ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


Nguyện giải Tân kinh chơn thiệt nghĩa



tải về 0.7 Mb.
trang2/19
Chuyển đổi dữ liệu17.11.2017
Kích0.7 Mb.
#2092
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19

Nguyện giải Tân kinh chơn thiệt nghĩa



Thích Ca Mâu Ni Văn Phật thuyết:

Di Lạc Chơn Kinh



B/. CHÚ THÍCH:

Khai kinh kệ

開 經 偈


Khai 開: Mở đầu, mở ra.

Kinh 經: Là nền tảng của một triết thuyết hay một Tôn giáo. Ví dụ như: Ngũ kinh trong Nho giáo, Đạo Đức kinh trong Lão giáo, Tam Tạng kinh trong Phật giáo và Kinh Thánh của Công giáo.

Trong một bài kinh những lời chỉ dạy, những bài giảng hay thuyết pháp của các Đấng nói lên thật tướng của Chân lý (Pháp) để giáo hóa các đệ tử hay chúng sanh tu tập hầu đạt đến Chân Thiện Mỹ, hoặc giác ngộ giải thoát.

Kinh điển của Tôn giáo tức là con đường dẫn dắt tâm chúng sanh đi vào đường thanh tịnh, khi ý bị phiền não khởi, ta cầm cuốn kinh thì mọi phiền não sẽ được xua tan.

Ngoài ra, phải hiểu được ý nghĩa của kinh, chúng ta mới ứng dụng được lời của các Đấng dạy vào sự tu tập cho mình. Như thế, kinh mới có giá trị thực đối với chúng ta, bằng không thấu suốt nghĩa lý kinh mà cứ đọc tụng hằng ngày đêm, ấy chỉ là từ chương hoặc mê tín. Đọc kinh cầu lý, có vượt qua văn tự mới đạt lý, chứng tri.

Như trên ta biết, Kinh là nền tảng của một triết thuyết hay một Tôn giáo, nên từ ngàn xưa, các vị Giáo chủ của Tam giáo đã đắc lệnh của Đức Chí Tôn, giáng cơ mở Đạo để tùy thời, tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà truyền những kinh sách quí báu, hầu khai hóa đạo tâm cho con người, đưa con người đến sự giác ngộ.

Về Nho giáo, Đức Khổng Thánh đã để lại một kho kinh sách quí giá như Tứ Thư, Ngũ Kinh, sau này các hàng Đệ tử và hậu Nho tiếp tục xiển dương hệ thống triết lý đó làm nền tảng về nhân sinh, đạo đức và phong tục cho xã hội con người, mà hơn hai nghìn năm nay con người vẫn còn sùng thượng.

Về Lão giáo, từ hai quyển “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử và “Nam Hoa Kinh” của Trang Tử làm cơ sở cho triết lý “Vô vi”, đến thời nhà Tống các nhà Nho đem lý thuyết Vô vi của Lão Trang phối hợp với Dịch Lý của Nho mà tạo thành một phong trào “Huyền học” hay “Lý học”. Phong trào nầy có công lớn trong việc phát triển học thuyết Lão Trang đến chỗ phồn thịnh nhứt vào đời Ngụy, Tấn, Lục Triều...Lão giáo hướng con người về với Đạo là thuận lẽ thiên nhiên vô vi tự tại. Vì vậy, thuyết Vô vi của phái Đạo Gia đã ảnh hưởng không nhỏ về Vũ trụ quan và Nhân sinh quan qua con người Việt Nam ta từ ngày xưa cho đến bây giờ.

Về Phật giáo, sau khi Đức Phật thành Đạo, Ngài đã đem điều chứng đắc để giác ngộ chúng sinh tìm về bản thể chơn như, hầu đưa chúng sanh theo con đường giải thoát. Đến khi Phật nhập diệt, các vị Đệ Tử mới đem những lời dạy của Ngài kết tập lại thành Tam Tạng Kinh. Từ đó, kinh sách của Phật được phổ truyền theo muôn đường vạn nẻo để đem cái Giáo Pháp cao siêu của Đức Phật mà giác ngộ chúng sinh trong tam đồ, lục đạo.



Kệ 偈: Những bài thơ ngắn hay dài để tóm tắt đại ý một bài thuyết pháp hay một đoạn kinh, hoặc để ca ngợi công đức Phật, hoặc để cầu nguyện, hoặc là một bài dùng để kệ chuông, kệ trống…

-Kệ cũng là bài ca chứng đạo của các vị Thiền sư như bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng:



Bồ đề bổn vô thọ,

菩 提 本 無 樹

Minh cảnh diệc phi đài.

明 鏡 亦 非 臺

Bổn lai vô nhất vật,

本 來 無 一 物

Hà xứ nhạ trần ai?

何 處 惹 塵 埃
Nghĩa là: Bồ đề vốn không cây,

Gương sáng cũng chẳng đài,

Xưa nay không một vật,

Chỗ nào dính trần ai?

-Kệ còn là một bài thi nhằm dặn dò các đệ tử của chư vị thiền sư để lại khi các Ngài sắp tịch diệt. Sau đây là một bài kệ thị chúng của Thiền sư Mãn Giác do Thích Thanh Từ dịch:



Xuân đi trăm hoa rụng,

Xuân đến trăm hoa cười.

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi!

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua xuân trước một cành mai.

-Trong Đạo Cao Đài, chúng ta thường có những bài kệ như kệ chuông, kệ trống. Đây chúng tôi xin trích một bài kệ chuông cúng Đại đàn hay tiểu đàn:



Thần chung thinh hướng phóng Phong đô,

神 鍾 聲 向 放 酆 都

Địa Tạng khai môn phóng xá cô.

地 藏 開 門 放 赦 辜

Tam kỳ vận chuyển kim quang hiện,

三 期 運 轉 金 光 現

Sám hối âm hồn xuất u đồ.

懺 悔 陰 魂 出 幽 途

Nghĩa là:

Tiếng chuông thiêng liêng hướng đến cõi Phong đô.

Địa Tạng Vương Bồ Tát mở cửa phóng thích các tội hồn.

Đại Đạo Tam Kỳ vận chuyển lằn kim quang hiện ra tạo nên con đường dẫn đến Phong đô.

Các âm hồn ở cõi Phong đô sám hối các tội lỗi thì được đi ra cõi u tối này bằng con đường do lằn kim quang hiện ra ấy.



Khai Kinh k 開 經 偈: Bài kệ mở đầu cho bài “Di Lặc Chơn Kinh”.

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp

無 上 甚 深 微 妙 法



Vô thượng 無 上: Không có gì ở trên, không có gì cao cho bằng, tức là cao hơn hết.

Thậm thâm 甚 深: Rất sâu xa, cao siêu.

Ngôn ngữ thế gian có hạn định, nhưng Pháp vô vi thì cao sâu thâm viễn, không thể nào nghĩ bàn được, cho nên gọi là “thậm thâm” pháp.



Vi diệu 微 妙: Là tinh tế đến cực điểm, tức là huyền vi mầu nhiệm.

Pháp 法: Là một danh từ bao quát gồm nhiều ý nghĩa:

- Đạo, quy luật, nguyên lý tự nhiên chi phối sự diễn biến của mọi sự vật trong vũ trụ.

- Giáo pháp tức là giáo lý của Chí Tôn, Phật Mẫu, chư Phật và các Đấng người đã giác ngộ diễn bày sự thật tuyệt đối bao quát tất cả.

- Những lời dạy của chư Phật, Bồ Tát, Tổ Sư.

- Những phương pháp tu tập để đạt tới sự tỉnh thức, an

lạc, hiểu biết thương yêu là con đường đưa tới giải thoát.

- Giới luật, giới điều trong đời sống tu hành.

- Nguyên lý hay chân lý.

- Thực tại, sự kiện, tâm và vật.

- Vạn hữu, mọi hiện tượng do thân và tâm ta tiếp xúc cũng gọi Pháp.

Ở đây, Pháp là những giáo thuyết của Đức Phật.

Vi diệu Pháp 微 妙 法: Cái pháp thể sâu kín gọi là vi, tinh thông khéo léo, không thể dùng ý mà xét, dùng lời mà bàn là diệu.

Vô vi pháp là một pháp rất vi diệu.



Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp: Những giáo pháp vô thượng của Đức Phật lắm cao siêu mầu nhiệm.

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ

百 千 萬 刧 難 遭 遇



百: Trăm.

Thiên 千: Ngàn.

Vạn 萬: Muôn, mười ngàn.

Bá thiên vạn 百 千 萬: Trăm ngàn muôn. Đây là con số tượng trưng để chỉ số nhiều.

Kiếp 刧: Theo Phật giáo, chữ Kiếp nói cho đủ là Kiếp Ba (kalpa), Hán dịch là Trường thời, là đơn vị thời gian của vũ trụ. Đơn vị thời gian ngắn nhứt là Sát Na, đơn vị thời gian dài nhứt là Kiếp Ba. Kiếp gồm bốn giai đoạn hay thời kỳ: Thành kiếp, Trụ kiếp, Hoại kiếp và Không kiếp.

Kiếp còn là từng chặng một của vòng luân hồi con người: một đời người. Phật giáo phân biệt ba loại kiếp: Tiểu kiếp, Trung kiếp và Đại kiếp.



Nan 難: Khó khăn.

Tao ngộ 遭 遇: Tình cờ găp gỡ, không hẹn mà gặp.

Nan tao ngộ 難 遭 遇: Khó mà gặp được. Đây chỉ sự không có duyên phần gặp gỡ Đức Phật.

Thật vậy, dù trăm ngàn muôn kiếp mà không có duyên phần thì cũng khó gặp đặng Phật. Trong kinh Pháp Cú, Phật có dạy như sau: “Được sinh làm người là khó, được sống còn là khó, được nghe chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời lại càng khó hơn”.

Cổ nhân cũng thường thường nói:

Hữu duyên thiên lý năng tao ngộ,

有 緣 千 里 能 遭 遇,

Vô duyên đối diện bất tương phùng

無 緣 對 面 不 相 逢.

Có duyên phần thì dù xa ngàn dặm cũng có thể gặp nhau, không duyên phần dù đối mặt nhau cũng khó gặp gỡ.

Ở đây, chúng sanh luân hồi trong nhiều kiếp và trải qua nhiều ngươn hội, từ Thượng ngươn, đến Trung ngươn, rồi nay đến Hạ ngươn hầu mãn, lại may duyên lắm mới được gặp thời kỳ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, vì thương chúng sinh, mà giáng cơ khai nền Đại Đạo, như lời Thánh giáo dạy: “Đạo Trời dìu bước nhơn sanh, đường Thánh dẫn người phàm tục. Sanh nhằm lối may mắn đặng gặp một Đạo Chánh, nếu chẳng lo dưỡng tánh trau mình, để bước vào đường Cực Lạc, thoát đọa Tam Đồ, một mai cảnh ủ bông tàn, rốt lại ăn năn vô ích”. Đức Lý Thái Bạch cũng có nói: “Mở một mối đạo chẳng phải là sự thường tình, mà sanh nhằm đời đặng gặp một mối đạo cũng chẳng phải dễ”.

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ: Trăm ngàn muôn kiếp rất khó khăn mới gặp đặng Phật.

Ngã kim thính văn đắc thọ trì

我 今 聽 聞 得 受 持



Ngã 我: Ta, tiếng tự xưng. Đây chỉ Đức Phật.

Phàm những lời của Đức Phật đã thuyết, Ngài A Nan đều lãnh hội, chẳng quên câu nào, nên khi kết tập Kinh, Ngài kể lại lời Phật đã giảng. Do đó chữ Ngã ở các bài kinh bên Phật giáo đều là lời của Ngài A Nan tự xưng.

Còn đây là bài Tân kinh do Đức Phật giáng cơ ban cho, nên chữ Ngã đây là chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Kim 今: Hôm nay, ngày nay.

Thính 聽: Nghe.

Văn 聞: Nghe biết.

Ở những bài kinh bên Phật giáo, hai chữ nầy được viết thành “Kiến văn”, nghĩa là nghe thấy. Do đó câu Kệ thứ ba ở các bài kinh bên Phật giáo thường viết: “Ngã kim kiến văn đắc thọ trì”.



Đắc 得: Được, nhận được.

Thọ 受: Hay Thụ, chỉ việc tiếp nhận thế giới hữu hình để đưa nó vào ý thức, là tin tưởng, vui thích nhận lãnh. Thọ là một trong ngũ uẩn: “Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức”, một trong thập nhị nhân duyên: “Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão tử”.

Trì 持: Gìn giữ, nắm giữ chắc chắn, chấp hành nghiêm túc.

Đắc thọ trì 得 受 持: Được thọ lấy hay vui thích nhận lãnh; và chấp trì, gìn giữ.

Ngã kim thính văn đắc thọ trì: Ngày nay Ta nghe biết, được thọ lấy và gìn giữ.


tải về 0.7 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương