lên được. Trong Giới Tâm Kinh có bài thơ rằng:

Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,

May đặng làm người chớ dể duôi.

Lành dữ hai đường vừa ý chọn,

Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi.

Hữu tử 有 死: Có sự chết.

Theo quan niệm thông thường của thế nhân, Chết là hết. Nhưng đối với nhân sinh quan của Cao Đài hay Phật Giáo: Chết chỉ là một giai đoạn hoại diệt của thân xác hữu hình hay sự đoạn lìa nghiệp trái ở thế gian, để có một sự sống tâm linh miên viễn, bất tận nơi thế giới vô vi, thanh tịnh.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có nói: “Sự thác (chết) cũng có khi vui mà cũng có lúc buồn. Người thế nếu biết sống, nghĩa là biết dụng mình cho có ích vào xã hội, biết dưỡng tánh tu thân, thì sự thác chẳng qua là sự mong mỏi của kẻ hành trình đã xong trách nhậm, trở về phục sự đặng lãnh phần thưởng xứng đáng mà thôi”.

Tri khổ nghiệp chướng luân chuyển hóa sanh

知 苦 業 障 輪 轉 化 生



Tri khổ 知 苦: Biết được sự khổ.

Đối với Giáo lý Cao Đài hay Phật pháp, cõi trần gian là một biển khổ mênh mông của chúng sanh. Trong bài Khai Kinh có câu:



Biển trần khổ vơi vơi trời nước

Cái khổ ở cõi hồng trần, tục lụy nầy, theo Đức Phật là do bốn mối sinh ra khổ: Đó là Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Biết được sự khổ đó, con người phải tìm cách đoạn lìa mối khổ. Đức Phật có nêu lên Tứ Thánh Đế 四 聖 諦 gồm Khổ đế là xét rõ cái khổ ở trần gian như Sinh, Lão, Bệnh, Tử; Tâp đế là xét ra bởi đâu mà kết tập thành cái khổ; Diệt đế là sự xét rõ cách dứt hết sự khổ; Đạo đế là con đường phải noi theo để giải thoát khỏi luân hồi khổ não.

Theo Cao Đài, muốn được an vui, thoát khổ thì người tu tập phải lo tu tâm dưỡng tánh và tạo lập công quả: “Vì Thầy lập Đạo kỳ nầy là mở một trường thi công quả. Các con phải đi tại cửa nầy mới đến đặng nơi Cực Lạc mà thôi”.

Nghiệp chướng 業 障: Đời trước phạm những nghiệp ác cho nên đời nay thành ra tội chướng.

Nghiệp 業 là những hành động có tác ý của thân, khẩu, ý, tức là những việc làm cố ý hay chỉ tính toán trong tâm khởi lên những ước muốn, những dục vọng để thực hiện cho bằng được. Dù đó là những việc làm thiện hay bất thiện được lập đi lập lại tạo nên sức mạnh chi phối tự thân và hoàn cảnh.

Chính con người tạo ra nghiệp thiện hay nghiệp ác, thì chính con người sẽ được hưởng hay phải chịu hậu quả của nghiệp báo ấy. Theo Kinh Pháp Cú, Đức Phật ví nghiệp “như sét do sắt sinh ra rồi trở lại ăn sắt, còn ác nghiệp do người ta gây ra rồi trở lại dắt người ta đi vào cõi ác”.

Nghiệp chướng có hai loại: Phiền não chướng 煩 惱 障 và Sở tri chướng 所 知 障. Chấp truớc là nguồn gốc phiền não chướng, vọng tưởng là nguồn gốc của sở tri chướng. Mục tiêu của sự tu hành là chuyển hóa toàn bộ vọng tưởng và chấp truớc để khôi phục lại Thiên Tánh hay Phật tánh.



Luân 輪: Bánh xe xoay vần.

Luân chuyển 輪 轉: Là xoay giáp vòng tròn nầy rồi trở lại vòng khác. Sự xoay chuyển của chúng sanh trong vòng sáu cõi (lục đạo) như sanh tử, tử sanh tiếp nối không ngừng. Chỉ khi nào đạt được giải thoát, chứng ngộ Niết bàn mới ra khỏi vòng luân hồi sinh tử.

Hóa sanh 化 生: Biến hóa mà sanh ra.

Năng du Ta Bà thế giái độ tận Vạn linh đắc qui Phật vị

能 遊 娑 婆 世 界 度 盡 萬 靈 得 歸 佛 位



Năng du 能 遊: Là có thể đi đây đi đó, có thể dạo khắp mọi nơi.

Ta Bà Thế giới 娑 婆 世 界: Còn gọi là Thế giới Sa Bà. Theo Phật, Ta Bà, Hán dịch Kham nhẫn. Đây chính là một cõi Tam thiên Đại thiên thế giới. Dịch là Kham nhẫn, hàm ý: Chúng sanh trong cõi Thế giới Ta Bà cam lòng chịu đựng sự ô trược và những nỗi khổ sở phiền não do ngũ trược gây ra, dù có được nghe Giáo Pháp của các Đấng Thiêng Liêng, vẫn ít kẻ chịu lo tu hành để thoát ly khổ cảnh, cam tâm vùi đắm mãi trong cảnh trói buộc, nên gọi là Kham nhẫn.

Như vậy, Ta Bà Thế giới là một thế giới bao la, rộng lớn, chỉ có các Đấng Tiên, Phật mới có thể đi khắp cùng thế giới đó để cứu giúp chúng sanh thoát khổ.

Địa cầu nơi con người sống chỉ là một chỗ rất nhỏ bé trong thế giới Ta Bà. Đức Phât Thích Ca lãnh giáo hóa chúng sanh nơi cõi Ta Bà, nên Kinh thường gọi “Sa Bà Thế giới bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật”.

Trong vũ trụ có hằng hà sa số thế giới, Kinh Phật gọi Tam thiên Đại thiên Thế giới 三 千 大 千 世 界 là nói gồm cả Đại Thiên Thế giới, Trung Thiên Thế giới và Tiểu Thiên Thế giới.

Một Tiểu Thiên Thế giới có nghìn Thế giới. Một Trung Thiên Thế giới có một nghìn Tiểu Thiên Thế giới, tức là một triệu Thế giới. Một Đại Thiên Thế giới có một nghìn Trung Thiên Thế giới, tức là một ngàn triệu Thế giới. Như thế, ta thấy rằng Ta Bà Thế giới là một Thế giới rộng lớn bao la như thế nào.

Độ 度: Vượt qua biển sanh tử, còn có nghĩa tế độ cứu giúp người khác (độ tha) hoặc độ chính mình (tự độ). Từ Ba la mật đa Hán dịch nghĩa là Đáo bỉ ngạn: Đến bên kia bờ, tức bờ giải thoát.

Như vậy độ là vượt qua con sông sanh tử luân hồi để đến bên bờ giải thoát.



Độ tận 度 盡: Là tế độ hết tất cả chúng sanh không trừ một ai.

Căn cứ theo kinh Phật, hai thời kỳ nhứt và nhị kỳ Phổ độ chỉ độ được tám ức nguyên nhân, còn lại 92 ức đắm chìm trong mê muội (Cửu thập nhị tào chi mê muội). Do vậy, trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, chính mình Đức Chí Tôn dùng huyền diệu Thiêng Liêng giáng cơ khai nền Đại Đạo và để Đức Diêu Trì Kim Mẫu giáo hóa con cái hầu Ngài có thể độ hết các bậc nguyên nhân cùng toàn cả sanh linh còn chìm nơi bể khổ trở về với cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.



Vạn linh 萬 靈: Muôn sanh linh, tức là toàn thể sanh linh trong Càn khôn Vũ trụ nầy. Các sanh linh bao gồm bát hồn: Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm hồn, Nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn và Phật hồn.

Độ tận vạn linh 度 盡 萬 靈: Cứu giúp hết muôn Chơn linh.

Đắc qui 得 歸: Được trở về.

Phật vị 佛 位: Ngôi vị Phật.

Theo thuyết Tam thân của Phật giáo, thì Phật có ba thân:

- Pháp thân 法 身: Lý pháp tụ tập lại thành ra thân, tức là lấy pháp tính làm ra thân. Pháp tính không sắc chất, thuần nhiên, không sinh diệt, lúc nào cũng thường trụ.

- Báo thân 報 身: Là phần tốt của phúc đức trí tuệ Phật tích tụ làm thân, mà được quả báo viên mãn. Báo thân lúc nào cũng nương vào pháp thân.

- Ứng Thân 應 身: Là hóa hiện ra sắc thân để độ chúng sinh theo căn cơ. Còn gọi là Hóa thân 化 身, biến hóa thân 變 化 身.

Tóm lại, Pháp thân chỉ cái thể sở chứng, Báo thân và Ứng thân chỉ cái dụng, nhờ thể ấy mà ra. Một Phật, nhờ minh giác linh diệu lưu chuyển thành các thân khác. Thuần lý thì chỉ có một Phật, do phúc đức trí tuệ Phật biến hóa ra nhiều phật.

Theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Chí Tôn hóa sanh chư Thần Thánh Tiên Phật, như vậy Đức Chí Tôn là vị Phật lớn nhứt trong các vị Phật. Hay nói cách khác, Chí Tôn là Pháp thân, còn chư Phật, chư Tiên là Báo thân hay Ứng thân của Đức Chí Tôn. Vì thế, trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng cơ cho biết: “Nhiên Đăng Cổ Phật thị Ngã, Thích Ca Mâu Ni thị Ngã, Thái Thượng Ngươn Thỉ thị Ngã. Kim viết Cao Đài” 燃 燈 古 佛 是 我. 釋 迦 牟 尼 是 我. 太 上 元 始 是 我. 今 曰 高 臺. Tóm lại, Đức Chí Tôn là Phật vị.

Đắc qui Phật vị 得 歸 佛 位: Được trở về với ngôi vị Phật, tức là trở lại với Đức Chí Tôn hay gọi qui nguyên.
C/. DỊCH NGHĨA:

Tầng Hỗn Ngươn Thiên ở trên hết có :

- Brahma Phật.

- Civa Phật.

- Christna Phật.

- Thanh Tịnh Trí Phật.

- Diệu Minh Lý Phật

- Phục Tưởng Thị Phật

- Diệt Thể Thắng Phật

- Phục Linh Tánh Phật

Tất cả các vị Phật, có giác ngộ, có thương cảm, có sống, có chết, biết rõ sự khổ não do nghiệp chướng gây nên, luân hồi chuyển kiếp mà hóa sanh ra, các vị Phật có thể đi khắp cõi Ta Bà Thế giới độ hết các Chơn linh để được trở về với ngôi vị Phật.
3.-HỘI NGUƠN THIÊN:

A/. KINH:

HỘI NGƯƠN THIÊN hữu:

- Trụ Thiên Phật

- Đa ái Sanh Phật

- Giải Thoát Khổ Phật

- Diệu Chơn Hành Phật

- Thắng Giái Ác Phật

Nhứt thiết chư Phật tùng lịnh DI LẠC VƯƠNG PHẬT, năng chiếu diệu quang tiêu trừ nghiệt chướng.

Nhược hữu chúng sanh văn ngã ưng đương thoát nghiệt, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng tùng thị Pháp điều Tam Kỳ Phổ Độ, tất đắc giải thoát luân hồi, đắc lộ Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề thị chi chứng quả Cực Lạc Niết Bàn.

Nhược nhơn đương sanh, nhược nhơn vị sanh, nhược nhơn hữu kiếp, nhược nhơn vô kiếp, nhược nhơn hữu tội, nhược nhơn vô tội, nhược nhơn hữu niệm, nhược nhơn vô niệm, thính đắc ngã ngôn, phát tam thiện niệm, tất đắc A nậu Đa La Tam Diệu Tam Bồ Đề tất đắc giải thoát.

Nhược hữu nhơn thọ trì khủng kinh ma chướng, nhứt tâm thiện niệm: Nam Mô Di Lạc Vương Bồ Tát, năng cứu khổ ách, năng cứu tam tai, năng cứu tật bịnh, năng độ dẫn chúng sanh thoát chư nghiệt chướng tất đắc giải thoát.

B/. CHÚ THÍCH:

HỘI NGƯƠN THIÊN hữu

會 元 天 有


Hội Ngươn Thiên 會 元 天: Theo Di Lặc Chơn Kinh, tầng Hội Nguơn Thiên là tầng Trời do Đức Di Lặc Vương Phật cai quản. Tầng nầy nằm phía bên dưới Tầng Hỗn Ngươn Thiên.

Như vậy, Đức Di Lặc Vương cầm quyền Chưởng quản hai Tầng Trời: Hỗn Ngươn Thiên và Hội Ngươn Thiên.



Trụ Thiện Phật 住 善 佛

Trụ thiện 住 善: Chủ trì làm việc thiện.

Làm thiện thì phải có những hành động, lời nói, ý nghĩ lành, hợp với Đạo lý, không xuất phát từ tham, sân, si, đem lại lợi ích, hạnh phúc cho mình và cho người khác. Có hai loại thiện:

Hữu lậu thiện 有 漏 善: Là việc làm thiện, tuy làm cho người thọ hưởng được những quả báo tốt lành, nhưng vẫn chưa giải thoát được ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Vô lậu thiện 無 漏 善: Làm việc thiện một cách rốt ráo, không ngã chấp, không mong cầu phước báu.

Vô lậu thiện là việc làm thiện của các Đấng Thiêng Liêng cho chúng sanh.

Đa Ái Sanh Phật 多 愛 生 佛

Đa ái sanh 多 愛 生: Có nhiều lòng thương yêu sự sống.

Lòng yêu thương chúng sanh của Chí Tôn, chư Phật và chư Tiên giống như người mẹ thương con, với tình yêu thương tự nhiên, không đòi hỏi điều gì cả, tình thương nầy được gọi là lòng đại từ bi.

Chí Tôn và chư vị Phật có lòng thương yêu sự sống của chúng sanh, mong muốn gìn giữ mạng sống của chúng sanh, gọi là bảo sanh 保 生, thấy chúng sinh mê muội, đắm chìm nơi khổ hải nên mới ra đời dìu dẫn, cứu giúp chúng sinh thoát lìa khổ não và luân hồi sanh tử.

Giải Thoát Khổ Phật 解 脫 苦 佛



tải về 0.7 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương