ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ



tải về 1.01 Mb.
trang9/12
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích1.01 Mb.
#3276
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12
nghiệp thiện đã tích lũy sẽ hướng ông đến chỗ lành, đó là chơn lý vậy.

Câu 319: Thân xác con người khi chết rồi thì như khúc gỗ có biết gì đâu.

Câu 320: Linh hồn mới là chủ của con người, hiểu biết hết mọi việc trong đời.

Trong bài kinh Tẫn Liệm có câu:



Khối vật chất vô hồn viết tử,

Đất biến hình tự thử qui căn.

cho ta thấy rằng thân xác là khối hình hài vật chất, con người nếu không có linh hồn thì coi như đã chết, mà khi chết thì thân xác như khúc gỗ vô tri vô giác. Nó là một khối vật chất do đất biến nên hình thể con người, khi mất, hình thể đó cũng trở về đất.

Thật vậy, xác thân con người chỉ là những tế bào xương thịt do cha mẹ tạo ra, được lớn lên nhờ sự nuôi sống của vật thực, là nguồn cung cấp từ đất. Xác thân này theo Phật, do bốn nguyên tố, hay bốn đại là: Đất, nước, gió lửa duyên hợp tạo ra, nên còn gọi là thân tứ đại người phải ăn uống vật thực, hoa quả, đó là những thứ vật chất nơi thế gian nuôi dưỡng nhục thể. Do vậy xác thân con người chính là một khối vật chất, nếu không có linh hồn thì là vật không tri giác.

Sở dĩ con người có sự sống là nhờ sự hiện diện của linh hồn. Linh hồn là một Tiểu Linh Quang của Thượng Đế chiết từ khối Đại Linh Quang để ban cho con người. Vậy Đất sinh ra vật chất tạo ra hình thể, còn Trời ban cho linh hồn con người. Trời đất trong con người hợp lại thì có sự sống, nghĩa là có linh hồn và thể xác. Nếu như linh hồn lìa khỏi xác thân thì thi hài như một khúc gỗ vô tri vô giác, còn linh hồn mới thực là chủ nhân trong con người, thông rõ hết các việc Trời đất và vạn vật.

Theo Mạnh Tử, tính 性 là bản nguyên của Trời phú cho con người, tức là thiên lý chí linh chí diệu. Con người có được tính ấy thì tất sẽ có một cái tâm 心 như vậy.Tâm với tính là một, tâm là phần chủ tể trong con người, hễ hiểu rõ cái tâm thì ta biết rõ cái tính, biết rõ cái tính thì biết rõ việc Trời đất và vạn vật (Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã. Tri kỳ tính, tắc tri thiên hỹ 盡 其 心 者, 知 其 性 也. 知 其 性, 則 知 天 矣).
321. Lúc chung mạng dứt hơi, hồn xuất

Quỉ vô thường sẵn chực đem đi.

323. Dắt hồn đến chốn Âm ty,

Xét xem công quả chẳng ly mảy hào.

Chung mạng 終 命: Hay chung mệnh: Chấm dứt mạng sống, tức là chết.

Quỉ vô thường: Hay vô thường quỉ 無 常 鬼: Một loài quỉ khi con người vừa sắp chết đến dẫn vong hồn xuống cõi Âm phủ cho Diêm Vương xét công tội.

Sẵn chực: Chực chờ sẵn sàng một bên.

Công quả 功 果: Cái kết quả tốt đẹp được hưởng, khi làm những việc thiện, lành để giúp đỡ cho đời hoặc đạo.

Theo luật tự nhiên, hễ có công thì ắt phải có quả. Người nào giúp đỡ kẻ tàn tật, người nghèo khổ hoặc đến Chùa Thất làm công việc tự nguyện. Đó là công việc mang lại kết quả tốt cho mình cho người, nên được gọi là công quả.



Chẳng ly mảy hào: Chẳng sai lìa một chút nhỏ nào, chẳng sơ sót một chút xíu nào.

Câu 321: Lúc mới dứt hơi vừa chết, vong hồn mới xuất khỏi thân xác con người.

Câu 322: Quỉ vô thường sẵn chực chờ một bên đó sẽ dẫn hồn đem đi.

Câu 323: Dắt vong hồn đi về cõi Âm ty.

Câu 324: Để dưới Diêm cung xem xét công quả đã làm được nơi thế gian, không sai chạy một ly nào.
325. Người lương thiện ra vào thong thả.

Kẻ tội nhiều đày đọa rất minh.

Phật, Trời phép lạ hiển linh,

Hành cho tan giác hườn hình như xưa.

Thong thả: Thảnh thơi, không bị ràng buộc bởi hình phạt.

Rất minh: Rất công minh, rất rõ ràng.

Phép lạ: Phép tắc lạ lùng, tức là những sự việc mà cõi thế gian không thể nào nghĩ ra được.

Hiển linh 顯 靈: Sự linh thiêng được hiện rõ ra.

Tan giác: Giác 覺 là sự hiểu biết, tức là chơn thần của con người. Tan giác có nghĩa là tan nát cái chơn thần. Người chết về cõi Âm chỉ còn Chơn thần và Chơn linh. Chơn thần được coi như là cái xác của Chơn linh trong cõi Âm phủ.

Câu 325: Người sống trên thế gian hiền lương, khi chết thì được ra vào thong thả nơi cõi Âm cung.

Câu 326: Còn kẻ có nhiều tội lỗi thì bị đày đọa rất là công minh.

Câu 327: Trời Phật có nhiều phép tắc lạ lùng linh hiển.

Câu 328: Hành hình cho đến nỗi tan nát chơn thần của tội nhơn, rồi được làm phép hườn hình sống lại như trước.
329. Con bất hiếu xay cưa đốt giã,

Mổ bụng ra phanh rã tim gan.

331. Chuyển thân trở lại trần gian,

Sanh làm trâu chó đội mang lông sừng.

Con bất hiếu: Người con không có hiếu thảo với cha mẹ.

Theo đạo lý, công cha mẹ sanh thành dưỡng dục cho con thành người rất thâm trọng, nên bổn phận của con cái phải hiếu thảo cùng với hai đấng song thân.

Từ ngàn xưa không biết bao nhiêu thi ca, kinh sách và các nhà Tôn giáo nói về công lao sinh dưỡng của cha mẹ. Ca dao Việt Nam nói về công đức cao dày ấy như sau:

Công cha như núi Thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng nói lên công Trời biển đó:



Thương thay chín chữ cù lao,

Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình.

Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi cũng viết:



Cù lao đội đức cao dày,

Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.

Kinh Thi cũng nói rằng: “Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao, dục báo thâm ân, hạo thiên võng cực 父 兮 生 我, 母 兮 鞠 我, 哀 哀 父 母 生 我 劬 勞, 欲 報 深 恩, 昊 天 罔 極”, tức là cha sinh ta, mẹ nuôi ta. Thương thay cha mẹ sinh ta khó nhọc, muốn báo ơn sâu, công ơn ấy như Trời cao mênh mông không thể nào trả hết được.

Đạo hiếu là đầu mối trước nhứt của Nho giáo, nên trong sự giáo hóa, Khổng Tử lấy Hiếu Đễ là một nết rất quan trọng trong trăm nết. Ngài dạy rất kỹ lưỡng về việc hiếu với cha mẹ, ông bà. Theo Ngài, người có hiếu không phải nuôi dưỡng cha mẹ là đủ, mà còn phải có lòng kính. Điều nầy Ngài dạy Tử Du như sau : Cái hiếu ngày nay, người ta cho rằng chỉ có thể nuôi dưỡng cha mẹ, đến như loài chó ngựa đều có người nuôi, nuôi mà không kính thì lấy gì để phân biệt ? (Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng, chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ? 今 之 孝 者, 是 謂 能 養, 至 於 犬 馬, 皆 能 有 養, 不 敬 何 以 別 乎).

Ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ, Ngài còn dạy chi ly về việc hiếu như phải quan tâm, lo lắng cha mẹ, làm vui lòng cha mẹ, không đi chơi xa khi cha mẹ còn sống, có đi xa phải cho cha mẹ biết chỗ đi: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương 父 母 在, 不 遠 遊, 遊 必 有 方”. Ngoài ra làm người con hiếu cũng phải biết nối chí của cha mẹ, khéo noi theo việc làm của cha mẹ: “Phù hiếu giả thiện kế nhân chi chí, thiện thuật nhân chi sự giả dã 夫 孝 者 善 繼 人 之 志, 善 述 人 之 事 者 也”. Qua câu này, Ngài lấy chữ thiện là khéo để dạy rằng hễ điều hay của cha mẹ thì nên theo, điều dở nên bỏ, chứ không phải theo một cách mù quán.



Phanh rã: Xẻ ra từng miếng nhỏ.

Chuyển thân 轉 身: Chuyển kiếp trở lại nơi cõi thế gian với một thân xác mới.

Đội mang lông sừng: Đội sừng mang lông, tức là xác thân loài vật, ý nói đầu thai làm loài vật.

Câu 329: Làm con mà bất hiếu, khi chết xuống Âm ty thì bị xay, cưa, đốt, giã.

Câu 330: Và còn bị mổ bụng ra để phanh rã tim và gan.

Câu 331 và 332: Chuyển kiếp trở lại nơi cõi trần gian để sanh ra làm trâu, chó mà đội mang lông sừng.

Câu chuyện có thật ở Trung Hoa xảy ra vào niên hiệu Khang Hy thứ 39 đời nhà Thanh. Chuyện “Người bất hiếu bị chuyển thân trở lại làm heo” được kể lại như sau:

Hầu Nhị ở Kim Đơn vốn là kẻ bất hiếu. Bà mẹ đem gạo giúp đỡ người ăn xin, Hầu Nhị trông thấy nổi giận đánh mẹ và đuổi ra khỏi nhà, vợ con khóc lóc can gián, y cũng không nghe. Chẳng bao lâu khắp mình Nhị sanh ghẻ độc lở lói, hành hạ đau nhức cho đến lúc y mãn phần.

Sau khi chết, Hầu Nhị ứng mộng cho con thấy, bảo rằng: Do cha ngỗ nghịch bất hiếu nên bị phạt đọa làm heo ở nhà Trương Nhị nơi cửa Tuyên Võ tại kinh sư. Con nên qua đó mà chuộc mạng cha, nếu để trễ e không kịp.

Thức dậy đứa con y theo lời, tìm đến nhà Trương Nhị, quả có heo nái vừa mới sanh ra mấy heo con. Trong đó một heo con mình thú mặt người, có râu mép, trạng mạo giống cha mình. Đứa con thương khóc thuật lại duyên cớ, nguyện đưa ra mười lượng vàng xin chuộc đem về. Nhưng Trương Nhị không nghe đem heo con ra giết. Thật là thảm thay!
333. Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,

Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.

335. Vì chưng trinh tiết chẳng gìn,

Có chồng còn lại ngoại tình với trai.

Lẫy lừng: Danh tiếng vang lừng. Ở đây cũng có thể hiểu đầy dẫy.

Hạnh xấu: Tánh nết xấu xa.

Vạc đồng: Cái chảo lớn bằng đồng.

Thảm kinh 慘 驚: Kinh khủng và thảm khốc.

Trinh tiết 貞 節: Cái đức kiên trinh của người đàn bà, tức là cái lòng trong sạch của người đàn bà đối với chồng.

Ngoại tình 外 情: Có tình cảm yêu đương với người ngoài khi đã có vợ hoặc có chồng rồi.

Câu 333: Kìa là những người con gái tánh nết dẫy đầy sự xấu xa.

Câu 334: Bỏ vào vạc đồng để đốt, nấu một cách thê thảm và kinh tâm.

Câu 335: Vì rằng chẳng chịu gìn giữ cái lòng trong sạch của mình đối với chồng.

Câu 336: Khi đã có chồng rồi mà lại ngoại tình với trai.
337. Kẻ tham lợi cột mai cột mối,

Chuốt trau lời giả dối ngọt ngon.

339. Dỗ dành, rù quến gái non,

Làm hư hoại tiết cháu con nhà người.

Tham lợi 貪 利: Có tính tham lam về lợi lộc.

Cột mai cột mối: Vì tiền bạc, làm mai mối để cột buộc hai người con trai và con gái thành vợ chồng với nhau.

Chuốt trau lời: Trau chuốt lời nói, tức là tô điểm thêm lời nói cho đẹp đẽ để thuyết phục một việc gì.

Dỗ dành: Dùng lời nói ngọt ngon để an ủi người.

Rù quến: Dụ dỗ, khuyến dụ người.

Gái non: Gái mới lớn lên, chưa có kinh nghiệm về chuyện đời, con gái còn khờ dại.

Làm hư hoại tiết: Làm hư hỏng cái khí tiết của người con gái. Ở đây có nghĩa là làm hư hoại cái tiết trinh của người đàn bà.

Câu 337 và 338: Còn có kẻ vì tham lợi lộc mà đi làm mai mối cho người. Họ giả dối, dùng lời ngon ngọt, trau chuốt lời nói để cột mai cột mối cho người ta.

Câu 339: Dụ dỗ, quyến rũ những người con gái mới lớn lên.

Câu 340: Làm hư hỏng cái trinh tiết của con cháu nhà người ta.

Trong thời Nho giao, nam nữ thọ thọ bất thân, có nghĩa là trai gái không được phép giao tiếp một cách tự do thân thiết với nhau. Vì vậy, việc hôn nhân giữa hai bên phải nhờ có người làm mai mối. Bởi thế trong xã hội ngày xưa mới có những người làm nghề mai mối, họ chuyên dùng môi mép để gạ gẫm, ngon ngọt mà dụ nhiều gái non lòng nhẹ dạ, gả bán vào những gia đình giàu có để làm hầu thiếp, họ đặng hưởng lợi lớn, gây biết bao khổ đau cho cuộc đời người con gái.



Trong Hồi Dương Nhơn Quả, có kể lại một bản án mà người làm mai mối gây ra tội lỗi như sau: Họ Lý ở huyện Thần Châu ròng nghề làm mai mối, miễn có tiền mướn mà ăn, thì quyết dụ gạt con gái nhà lành, ở đợ, làm bé mà chẳng động lòng thương, đến nỗi làm mai con nít cho ông già, cột mối bà già cho trai nhỏ, bọn ấy không vừa ý, tức mình phát bịnh mà chết hết bảy người, vì không thể sinh đẻ nối đời đặng. Phán: Bởi tội y nói xảo mà rù quến gạt người, nên bị án nặng. Truyền cắt lưỡi, bẻ răng, bỏ xuống hầm đời đời, cho oan hồn bớt tức.
341. Lòng lang độc vui cười hớn hở,

Chốn Diêm đình phạt quở trừng răn.

343. Gông kềm khảo kẹp lăng xăng,

Hành cho đáng kiếp tội căn đã làm.

Lang độc 狼 毒: Độc ác như lang sói.

Lòng lang độc: Lòng độc ác như loài lang sói.

Diêm đình 閻 廷: Đồng nghĩa với Diêm cung 閻 宮, chỉ cõi Âm phủ.

Phạt quở: Hay Quở phạt, tức là dùng lời nói rầy rà khiển trách người.

Trừng răn: Răn cấm và trừng trị.

Lăng xăng: Chạy tới chạy lui, chạy qua chạy lại, cảnh tượng nhộn nhịp.

Đáng kiếp: Xứng đáng với tội đã gây ra trong kiếp sanh.

Tội căn 罪 根: Cái gốc rễ của tội lỗi đã gây ra từ nơi kiếp trước.

Câu 341: Lòng độc địa như lang sói, lúc còn thời thì vui cười hớn hở.

Câu 342: Khi chết rồi, xuống chốn Diêm đình thì bị quở phạt, răn dạy hay trừng trị.

Câu 343: Nơi Diêm đình lăng xăng với những hình phạt khảo kẹp bằng gông kềm.

Câu 344: Trừng phạt một cách đau đớn cho xứng đáng với cái tội đã làm trong kiếp sống nơi cõi thế gian.
345. Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,

Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.

347. Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

Ngục đao kiếm: Hay đao kiếm ngục 刀 劍 獄: Trong ngục chứa toàn đao và kiếm.

Cầm giam: Hay giam cầm 監 擒, tức là trói buộc hay giam giữ người có tội lỗi.

Phạm ác: Hay ác phạm 惡 犯, tức những tội phạm gian ác.

Giáo gươm: Hay gươm giáo là hai loại binh khí thời xưa dùng để đâm và chém.

Tư bề: Bốn phương, tứ phía, bốn bên, tứ hướng đều cùng một nghĩa.

Ngục môn 獄 門: Cửa ngục.

Câu 245: Ngục có chứa đao kiếm dùng để giam cầm những tội phạm gian ác.

Câu 246: Để hành phạt một cách ghê gớm với kẻ có tánh gian dâm.

Câu 347: Bốn phía ngục đều có cắm những ngọn gươm giáo bén nhọn.

Câu 348: Gươm giáo chung quanh ngục sẽ đâm chém tội phạm, khiến cho máu chảy tràn trề cửa ngục.
349. Hành đến chết hườn hồn sống lại,

Cho đầu thai ở tại thanh lâu.

351. Ngày đêm đưa rước chực chầu,

Công bình Thiên Đạo phép mầu chí linh.

Hành đến chết: Trừng phạt cho đến chết.

Ở đây, chúng ta biết rằng con người khi chết, xác phàm đã được táng lại nơi cõi thế gian, quỉ vô thường chỉ dẫn vong hồn người chết về cõi Âm phủ. Như vậy, khi thọ hình phạt nơi Diêm đình, người chết chỉ còn lại Chơn thần và Chơn hồn mà thôi.

Thế mà theo những câu kinh trên, sao lại có thân xác để “xay, cưa, đốt, giã”, để “mổ bụng ra phanh rã tim gan”, hoặc sao lại còn “chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn”, hoặc “Hành đến chết huờn hồn sống lại”. Đây là những hình phạt nơi Âm phủ rất nên mầu nhiệm mà người ở thế khó nghĩ bàn được, đúng như lời Kinh đã dạy:

Phật Trời phép lạ hiển linh,

Hành cho tan giác, hườn hình như xưa.

Nhưng chúng ta nên biết Chơn thần của con người là một thể xác thiêng liêng do Phật mẫu tạo hình, là một thể chứa nhiều dục vọng và cảm giác. Nếu là một tội phạm nơi cõi Âm thì dĩ nhiên còn nhiều dục vọng và cảm giác, cho nên Chơn thần mới nặng nề, trọng trược mà kéo Chơn linh chịu chung hình phạt. Khi thọ hình, Chơn thần tưởng như mình còn sống, còn có thân xác, còn có tim gan, máu huyết, còn biết đau đớn, khổ sở. Những hình phạt nặng đến nỗi Chơn thần nghĩ là mình chết đi và được phép huyền diệu của Thiêng Liêng cho hườn hồn như sống lại. Đó thực ra là do cái cảm giác của Chơn thần khi bị thọ hình mà thôi.



Thanh lâu 青 樓: Lầu xanh, nơi chứa những gái mãi dâm, tức là nhà chứa điếm.

Thời xưa, thanh lâu dùng để chỉ nhà phú quí. Đời Tề, vua Võ Đế bảo xây dựng lầu cao, phía trên sơn xanh, nên chỗ vua ở thời bấy giờ cũng gọi là thanh lâu. Nhưng từ khi Lương Lưu Diếu làm câu thơ như sau: Xương nữ bất thăng sầu, kết thúc hạ thanh lâu (Xương nữ sầu mênh mông, thanh lâu nàng bước xuống), thì hai chữ thanh lâu chuyên dùng để nói về nhà chứa điếm.(Theo Hán Việt Từ Nguyên, Bửu Kế)



Chực chầu: Hay chầu chực, chỉ sự sẵn sàng chờ đợi để hầu hạ.

Phép mầu: Phép tắc mầu nhiệm, phép huyền diệu.

Chí Linh 至 靈: Rất linh thiêng, chỉ Đức chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Câu 349: Hành hình cho đến chết đi rồi cho hườn hồn để sống lại.

Câu 350: Cho đầu thai lên cõi Dương gian để làm gái lầu xanh.

Câu 351: Nơi lầu xanh, ngày đêm phải chầu chực, đưa rước khách ăn chơi.

Câu 352: Đạo Trời đất rất là công bình, và sự thưởng phạt của Thượng Đế rất là huyền diệu.
353. Móc nhọn vắt treo mình nhỏng nhảnh.

Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.

355. Ấy là phạt kẻ lường cân,

Đo gian đong thiếu Thánh Thần chẳng kiêng.

Nhọn vắt: Hết sức nhọn và bén.

Treo mình nhỏng nhảnh: Treo thân mình lơ lửng, đưa qua đưa lại. Tục gọi là treo tòn teng.

Cối đạp đồng: Cối giã có chày đạp bằng đồng.

Giã: Lấy chày đập cho nát, gọi là giã.

Dần: Lấy chày đâm nhiều lần cho mềm ra, gọi là dần.

Lường cân: Ăn gian, ăn lường bằng cách cân non, đong thiếu.

Đo gian: Ăn gian bằng cách đo thiếu.

Đong thiếu: Đong lường không đủ để ăn gian cho mình.

Thánh Thần chẳng kiêng: Chẳng kiêng nể các Đấng Thánh Thần.

Câu 353: Hình phạt treo mình tòn teng với cái móc nhọn vắt.

Câu 354: Rồi đưa vào cối đồng để dùng chày giã, dần rất mạnh.

Câu 355: Tội ấy là để phạt những kẻ cân lường không đủ, có lợi cho mình mà hại người khác.

Câu 356: Và xảo trá bằng cách đo gian đong thiếu, chẳng kiêng sợ gì đến Thần Thánh.
357. Bầy chó dữ mang xiềng chạy đại,

Thấy tội nhơn xúm lại phân thây.

359. Hình nầy phạt kẻ dại ngây,

Khinh khi Tam giáo đọa đày thế ni.

Mang xiềng: Mang sợi dây lòi tói, hay dây xích, bị trói buộc bằng dây xiềng, dây xích.

Chạy đại: Chạy càn, tức là chạy thẳng vào, khó ngăn cản lại đặng.

Phân thây: Hay phân thi 分 屍: Chia thi thể ra làm nhiều mảnh.

Dại ngây: Khờ ngây dại dột, tức chỉ những người thiếu trí hiểu biết.

Tam Giáo 三 教: Ba nền Tôn giáo lớn ở cõi Á Đông. Đó là Phật giáo do Đức Thích Ca Mâu Ni làm giáo chủ; Tiên giáo do Đức Thái Thượng Lão Quân làm giáo chủ; và Nho giáo do Đức Khổng Thánh Tiên Sư làm giáo chủ.

Thế ni: Thế này, như thế này vậy.

Câu 357 và 358: Hình phạt cho bầy chó hung dữ mang xiềng xích chạy xong vào người, xúm nhau lại cắn xé thi thể tội nhân ra thành nhiều mảnh.

Câu 359: Hình này dùng để phạt những kẻ khờ ngây, dại dột.

Câu 360: Và những người khinh khi Tam giáo nên mới bị đày đọa như thế nầy.
361. Ao nước nóng sôi thì sục sục,

Dầm cho người rã rục thịt xương.

363. Cũng vì lòng dạ vô lương,

Đệ huynh bất mục chẳng thương đồng bào.

Ao nước nóng: Ao chứa nước nóng đang sôi, lên hơi sục sục.

Dầm: Ngâm vào nước một thời gian lâu.

Rã rục: Hay rục rã, nghĩa là tan nhừ ra.

Vô lương 無 良: Không lương thiện, người hung ác.

Bất mục 不 睦: Không hòa thuận nhau.

Lời của sách Ích Trí dạy như sau: Quân thần bất tín, quốc bất an; phụ tử bất tín, gia bất mục; Huynh đệ bất tín, tình bất thân; bằng hữu bất tín, giao dị sơ 君 臣 不 信, 國 不 安; 父 子 不 信, 家 ; 兄 弟 不 信, 情 不 親; 朋 友 不 信, 交 易 疏 (Vua tôi chẳng tin nhau, nước chẳng yên ổn; cha con chẳng tin nhau, nhà chẳng hòa thuận; anh em chẳng tin nhau, tình chẳng thân; bạn bè chẳng tin nhau, giao kết sơ).



Đồng bào 同 胞: Cùng chung một bào thai, chỉ anh em cùng một cha một mẹ.

Người trong một nước cũng gọi là “Đồng bào”, vì xem nhau như con một cha một mẹ, do sự tích Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh 100 người con, cho nên người dân Việt gọi là giống Tiên Rồng và coi nhau như đồng bào.



Câu 361: Hình phạt dùng ao nước nóng sôi sục sục để trừng trị tội nhân.

Câu 362: Dầm người vào đó cho rục rã tất cả thịt xương.

Câu 363: Cũng bởi vì lòng dạ không hiền lành, không lương thiện.

Câu 364: Khiến nên chẳng thương yêu anh em ruột thịt và chẳng hòa thuận cùng nhau.

Thánh hiền ngày xưa có quan niệm rằng tình nghĩa anh em như là tay chân, tình nghĩa vợ chồng như xiêm áo, trong ca dao Việt Nam cũng có câu:



Anh em như thể chân tay,

Vợ chồng như áo cởi ngay tức thì.

Cổ ngữ cũng có nói: Thế gian tối nan đắc giả huynh đệ 世 間 最 難 得 者 兄 弟, nghĩa là cái khó kiếm được nhứt ở thế gian là anh em. Câu này cho chúng ta thấy rằng tình nghĩa anh em thực là nồng nàn, thắm thiết, rất cao quý và thiêng liêng.

Nếu đệ huynh bất mục, tức là anh em chẳng hòa thuận cùng nhau thì chẳng khác gì “củi đậu nấu đậu”, nghĩa là anh em chẳng những không thương yêu nhau mà còn muốn hại nhau như câu chuyện sau được trích từ sách Thế Thuyết:

Tào Phi, con của Tào Tháo, muốn hại em ruột của mình là Tào Thực, biểu trong bảy bước phải làm một bài thi, không làm xong, sẽ bị xử tử. Tào Thực liền ngâm rằng:

煮 豆 燃 豆 萁

Chử đậu nhiên đậu ki,

豆 在 釜 中 泣



Đậu tại phủ trung khấp.

本 是 同 根 生



Bổn thị đồng căn sanh,

相 煎 何 太 急



Tương tiễn hà thái cấp!

Nghĩa là:



Nấu đậu chụm cây đậu,

Hạt đậu trong nồi khóc,

Vốn cùng một gốc sanh,

Đốt nhau chi quá gấp?!

Tào Phi xem xong bài thi, rất nên cảm động, bèn tha cho em mình là Tào Thực.


365. Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,

Thấy dùn mình tán đởm rất ghê.

367. Thây người máu chảy dầm dề,

Tiếng la than khóc tư bề rùm tai.

Gộp núi: Mỏm núi, tức là những mỏm đá núi nhọn nhô ra ngoài.

Chơm chởm: Nhọn tua tủa ra.

Táng đởm: Hay táng đảm 喪 膽: Mất mật. Vì mật là một bộ phận chủ chốt giúp cho con người trở nên gan dạ. Nghĩa bóng: Hết sức sợ hãi, hoảng sợ. Người ta thường dùng thành ngữ “Kinh tâm táng đởm” để chỉ sự sợ hãi.

Dầm dề: linh láng, chỉ sự ướt đến độ lan tràn ra ngoài.

Tư bề rùm tai: Tiếng ầm ĩ bốn phía làm ồn lỗ tai.

Câu 365: Lại có những mỏm núi mọc tua tủa ra những ngọn đao bén nhọn.

Câu 366: Nhìn thấy những gộp núi đó bắt dùn mình, mà kinh hồn mất vía.

Câu 367: Thây người nằm oằn oại, máu chảy ra dầm dề.

Câu 368: Ba bên bốn phía tiếng than khóc, rên la làm rùm cả lỗ tai.
369. Phạt những kẻ sửa ngay ra vạy,

Tớ phản thầy, quan lại bất trung.

371. Hành rồi giam lại Âm cung,

Ngày đêm đánh khảo trăng cùm xiềng gông.

Sửa ngay ra vạy: Sửa những điều ngay thẳng ra những điều tà vạy, chỉ hạng người chuyên làm điều gian tà giả dối.

Tớ phản thầy: Đầy tớ phản lại chủ.

Quan 官: Những người thay mặt triều đình hay nhà nước để cái trị dân.

Lại 吏: Những viên chức làm việc dưới quyền các quan.

Bất trung 不 忠: Chẳng trung thành, nghĩa là chẳng ngay với vua hay nước. Người bất trung là người có lòng phản bội.

Giam lại Âm cung: Nhốt lại ở cõi Âm phủ.

Đánh khảo: Đánh đập tra khảo.

Trăng: Còn gọi là cùm hay tróng, là một dụng cụ tra khảo, dùng để khóa chơn tội phạm vào một chỗ.

Xiềng: Dùng dây xích để khóa tay và chơn của tội phạm.

Gông: Lấy khung gỗ có khóa để tròng vào cổ và hai tay của tội nhơn.

Câu 369: Hình phạt trên để hành kẻ chuyên sửa điều ngay ra điều tà vạy.

Câu 370: Và những kẻ làm đầy tớ phản lại chủ, làm quan, lại chẳng trung thành.

Câu 371: Hành phạt xong rồi giam tội phạm ở lại cõi Âm cung.

Câu 372: Để đêm ngày xiềng xích , trói trăng hoặc đánh đập, khảo tra.
373. Hình Bào lạc cột đồng vòi vọi,

Đốt lửa hồng ánh giọi chói lòa.

375. Trói người vào đó xát chà,



Vì chưng hung bạo đốt nhà bắn săn.

Bào lạc 炮 烙: Một thứ dụng cụ dùng để tra tấn tội nhơn rất ghê gớm.

Cột đồng: Hay đồng trụ 銅 柱: Một cây cột bằng đồng, tức là cây trụ đồng của bào lạc.

Hình phạt này có vào thời nhà Thương do Trụ Vương nghĩ ra. Lúc ấy, Trụ vương nghe lời Đắc Kỷ bày ra hình Bào lạc để giết hại người tôi trung. Hình bào lạc này được chế ra để xử Bà Khương Hoàng Hậu.



Sách Liệt Nữ Truyện chép: Một cột đồng dựng đứng có bôi mỡ, bên trong đốt than cháy đỏ rực. Tội nhân bị cột vào trụ đồng cho đến chết cháy như quay.

Vòi vọi: Sừng sựng.

Ánh giọi chói lòa: Ánh sáng giọi chói lòa ra ngoài.

Hung bạo 凶 暴: Hung tàn bạo ngược, chỉ sự hung ác dữ tợn.

Bắn săn: Săn bắn chim hoặc thú, tức là săn bắt chim thú bằng cách bắn tên hoặc bắn súng.

Câu 373 và 374: Hình phạt bằng bào lạc, tức là một cây cột đồng cao vòi vọi, bên trong đốt cho lửa cháy hồng áng sáng giọi ra chói lòa.

Câu 375: Trói tội phạm vào bào lạc để xát chà cho cháy phỏng.

Câu 376: Chịu tội ấy bởi vì tánh tình hung bạo đốt nhà người hay săn bắn chim thú.
377. Có cọp dữ nhăn răng đưa vấu,

Gặp tội nhơn quào quấu xé thây.

379. Ấy vì lòng dạ chẳng ngay,

Giết người lấy của bị nay hình nầy.

Đưa vấu: Giương cái móng vuốt để vồ con mồi.

Quào quấu: Lấy móng và vuốt để cào cấu vào thân người.

Xé thây: Xé xác người.

Lòng dạ chẳng ngay: Người có tâm không ngay thẳng, người gian tà, xảo trá.

Giết người lấy của: Giết người để cướp giựt của cải.

Câu 377: Hình phạt bằng cách liệng vào cọp dữ đang nhăn răng đưa móng vuốt ra.

Câu 378: Gặp được người có tội nhảy đến quào quấu để xé thây.

Câu 379: Ấy là vì có lòng dạ chẳng ngay thật.

Câu 380: Giết chết người để lấy của nên nay bị thọ hình này.
381. Ao rộng lớn chứa đầy huyết phẩn

Xô người vào, lội lặn nhờm thay!

383. Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,

Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.

Huyết phẩn 血 糞: Máu huyết và phân người.

Nhờm thay: Ghê tởm thay.

Tanh hôi mình mẩy: Thân mình dính dơ bẩn nên bay mùi tanh hôi.

Vấy đầy: Dính đầy.

Trồi lên hụp xuống: Nổi lên chìm xuống, chỉ sự chới với dưới ao khi chìm khi nổi.

Câu 381: Dùng cái ao rộng lớn, trong đó chứa đầy những máu và phân người.

Câu 382: Xô tội nhơn xuống đó cho lội lặn chỗ dơ bẩn, thật là gớm ghiếc thay.

Câu 383: Thân mình dính đầy ô uế nên bay hơi mùi tanh hôi khó chịu.

Câu 384: Ở dưới ao, thân bị trồi lên hụp xuống, song khi trồi lên lại còn bị gậy cây đánh đầu.
385. Để hành kẻ chứa sâu, lường của

Trù ếm người, chưởi rủa Tổ tông.

387. Đồ dơ giặt đổ rạch sông,

Đương khi uế trược thẳng xông chỗ thờ.

Chứa xâu: Tổ chức và chứa bài bạc để thu tiền người tới đánh, gọi là chứa xâu.

Lường của: Lừa gạt để lấy tiền và của cải vật chất của người.

Trù ếm: Ghét người, nên nguyền rủa, trù dập người, hoặc dùng bùa chú ếm đối người cho bị đau bệnh, chết chốc.

Đồ dơ: Chỉ quần áo dơ của phụ nữ có kinh nguyệt.

Uế trược: Hay uế trọc 穢 濁:dơ bẩn hôi hám.

Đương khi uế trược: Đang khi bị dơ mình, tức người phụ nữ đang lúc có kinh nguyệt.

Chỗ thờ: Nơi thờ tự các Đấng hay tổ tông ông bà.

Câu 385: Hình phạt trên để hành kẻ chứa bài bạc lấy xâu, lừa gạt người lấy của.

Câu 386: Hoặc trù rủa ếm đối người, hoặc mắng chửi tổ tông ông bà.

Câu 387: Giặt quần áo dơ của phụ nữ có kinh nguyệt rồi đổ nước xuống rạch sông.

Câu 388: Và phụ nữ đang lúc dơ mình xông thẳng vào nơi thờ tự.

Tội hình này được Ngài Mục Kiền Liên xuống Địa ngục vào nơi Huyết bồn trì chứng kiến và kể lại như sau:

Huyết bồn trì là ao đầy máu, những tội nhân đầu bù tóc rối, tay bị kềm kẹp. Mỗi ngày ba lần, ngục tốt quỉ vương sai đưa máu đến bắt tội nhân uống, nếu không uống, tức thì chúa ngục dùng gậy sắt đánh kêu la thảm thiết. Ngài Mục Kiền Liên bèn hỏi chúa ngục rằng: Tại sao chỉ có những người đàn bà chịu tội lỗi như thế? Chúa ngục đáp: Vì những người đàn bà trong khi sinh nở, đem đồ dơ bẩn giặt giũ biển sông hoặc giếng ao rồi nước từ đấy chảy đi nơi khác, gặp người thành tâm múc nước ấy uống hoặc cúng các Đấng Thiêng Liêng, vì vậy khi chết, phải chịu tội nghiệp này.
389. Vào bếp núc chỗ nhơ không kể,

Phơi áo quần chẳng nể Tam quan.

391. Buông lời tục tĩu dâm loàn,

Lâu mau, nặng nhẹ, chịu mang tội nầy.

Bếp núc: Chỗ đặt lò, bếp để nấu nướng đồ ăn.

Chỗ nhơ: Đây chỉ người đàn bà lúc bị dơ mình, tức lúc có kinh nguyệt.

Chú Thích: Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh in năm 1936 đến 1975 đều viết: “vào bếp núc chỗ nhơ không kể” , là ý muốn nói về trường hợp của người đàn bà, mà là người đàn bà lúc bị dơ mình, nghĩa là lúc có kinh nguyệt. Nhưng Kinh Sám Hối của Minh Lý Đạo viết: “Vào bếp núc, lúc nhơ chẳng kể”, chỉ cái nghĩa rõ ràng hơn.

Tam quan 三 關: Tên một cái cổng lớn, phần nhiều là cửa chùa, cửa các phủ thờ có ba lối đi vào: Cửa giữa, cửa tả, cửa hữu.

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh từ trước đến nay đều viết là Tam quan (không có chữ g). Đây chỉ cái cổng Tam quan, nếu ở nhà thường dân có lẽ chỉ trước sân nhà.

Trong quyển Ngọc Lịch Minh Kinh có viết: “đổ đồ nhơ uế xuống sông, phơi áo quần dơ giọi bóng Tam quang là mặt nhựt, mặt nguyệt, ánh sao, hoặc nhơ uế mà để lên chỗ thờ phượng, vào bếp núc. Các tội trên đều bị xô xuống Tạp trì (hay huyết ô trì), là ao huyết dơ mà lặn hụp, tùy theo tội nhiều ít phạt ở lâu mau”.

Như vậy, theo Ngọc Lịch Minh Kinh thì chữ Tam Quang 三 光 (có chữ g) có nghĩa là nhựt, nguyệt, tinh, tức là không phơi áo quần dơ dưới ánh mặt trời, mặt trăng và ánh sao (Điều này thật khó, bởi vì phơi áo quần phải phơi chỗ có nắng, tức dưới ánh mặt trời rồi còn gì).



Buông lời tục tĩu: Nói ra lời tục có tính cách dâm đảng.

Dâm loàn: Hay dâm loạn 淫 亂: Dâm dục đến rối loạn cả nền tảng luân lý , đạo đức.

Câu 389: Người đàn bà khi vào nơi bếp không kiêng cử lúc bị dơ mình.

Câu 390: Và phơi quần áo chẳng kiêng cử đến cổng Tam Quan (hoặc phơi trước sân nhà).

Câu 391: Nói ra lời dâm bôn, tục tĩu trái với nền luân lý, đạo đức.

Câu 392: Thì sẽ bị mang tội hình này, tùy theo lâu mau hay nặng nhẹ.
393. Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,

Hơi tanh hôi thường bữa lẫy lừng.

395. Gạo cơm hủy hoại quen chừng,

Phạt ăn dơ dáy mới ưng tội hình.

Giòi tửa: Ruồi đẻ ra một dề trứng, được gọi là tửa. Tửa (hay trứng) mới nở ra giòi, là một loại trùng sống lúc nhúc nơi chỗ dơ bẩn hôi thúi.

Thường bữa lẫy lừng: Hằng ngày hôi thúi xông lên dữ dội.

Hủy hoại quen chừng: Quen tánh hủy hoại (cơm gạo).

Mới ưng tội hình: Hình phạt như vậy mới xứng đáng với cái tội đã làm. Tức là phạt ăn dơ dáy mới vừa với tội hủy hoại cơm gạo.

Câu 393: Một cái ao rộng và sâu, trong ấy chứa đầy giòi tửa.

Câu 394: Hằng ngày hơi tanh hôi xông mùi lên lừng lẫy.

Câu 395: Những kẻ quen tánh hủy hoại gạo cơm.

Câu 396: Nên phạt cho ăn dơ dáy mới xứng đáng với cái tội hình đã mang.
397. Cột trói ngược quá kinh rất lạ,

Quỉ Dạ xoa đánh vả kẹp cưa.

399. Vì chưng chưởi gió mắng mưa,

Kêu tên Thần, Thánh chẳng chừa chẳng kiêng.

Quá kinh rất lạ: Quá kinh sợ và rất lạ lùng.

Dạ Xoa 夜 叉: Tiếng Pali Yakkha.

1. Một loài Thần (Thần dạ xoa) có sức mạnh khác thường.

2. Một loại quỉ có hình thù cổ quái ở cõi Âm phủ để Diêm Vương sai khiến đi bắt và hành phạt các tội hồn.

Còn là một loài quỉ hay phá phách người tu hành bằng cách gây tiếng động ồn ào trong lúc họ thiền.

Theo Kinh Duy Ma, quỉ Dạ xoa, còn gọi là Dược xoa, dịch nghĩa là Tiệp tật quỉ (quỉ nhanh nhẹn). Có ba loại: Một ở mặt đất, hai ở hư không, ba là thiên dạ xoa.

Vì chưng: Vì rằng, vì bởi.

Chẳng chừa chẳng kiêng: Chẳng chừa bỏ và cũng không kiêng nể gì.

Câu 397: Hình phạt kỳ lạ và kinh tâm nhứt, là trói buộc tội nhơn thòng đầu xuống.

Câu 398: Rồi quỉ Dạ xoa đến xử phạt bằng cách đánh, vả, kẹp cưa.

Câu 399: Cũng bởi vì chửa gió mắng mưa.

Câu 400: Hoặc kêu tên các Đấng Thần, Thánh chẳng chừa hay chẳng kiêng nể gì cả.

Những hình phạt này dành cho tội lỗi do lổ miệng mà ra.

Khẩu nghiệp cũng là một nghiệp rất nặng mà người tu cần phải thận trọng gìn giữ, trong Thánh thi có viết:

Nho nhã con tua tập tánh tình,

Dưới đời đừng tưởng một mình lanh.

Một câu thất đức thiên niên đọa,

Nhiều nỗi trầm luân bởi ngọn ngành.

Theo Nho giáo, mọi sự thị phi, phiền não cũng đều do miệng mà ra, vì vậy ông Châu Tử mới khuyên như sau: “Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành. Thị phi chỉ vị đa khai khẩu, phiền não nhân do cưỡng xuất đầu 守 口 如 缾, 防 意 如 城. 是 非 只 為 多 開 口, 煩 惱 皆 因 強 出 頭”: Phải giữ miệng kín như miệng bình, phòng ý tứ như giữ thành. Phải trái chỉ do miệng nói nhiều, phiền não đều ở sự gắng gượng chiều lòn mà ra.

Như vậy, người tu hành cần phải biết khẩu nghiệp mang đến một hình phạt rất nặng nề. Tỷ như người biết ăn chay, lo cúng kiếng, mỗi khi có ai xúc phạm đến thì la lối chửi rủa, không kể nhỏ lớn. Đối với Trời đất, việc mưa nắng là sự thường tình nơi nhơn gian, thế mà lại có kẻ dám “chửi gió mắng mưa”, kêu tên các bậc Thần Thánh, chẳng kiêng dè nể sợ là gì, khiến nên phải mang tội hình kinh lạ này.
401. Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,

Tra tội nhơn, gian giảo ngược ngang.

403. Hành người bế địch, trợ hoang,

Thừa năm hạn đói mưu toan bức nghèo.

Bàn chông nhọn: Một dụng cụ làm bằng miếng bản nhỏ trên đó lởm chởm nhiều hàng cây đinh nhọn hoặc sắt nhọn, để gài bẫy người. Ở đây, bàn chông nhọn là một hình cụ dùng để tra khảo tội nhơn nơi Âm phủ.

Bế địch 閉 糴: Bế là đóng cửa. Địch là Mua thóc ở xử ngoài mang về xứ mình (nhập cảng). Bế địch: Đồng nghĩa với bế quan, đóng ải quan, không để cho lúa gạo nhập cảng.

Trợ hoang 助 荒: Hoang là thất mùa lúa. Trợ hoang: Trợ giúp nạn thất mùa.

Dân chúng bị thiên tai mất mùa, không có đủ lúa gạo để ăn, cần phải mua lúa gạo từ nước ngoài để cứu đói, nhưng có những người có thân thế làm cho việc nhập cảng gạo bị ngưng trệ, giá lúa gạo cao lên, để độc quyền bán ra hầu thâu lợi thật nhiều.



Thừa năm hạn đói: Nhơn cơ hội nắng hạn, thất mùa lúa, dân chúng đói khổ.

Mưu toan bức nghèo: Mưu tính để áp bức dân nghèo.

Câu 401: Hình phạt này bắt tội nhơn nằm lên bàn chông nhọn để đánh khảo liền liền.

Câu 402: Tra tấn tội nhơn một cách nặng nề những người gian giảo, ngang ngược.

Câu 403: Hình phạt này để hành người tìm cách không cho lúa gạo nhập cảng để trợ giúp việc thất mùa, khiến cho lúa gạo cao giá, người nghèo khó càng thêm thiếu đói.

Câu 404: Nhơn dịp những năm hạn hán thất mùa, mưu toan áp bức dân nghèo bằng cách đầu cơ tích trử.
405. Thành Uổng tử cheo leo gớm ghiếc,

Cầm hồn oan rên xiết khóc than.

407. Dương gian ngỗ nghịch lăng loàn,

Liều mình tự vận không màng thảo ngay.

Uổng tử 枉死: Không đáng chết mà chết, chết một cách oan ức, hay chết oan vì tự tử.

Thành Uổng Tử: Hay Uổng Tử thành 枉 死 城: Một cái thành nơi Âm phủ, dùng để giam giữ các vong hồn của người khi ở dương thế bị chết do tự tử.

Ngọc Lịch Minh Kinh có viết: “Thế tục nói sái rằng, ai bị thác oan thì hồn bị cầm nơi thành Uổng Tử. Đời nghe lưu truyền lâu, cũng tin là thiệt! Sao không xét cho đủ lý, người đã thác oan còn cầm ngục là nghĩa gì? Cho đi thong thả chớ không cấm cố, song nán đợi kẻ giết mình xuống Âm phủ, hành tội trước mặt hồn oan cho hết tức, rồi mới cho đi đầu thai. Còn thành này (Thành Uổng Tử) để giam những kẻ vô cớ giận lẫy mà tự giết mình, trầm mình, thắt họng, uống thuốc độc…giam đỡ đợi hành tội, chưa đặng đầu thai”.



Cheo leo gớm ghiếc: Đứng sừng sựng một cách vắng lặng ghê gớm.

Cầm hồn oan: Hay cầm oan hồn 擒 冤 魂: Giam những hồn bị oan uổng.

Ngỗ nghịch 忤 逆: Làm trái ý người, ngang bướng, xấc xược.

Tự vận: Hay tự vẫn 自 刎: Tự mình cắt cổ của mình mà chết, gọi là tự vẫn.

Không màng thảo ngay: Không kể gì đến chữ hiếu với cha mẹ và chữ trung với đất nước. Thảo ngay là trung hiếu 忠 孝.

Câu 405: Thành Uổng Tử đứng cheo leo thấy mà gớm ghê.

Câu 406: Trong ấy dùng để giam cầm những oan hồn nên đầy những tiếng rên than khóc lóc.

Câu 407: Khi còn sống ở Dương gian thì ngỗ nghịch, lăng loàn.

Câu 408: Liều mạng sống mình bằng cách tự vận chẳng kể gì đến việc thảo ngay.
409. Xuống Địa ngục đọa đày hành mãi,

Đúng số rồi còn phải luân hồi.

411. Hóa công xem xét đền bồi,

Lành siêu dữ đọa thêm nhồi tội căn.

Đoạ đày hành mãi: Luôn luôn bị hành hình và bị đày đọa một cách khổ sở.

Đúng số rồi: Đúng theo số mạng rồi, tức là đúng theo cái nghiệp lực mà mình đã làm khi còn ở thế gian.

Lành siêu: Khi ở thế gian làm việc lành thì chểt sẽ được siêu thoát.

Dữ đọa: Khi ở thế gian làm những việc hung dữ thì chết sẽ bị đọa lạc.

Chúng ta nên biết siêu và đọa là hai đường đi của các Chơn linh. Khi còn ở Dương thế nếu khôn, lo việc làm lành thì sẽ được siêu thăng vào cõi Thiêng Liêng Hằng Sống, là nơi Cực Lạc, Vĩnh Hằng; nếu dại làm những việc hung dữ thì sẽ bị rơi vào đường đọa, cõi Phong đô kềm thúc:



Lành dữ hai đường đọa với siêu,

Đòn cân tội phước trả mai chiều.

Khôn lên bờ giác làm Tiên Phật,

Dại xuống mê đồ hóa quỉ yêu.

Câu 409: Bị đọa xuống Địa ngục thì hồn bị đày một cách khổ sở và bị hành hình mãi mãi.

Câu 410: Đúng theo số định rồi thì vong hồn còn phải chịu luân hồi.

Câu 411: Đấng Hóa Công sẽ xem xét hành vi khi còn nơi Dương thế sẽ thưởng phạt đền bồi.

Câu 412: Lành thì được siêu thăng, dữ thì bị đọa lạc và nhồi thêm những tội căn.
413. Cầu Nại Hà bắc giăng sông lớn,

Tội nhơn qua óc rởn dùn mình.

415. Hụt chơn ván lại gập ghình,

Nhào đầu xuống đó cua kình rỉa thây.

Cầu Nại Hà: Hay Nại Hà kiều 奈 河 橋: Tên một con sông. Sách Tuyên Thất Chí của Trương Độc chép: Đổng Quang chết, hồn đến một con sông rộng không đầy vài thước, nước chảy về hướng tây nam, tục gọi là cầu Nại Hà, chảy từ Địa phủ ra. Quang nhìn nước thấy toàn là huyết, mùi tanh hôi không thể chịu được (Hán Việt Từ Nguyên, Bửu Kế).

Theo Phật giáo, ở cõi Âm phủ có con sông lớn, trong ấy có các loại thủy tộc như rắn, cua, kình rất dữ tợn. Tội nhơn đến đó không thể nào qua sông đặng, chỉ những người có đầy đủ phước đức mới đi qua cầu Nại Hà được, còn những kẻ hung dữ đều bị té nhào xuống sông để cho cua kình rỉa thây.



Ốc rởn dùn mình: Sợ đến nỗi thân mình da mọc đầy ốc, mình mẩy run bần bật.

Gập ghình: Không vững chắc, bị lung lay và nhún nhẩy.

Kình 鯨: Cá kình. Hình tuy là giống cá, nhưng thực ra thuộc về loài thú. Có con to dài đến tám chín mươi thước.

Câu 413: Trên sông Nại Hà ở cõi Địa ngục có bắc một cây cầu giăng qua sông lớn.

Câu 414: Tội nhơn đi qua cầu đó khiến thân mình sợ hãi rùn mình.

Câu 415 và 416: Qua đến giữa cầu, ván bị gập ghình, hoảng sợ nên chơn bị hụt mà nhào đầu xuống đó khiến cho cua kình rỉa thây.
417. Nhiều thứ rắn mặt mày dữ tợn,

Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người.

419. Gặp thây nuốt sống ăn tươi,

Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.

Mắt trợn dòm người: Trợn mắt lên dòm ngó người, bởi vì những loại rắn dưới đây bị đói, khi thấy người đi qua thì ngóng cổ trừng mắt dòm để chờ ăn thịt.

Nuốt sống ăn tươi: Ăn thịt tươi sống, không chặt nấu, để nguyên như vậy mà ăn.

Móc bươi: Moi móc chuyện xấu xa của người ta.

Xúi lời: Lấy lời xúi giục người ta làm điều sái quấy.

Câu 417: Dưới sông đó lại có nhiều thứ rắn trông thấy mặt mày rất nên dữ tợn.

Câu 418: Cổ rắn ngóng lên cao dòm người đi ngang qua cầu Nại Hà.

Câu 419: Những loài rắn đó gặp thây người bèn ăn tươi nuốt sống.

Câu 420: Hình này để phạt những người bày ra thưa kiện, hoặc bươi móc chuyện xấu, hoặc xúi giục người làm điều sái quấy.
421. Trong núi lửa bay hơi tanh khét,

Linh hồn người đầy nghẹt trong ngoài!

423. Phạt răn quến gái, dụ trai,

Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài.

Bay hơi tanh khét: Hơi tanh hôi và cháy khét bay ra.

Đầy nghẹt: Nhiều đến nỗi đầy ngập, không còn chỗ chứa.

Quến gái: Rù quến con gái, tức quyến rũ con gái nhẹ dạ.

Dụ trai: Dụ dỗ con trai.

Tuyệt loài: Tuyệt loại 絕 類: Làm tuyệt hẳn nòi giống.

Câu 421: Trong núi lửa, hơi tanh hôi và hơi cháy khét bay xông ra.

Câu 422: Nơi ấy, đầy cả trong lẫn ngoài những linh hồn nghẹt cứng.

Câu 423: Hình phạt trên dùng để hành những người chuyên rù quến con gái và dụ dỗ con trai.

Câu 424: Bày ra cách dùng thuốc độc phá những bào thai, làm tuyệt nòi giống.
425. Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,

Biết lạc lầm sám hối tội căn.

427. Tu tâm sửa tánh ăn năn,

Ba giềng nắm chặt, năm hằng chớ lơi.

Lạc lầm: Sai lạc và lầm lẫn.

Sám hối 懺 悔: Hai chữ sám hối là danh từ kết hợp cả tiếng Sanskrit và tiếng Hán. Sám do chữ Phạn sám ma, là hối hận điều lầm lỗi. Hối: Tiếc vì đã làm điều lỗi, xin tha thứ.

Sám hối có nghĩa là xin thú nhận những lỗi lầm đã phạm và xin nguyện ăn năn sửa đổi tội lỗi, từ nay về sau không tái phạm nữa.

Khi có lầm lỗi, muốn cầu Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng tha tội, trước nhứt chúng ta phải nhờ các Đấng chứng minh để ta phát tâm ăn năn chừa cải.

Trong bài tụng Sám hối bên Phật giáo có bốn câu:



Tội tánh bổn không do tâm tạo,

罪 性 本 空 由 心 造

Tâm nhược diệt thời tội diệc vong.

心 若 滅 時 罪 亦 亡

Tội vong, tâm diệt lưỡng câu không,

罪 亡 心 滅 兩 俱 空

Thị tắc danh vi chân sám hối.

是 則 名 為 真 懺 悔

Nghĩa là:

Tánh của tội vốn là không, do tâm tạo. (vì tâm ý là chủ động)

Động cơ tâm đã diệt rồi thì tội cũng theo đó mà mất.

Tội hết, tâm diệt rồi cả hai đều không.

Thế mới gọi là chân sám hối (Sám hối chân thật).

Tội lỗi do tâm sinh ra, rồi cũng do tâm diệt đi, tâm diệt hết thì tội lỗi cũng không còn.

Ba giềng: Ba giềng mối, dịch từ chữ Tam cang, gồm: Quân thần cang, phụ tử cang, phu thê cang.

Năm Hằng: Năm đạo hằng, dịch từ Ngũ thường, gồm: Nhân, nghĩa, Lễ, trí, tín.

Câu 425: Làm người sống ở thế gian, có mấy ai mà chẳng mang tội lỗi.

Câu 426: Nếu biết được lỗi lầm thì nên sám hối những tội căn của mình.

Con người sống ở thế gian có mấy ai không bị lầm lỗi, khi đã biết lỗi rồi phải sám hối ăn năn.

Có người không tự xét lấy mình, nên chẳng biết mình có lỗi, như có ai chỉ cho mình điều sái quấy thì phải vui vẻ nhận lấy như thầy Tử Lộ đã từng làm, như thế mới có khí tượng của bậc Thánh hiền: Cáo hữu quá tắc hỷ, hữu Thánh hiền khí tượng 告 有 過 則 喜, 有 聖 賢 氣 像.

Có người biết mình quấy mà không chừa không cải, thì là mình tự che lấy cho mình đừng biết vậy: Hữu quá bất tri giả tự tế chi dã 有 過 不 知 者 自 蔽 之 也.

Lại có người biết lỗi mà không chịu ăn năn hối cải thì cái lỗi ấy thực là càng thái quá thêm: Quá nhi bất cải thị vị quá hỹ 過 而 不 改 是 謂 過 矣.

Như vậy, mình phải biết nghe lời sửa lỗi của người. Khi biết mình có lỗi lầm thì phải ăn năn hối ngộ sửa cải tánh tình, để trở về với nẻo chánh đường chơn mà lo tu thân lập đức.



Câu 427: Phải biết ăn năn để tu tâm sửa tánh.

Câu 428: Nắm giữ tam cang, và chẳng nên lơi lỏng đạo ngũ thường.
429. Ngặt có kẻ tưởng Trời tin Phật,

Mà trong lòng chẳng thật kính thành.

431. Lâm nguy nguyện vái làm lành,

Tai qua rồi lại dạ đành phụ vong.

Tưởng Trời tin Phật: Tin tưởng Trời Phật.

Kính thành: Kính trọng một cách thành thật.

Lâm nguy 臨 危: Gặp sự nguy hiểm.

Nguyện vái làm lành: Cầu nguyện và van vái các Đấng sẽ làm những điều lành.

Tai qua: Tai nạn đã đi qua, tức là đã hết tai nạn.

Phụ vong 負 忘: Quên lời, không nhớ lời nguyện vái.

Câu 429 và 430: Ngặt có những kẻ bên ngoài tuy là tin tưởng Trời Phật, nhưng trong lòng không thật sự là kính thành.

Câu 431: Lúc gặp tai nạn thì cầu nguyện, vái van sẽ làm phải làm lành.

Câu 432: Đến khi tai qua nạn khỏi rồi thì lòng không nhớ những lời vái van ấy nữa.

Ở cõi thế gian này, có nhiều người vì quyền lợi nên không sống thật với lòng mình. Trong đoạn trên của kinh Sám Hối có những câu:

Thêm những sãi giả nương cửa Phật,

Của thập phương châu cấp thê nhi.

Hoặc:


Làm mặt phải bạc ngàn cúng Phật,

Ép kẻ nghèo cố đất cầm vườn.

Tất cả những hạng người đó tuy là có tin Trời tưởng Phật, song trong lòng họ chẳng thật sự có lòng thành kính. Bởi nếu biết thành kính Trời Phật, thì phải noi theo tánh từ bi của các Đấng ấy, tức là có lòng thương yêu tất cả chúng sanh. Mà hễ có lòng hiếu sanh thì họ nỡ lòng nào dối người để lấy của thập phương châu cấp cho vợ con, và nỡ nào bức ép những kẻ nghèo khổ cố đất cầm vườn. Và người có lòng tin tưởng chân thật vào Đức Chí Tôn và chư Phật thì dù hoàn cảnh nào cũng noi theo lòng bác ái các Đấng Thiêng Liêng ấy, chứ không đợi lúc lâm nguy mới nguyện làm việc lành, đến chừng tai nạn qua khỏi rồi thì quên hết mọi điều đã nguyện vái.

Người thật sự là tin tưởng Trời Phật thì lúc nào cũng làm lành, không phải đợi lúc lâm nguy mới làm lành, mà thành thực làm lành vì thể theo đức háo sanh của Trời Phật.
433. Chớ thái quá đừng lòng bất cập,

Phép tu hành luyện tập nhiều ngày.

435. Làm lành, xem phải, nói ngay,

Giữ ba điều ấy thiệt rày phước duyên.

Thái quá 太 過: Quá mức độ.

Bất cập 不 及: Chẳng kịp, thua sút.

Thiệt rày: Từ nay về sau mới thiệt là.

Phước duyên 福 緣: Cái duyên phước đức, hay cái duyên may mắn tốt lành.

Câu 433: Sống ở trên đời, làm việc gì chẳng nên thái quá mà cũng không nên bất cập.

Câu 434: Phương pháp tu hành là phải luyện tập hằng ngày.

Thời xưa các Nho gia thường khuyên người ta đừng thái quá cũng đừng bất cập, mà phải giữ thái độ trung dung.

Đạo Trung dung theo Khổng Mạnh là một qui tắc hành động của bậc hiền minh, hợp với lẽ đương nhiên, không thái quá, không bất cập, song phải biết quyền biến, biết tùy thời, tùy cảnh ngộ, tùy địa vị mà xử sự, lúc nên làm thì làm, lúc không nên làm thì không làm. Nghĩa là phải cho hợp tình hợp lý chứ không chấp nhứt.

Đây là thái độ của người Quân tử theo đạo Trung dung: Người quân tử cứ theo địa vị mình mà ăn ở, không cần ở ngoài; địa vị giàu sang thì ăn ở theo cách giàu sang; địa vị nghèo hèn thì ăn ở cách nghèo hèn; ở nơi mọi rợ thì ăn ở theo cách mọi rợ; ở vào lúc hoạn nạn thì ăn ở theo cảnh hoạn nạn. Người quân tử ở vào cảnh nào cũng tự đắc (tức là vui vẻ, thản nhiên) (Quân tử tố kỳ vị nhi hành, bất nguyện hồ kỳ ngoại; tố phú quý hành hồ phú quý; tố bần tiện hành hồ bần tiện; tố di địch hành hồ di địch; tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn, quân tử vô nhập nhi bất đắc yên 君 子 其 位 而 行, 不 願 乎 其 外, 素 富 貴 行 乎 富 貴, 素 貧 賤 行 乎 貧 賤, 素 夷 狄 行 乎 夷 狄, 素 患 難 行 乎 患 難, 君 子 無 入 而 不 自 得 焉).

Người tu thì lấy đường trung đạo mà tu tập, phải tránh xa hai cực đoan, tức là giữ thái độ vô chấp, vô trụ, là không bị lệ thuộc vào định kiến nào và không bị đóng khung trong một phạm trù tư tưởng nào, cứ theo mức trung mà hằng ngày tu tập.

Câu 435: Làm những điều lành, xem những điều phải và nói những điều ngay thật.

Câu 436: Nếu giữ được ba điều trên thì thiệt là có cái duyên phước đức rất lớn.
437. Lời kệ sám di truyền khuyến thiện,

Câu văn từ luận biện thật thà.

439. Chẳng dùng những tiếng sâu xa,

E không hiểu thấu, diễn ra ích gì?

Kệ 偈: Bài thơ ngắn, bài văn vần tóm tắt đại ý một đoạn hay một bài kinh, một bài thuyết pháp để ca ngợi công đức của Bồ Tát, chư Phật.

Kệ còn là một bài ca chứng đạo của các vị Thiền sư.



Sau đây là một bài Kệ của Lục Tổ Huệ Năng:

Bồ đề bổn vô thọ,

菩 提 本 無 樹



Minh kính diệc phi đài.

明 鏡 亦 非 臺



Bổn lai vô nhất vật.

本 來 無 一 物



Hà xứ nhạ trần ai.

何 處 惹 塵 埃

Sám 懺: Ăn năn những điều lầm lỗi và thật lòng hối cải.

Lời kệ sám: Những lời kinh kệ để sám hối ăn năn. Ở đây, chỉ bài Kinh Sám Hối.

Di truyền 遺 傳: Truyền để lại, truyền lại cho những người sau này.

Khuyến thiện 勸 善: Khuyên làm việc lành.

Văn từ 文 詞: Văn chương chữ nghĩa.

Luận biện 論 辨: Bàn bạc phân biệt cho rõ ràng.

Những tiếng sâu xa: Những từ ngữ hay ý tưởng cao sâu khó hiểu.

E ra không thấu: E sợ rằng không hiểu thấu nổi.

Diễn ra: Trình bày ra.

Câu 437: Lời kinh Sám Hối truyền để lại mục đích để khuyên răn làm điều thiện.

Câu 438: Văn từ của bài kinh nhằm để phổ thông mọi giới nên luận biện thật thà.

Câu 439: Lời kinh chẳng dùng những từ ngữ hay những ý tưởng cao sâu.

Câu 440: Vì e sợ rằng không hiểu thấu nổi, trình bày có ích chi đâu.

Như ta đã biết, mục đích của bài kinh Sám Hối, như tên gọi khi xưa “Kinh Nhơn Quả”, là nêu lên thuyết luân hồi nhơn quả, nhằm răn dạy cho chúng sanh tránh xa điều tội lỗi, ác đức, khuyên người làm việc lương thiện, phước lành. Nhưng chúng sanh phần đông là những hạng người bình dân ít học, vì vậy, ngôn ngữ trong bài kinh Sám Hối được các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho không dùng những lời lẽ cao xa, cầu kỳ, vì e rằng người học ít sẽ không hiểu thấu, nên mới dùng lời văn bình dị, mộc mạc để tất cả mọi giới đều có thể tiếp thu, nhận biết.


441. Chớ buông tiếng thị phi khinh dể,

Rán làm lành phước để cháu con.

443. Làm người nhơn nghĩa giữ tròn,

Muôn năm bóng khuất tiếng còn bay xa.

Buông tiếng: Tỏ ra những lời nói thiếu suy nghĩ, nói một cách bừa bãi.

Thị phi 是 非: Phải và trái.

Nhơn nghĩa giữ tròn: Giữ gìn trọn vẹn điều nhơn nghĩa.

Bóng khuất: Hay khuất bóng ý nói đã chết rồi, tức là hình bóng khuất dạng trên cõi đời.

Tiếng còn bay xa: Tiếng thơm còn lưu lại bay khắp nơi.

Câu 441: Chẳng nên thiếu suy xét mà tỏ ra lời khiến thị phi khinh dể.

Câu 442: Mà hãy rán làm việc lành để phước đức lại cho cháu con.

Câu 443: Làm con người phải gìn giữ điều nhơn nghĩa cho trọn vẹn.

Câu 444: Dù muôn năm hình bóng có khuất dạng trên cõi đời này thì tiếng tăm, danh thể còn lưu lại.


THIÊN THỨ NHÌ



BÀI KHEN NGỢI KINH SÁM HỐI

I.-KINH VĂN:



tải về 1.01 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương