ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


Câu 265: Lại thêm những thầy sãi dối nương tựa vô cửa chùa để giả tu hành. Câu 266



tải về 1.01 Mb.
trang8/12
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích1.01 Mb.
#3276
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12
Câu 265: Lại thêm những thầy sãi dối nương tựa vô cửa chùa để giả tu hành.

Câu 266: Dùng tiền dâng cúng Phật của bổn đạo ở thập phương để cung cấp nuôi nấng vợ con.

Câu 267: Ngày sau sẽ bị đày đọa xuống cõi Âm ty.

Câu 268: Thường thường bị kềm kẹp để tra khảo, không khi nào ngừng nghỉ.
269. Thấy giấy chữ rớt rơi lượm lấy,

Đốt ra tro bỏ chảy dòng sông.

271. Thủy triều vận tải biển đông,

Lòng hằng dường ấy phước đồng ăn chay.

Giấy chữ: Giấy có chữ viết.

Người xưa có quan niệm cho rằng chữ Nho là chữ của Thánh hiền đặt ra, dùng để viết kinh sách, liễn thờ, nên khi gặp giấy có chữ viết thì chẳng khá chà đạp hay để rơi rớt khắp mọi chỗ ô uế.



Thủy triều 水 潮: Con nước ở sông hay biển khi lên khi xuống, mỗi ngày đêm hai lần. Hiện tượng này có được là do bởi sức hút của mặt trăng và mặt trời. Người bình dân thường gọi là con nước lớn ròng.

Vận tải 運 載: Chuyên chở từ nơi này đến nơi khác.

Phước đồng 福 同: Đồng với phước đức.

Ăn chay: Ăn chay hay ăn lạt là ăn những thức ăn trong sạch, nhẹ nhàng, tinh khiết, tức là những thức ăn thuộc loại thảo mộc như hoa quả, rau đậu, tương chao…chứ không ăn thịt những loại động vật như cá thịt, tôm, cua…

Chay dịch từ chữ Trai 齋, có nghĩa là ăn lạt, ăn những thức ăn từ thảo mộc, rau đậu. Trai còn có nghĩa là giữ tấm lòng trong sạch, ý tưởng tinh tấn, thân xác tinh khiết. Trai lại có nghĩa là đãi ăn, cúng dường, bố thí như trai tăng, tức là đãi các tu sĩ, các thầy bên Phật giáo. Chữ trai còn có nghĩa phẩm vật, thức ăn do lòng thành của tín đồ dâng lên cho các tu sĩ, các thầy, như thọ trai.

Trong tôn giáo, có ba hạng ăn chay: Lục trai 六 齋 (Ăn chay sáu ngày trong tháng), Thập trai 十 齋 (Ăn chay mười ngày), Trường trai 長 齋 (Ăn chay quanh năm suốt tháng).

Theo Thánh giáo Đức Chí Tôn, người tín đồ Cao Đài nào ăn chay được mười ngày trong tháng trở lên được thọ truyền bửu pháp, tức là được hưởng những bí pháp do tôn giáo mang lại.



Câu 269 và 270: Thấy giấy chữ rơi rớt bất cứ nơi đâu phải lượm lấy và đốt cháy ra tro rồi đem rải xuống dòng sông.

Câu 271: Thủy triều chuyên chở hạt tro theo dòng nước ra biển đông.

Câu 272: Lòng luôn được như vậy thì có phước đức đồng với sự ăn chay.

Cổ nhân thường cho rằng chữ viết ngày xưa là chữ của bậc Thánh hiền chế tác ra, nên phải giữ gìn một cách trang trọng, không dám để rơi rớt, chà đạp. Trong bài kinh Nho giáo cho biết chữ viết được chế tác một cách thiêng liêng, nên nói: Tự lôi trữ bính 字 雷 貯 炳, nghĩa là chữ viết vừa được chế ra thì sấm sét nổ vang, chữ viết làm cho trí tuệ con người sáng rực (khai hóa).



Hứa Thận đời Hậu Hán có cho biết lai lịch văn tự Trung Hoa như sau: Đời xưa họ Bao Hy cai trị thiên hạ, ngửng xem hình tượng trên Trời, cúi xem phép tắc dưới đất, trông dáng vẻ loài cầm thú cùng trạng thái đất đai, gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở muôn vật, bắt đầu sáng tác ra Dịch Bát quái để truyền lại các hiện tượng về sau. Đến Thần Nông thắt nút dây cai trị thiên hạ, thống hợp mọi sự. Sử quan Hoàng Đế là Ông Thương Hiệt nhìn vết chân chim muông chạy nhảy mà biết rằng văn lý có thể phân biệt nhau, mới sáng tạo ra chữ viết. Thương Hiệt chế ra chữ viết căn cứ vào loại, mô tả ra hình, nên gọi là Văn. Về sau, hình thanh bổ túc cho nhau, nên gọi là Tự.

Tương truyền rằng khi văn tự được hình thành rồi thì Trời gây mưa giông và nổi cơn sấm sét. Bởi vì nhờ Thánh Hiền chế ra chữ viết mới có Kinh sách ra đời để truyền đạt những giáo lý của Thánh nhân từ đời nầy qua đời khác.

Chính vì xem trọng chữ viết như thế, nên Kinh cho rằng khi thấy giấy chữ rơi rớt thì phải lượm lên, đốt thành tro rồi còn phải đem tro ấy thả trôi theo dòng sông. Cái công đức của người lượm lấy giấy chữ Thánh hiền thì được phước đồng với sự ăn chay.
273. Chịu cực khổ đắng cay biết mấy,

Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong.

275. Làm ra lúa gạo dày công,

Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc nhằn.

Đắng cay: Hay Cay đắng là hai vị khó ăn trong ngũ vị, nên người ta thường dùng để chỉ sự khổ sở, vất vả. Từ Hán Việt gọi là Tân khổ.

Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong: Những công việc mà người nông phu phải làm khi sản xuất ra lúa gạo: Cuốc, cày, bừa là giai đoạn làm đất, gieo giống lên thì cấy lúa, lúa trổ bông thì lo gặt đong rồi đem về.

Dày công: Công phu sâu dày.

Câu 273: Chịu khổ cực, chịu đắng cay không biết là bao nhiêu.

Câu 274: Nào là cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong rất nên nhọc nhằn.

Câu 275: Làm ra được một hạt lúa gạo thì công phu rất sâu dày.

Câu 276: Người nông dân phải chịu phơi mưa dan nắng rất nên nhọc nhằn.

Ăn uống là việc hằng ngày của con người buộc ai cũng phải có. Ăn để cung cấp chất dinh dưỡng cơ thể, bổ sung năng lượng cho con người hoạt động. Từ ngàn xưa, vật thực cũng tiến theo từng thời kỳ: Thời kỳ hái lượm thì con người ăn rau quả; đến thời kỳ ngư lạp thì con người đánh bắt cá hay săn thú rừng mà ăn thịt; sang đến thời nông nghiệp, con người không có thể tìm kiếm những tài nguyên sẵn có trong thiên nhiên nữa, mà phải tự trồng lấy khoai củ, ngũ cốc. Do vậy, có được lúa gạo cho con người ăn phải qua nhiều công sức cực nhọc làm ra, như cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong…

Người bình dân Việt Nam đã thấy được cái công lao của người nông dân sản xuất ra hạt gạo rất nên nhọc nhằn, nên thường nhắc nhở trong ca dao:

Ai ơi! Bưng bát cơm đầy,

Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn vàng.

Còn đối với người tín đồ đạo Cao Đài, ăn một hột cơm thì nguyện nhớ ơn người làm ra hạt lúa, nguyện ra tài lợi sanh như lời kinh Khi Ăn Cơm Rồi đã dạy:



Nguyện nhớ ơn nông canh nhằn nhọc,

Nguyện ơn người lúa thóc giã xay.

Ngậm cơm ơn ngậm hằng ngày,

Nên người con nguyện ra tài lợi sanh.

Và nhất là phải tìm cái lý sâu xa hơn nữa, đó là nguồn gốc của ân đức ấy. Những bậc Thánh nhân xưa, không phải vì mình ở mà kết cây làm tổ để bảo vệ thân mình, không phải vì mình ăn mà tìm ra ngũ cốc để nuôi sống cơ thể mình, không phải vì mình bệnh mà tìm thuốc để chửa trị cho mình. Các bậc Thánh nhân ấy, vì theo lòng thương yêu của Thượng Đế mà chỉ dạy cho con người biết làm nhà để ở, biết trồng lúa để ăn, biết tìm thuốc để trị bịnh. Có hiểu như vậy, người ta mới thấy rằng ân đức của người xưa rất nên sâu nặng, và công sức làm ra hạt gạo thật rất nhọc nhằn.

Trong Bài Ngự chế của vua Thần Tông có nói rằng: Thân mình mặc áo phải nhớ đến khó nhọc của người đàn bà dệt lụa, Cơm ngày ba bữa phải nghĩ đến khổ cực của người cày cấy (Thân phi nhất lũ, thường tư chức nữ chi lao; nhật thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ 身 披 一 縷, 常 思 織 女 之 勞; 日 食 三 餐, 每 念 農 夫 之 苦).
277. Nhờ Viêm Đế đức cao ơn nặng,

Tìm lúa khoai người đặng no lòng.

279. Ngày ngày vọng niệm chớ vong,



Chẳng nên hủy hoại mới phòng khỏi hoang.

Viêm Đế 炎 帝: Hiệu của Thần Nông 神 農, một vị vua thứ ba trong thời Tam Hoàng, đó là Toại Nhân 燧 人, Phục Hy 伏 羲 và Thần Nông 神 農. (Thượng Thư Đại Truyện).

Thần Nông là vị vua thời Thượng cổ, trị vì sau vua Phục Hy. Ngài có công dạy dân đẽo gỗ chế ra cày bừa để làm ruộng, hợp chợ búa để dân trao đổi hóa vật, nếm các thứ cây cỏ để làm vị thuốc cho dân trị bệnh.

Đến thời vua Thần Nông con người mới biết định cư, sống hợp quần theo nông nghiệp. Ngài có công lớn trong việc tìm các loại ngũ cốc, khoai củ để làm lương thực cho dân chúng thời bấy giờ, và mãi mãi sau này.

Đức cao 德 高: Đức độ cao dày.

Ân nặng: Ân nghĩa sâu nặng.

Vọng niệm 望 念: Mong mỏi và tưởng nghĩ đến.

Vong 忘: Quên.

Hủy hoại 毀 壞: Làm cho hư nát, phá hoại.

Mới phòng khỏi hoang: Mới tránh được khỏi bị hoang phí.

Câu 277 và 278: Từ xưa, con người đã nhờ ân đức sâu nặng của vua Thần Nông dạy dỗ và tìm ra lúa khoai để nuôi sống hằng ngày.

Câu 279: Biết được ân đức sâu dày của Viêm Đế, hằng ngày ta phải tưởng nghĩ đến Người, chớ nên quên.

Câu 280: Nghĩ đến ân đức và sự nhọc nhằn của việc làm ra lúa khoai, ta chẳng nên hủy hoại mới tránh được sự lãng phí.
281. Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa

Nhơn thất mùa bế dựa gắt gao.

283. Chờ khi lúa phát giá cao,

Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.

Hiểm độc 險 毒: Nham hiểm và độc ác.

Lang 狼: Loài chó sói.

Dạ lang: Lòng dạ như loài chó sói, chỉ lòng độc hiểm. Có câu thành ngữ: Lòng lang dạ sói.

Lần lựa: Kéo dài thời gian.

Thất mùa: Làm lúa không trúng hoặc thiên tai khiến lúa thất mùa.

Bế vựa: Đóng cửa kho vựa lúa, tức là không đem lúa bán ra ngoài.

Gắt gao: Khắt khe, nghiêm nhặt.

Lúa phát giá cao: Giá lúa thình lình mắc lên.

Câu 281: Người có lòng dạ hiểm độc như lang sói, lần lựa chờ thời cơ,

Câu 282: Nhơn dịp lúa thất mùa, thì gom thu lúa gạo vào vựa một cách gắt gao, không chịu bán ra.

Câu 283: Chờ đợi khi lúa trên thị trường có giá mắc.

Câu 284: Lúc đó mới đem lúa bán ra ngoài để được nhiều lãi. Thực là độc hiểm, Trời đất không bao giờ dung thứ đặng.

Trong nền kinh tế hiện tại, muốn độc quyền về sản phẩm, người ta thường đầu cơ tích trữ, tức là thu gom tất cả sản phẩm trên thị trường vào kho tích trữ, tạo cho thị trường khan hiếm sản phẩm ấy. Rồi sau đó tung ra thị trường bán với giá cao để được lời nhiều.

Đối với tôn giáo, nhứt là lương thực là sản phẩm chính yếu của con người, là hột ngọc quí báu của chúng sanh, người đầu cơ tích trữ lúa gạo, lại phải dựa vào năm hạn hán hay thất mùa, đã không chịu bán lúa gạo ra, mà còn thu gom bế dựa vào kho một cách gắt gao. Đợi thị trường thật khan hiếm, khiến dân tình thiếu đói, mới chịu tung lúa gạo ra bán với giá cắt cổ, thử hỏi lòng dạ con người ấy có độc hiểm như lang sói không? Trời đất có dung tha đặng không? Ôi! Cổ nhân thường nói: “Vi phú bất nhân 為 富 不 仁” là đúng vậy.
285. Ơn trợ giúp khá lo đền báo,

Giữ vẹn tròn nghĩa đạo với đời

287. Túng cùng vay mượn của người,



Vui lòng tính trả vốn lời cho kham.

Trợ 助: Giúp đỡ.

Đền báo: Đền đáp ân nghĩa trở lại.

Nghĩa đạo: Hay đạo nghĩa 道 義, tức là những qui tắc ứng xử hợp với luân thường đạo đức.

Túng cùng: Nghèo nàn nên túng thiếu về vật chất hay tiền bạc.

Vốn: Tiền gốc cho mượn hay cho vay.

Lời: Tiền lời (tiền lãi) do vốn cho vay sinh ra, tùy theo phần trăm mà định nặng nhẹ.

Kham 堪: Chịu đựng nổi.

Câu 285: Ơn nghĩa do người ta giúp đỡ mình thì khá lo đền đáp lại.

Câu 286: Và cố cư xử cho vẹn tròn đạo lý với người đời.

Ở đời, có lắm kẻ được người ta giúp đỡ, nhận biết bao ơn nghĩa của người, nhưng khi qua khỏi cơn nguy khốn, sau đó đối với người ơn của họ, họ đành ngoảnh mặt làm kẻ xa lạ. người như thế là người bội ơn, không phải là người hiểu đạo lý, và là người không có tâm lương thiện. Thế nên, người đạo đức chân thật là người phải biết ơn và đền ơn người ta đã giúp đỡ cho mình, như thế mới gọi là người biết giữ tròn đạo nghĩa, là người “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” hay “uống nước nhớ người đào giếng” vậy.



Câu 287: Lúc túng thiếu cùng cực đi vay mượn của người ta.

Câu 288: Thì phải vui lòng lo trả tiền vốn và tiền lời cho xong.
289. Chớ oán chạ tham lam ngược ngạo,

Bội nghĩa ân trở tráo chước sâu.

291. Luân hồi thưởng phạt rất mầu,

Chuyển thân tái thế ngựa trâu công đền.

Oán chạ: Thù oán một cách bừa bãi, không chính đáng.

Tham lam : Tham là ham của. Lam là ham ăn. Tham lam: Lòng ham ăn, tham của cải vật chất. Nghĩa bóng Ham muốn một cái gì thái quá.

Thánh giáo Đức Chí Tôn dạy về tham lam như sau: “Các con có hiểu vì sao nhơn sanh có lòng tham lam chăng? Thì cũng muốn có nhiều kẻ phục tùng dưới quyền lợi của mình. Vã lại, người đời cần nhứt là cơm với áo. Nay muốn có nhiều kẻ phục tùng không chi bằng nắm chặt quyền phân phát áo cơm, phải dùng đủ mưu chước quỉ quyệt thâu đoạt lợi lộc, quyền thế. Vì vậy, mà đời trở nên trường hỗn độn, tranh đấu, giựt giành; mạnh được, yếu thua, mất hẳn công bình, thiên nhiên Tạo hóa.



Ấy vậy, phải biết rằng: Tham lam vào tâm, tâm hết đạo đức; tham lam vào nhà, nhà hết chánh giáo; tham lam vào nước, nước mất chơn trị. Tham lam lộng khắp thế giới, thế giới hết Thần Tiên: Lòng tham lam có thể giục các con lỗi đạo cùng Thầy”.

Ngược ngạo: Bướng bỉnh ngang ngược.

Bội nghĩa ân: Hay bội ân nghĩa 背 恩 義: Phản bội lại kẻ mình thọ ân nghĩa.

Trở tráo: Lật lộng, tức là thay đen đổi trắng một cách dễ dàng.

Luân hồi 輪 迴: Luân là bánh xe. Hồi là xoay trở lại.

Giống như một bánh xe lăn quay, luân hồi là sự xoay chuyển của chúnh sanh trong sáu cõi (Lục đạo), sanh tử, tử sanh, tiếp nối mãi không ngừng cho đến khi đạt được giải thoát, chứng ngộ Niết Bàn mới thôi.



Nguyên nhân của luân hồi là do chúng sanh vô minh mà tạo ra các nghiệp, khiến cho nghiệp lực cuốn hút vào vòng sống chết, lên xuống không bao giờ ra thoát khỏi sáu cõi. Mục đích của việc tu hành là nhằm giải thoát con người ra khỏi vòng luân hồi sanh tử để được về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Rất mầu: Rất huyền diệu, rất mầu nhiệm.

Tái thế 再 世: Đầu kiếp xuống trần một lần nữa.

Chuyển thân tái thế 轉 身 再 世: Chuyển kiếp qua một xác thân mới để đầu thai xuống cõi trần.

Ngựa trâu công đền: Làm kiếp trâu ngựa để lấy công đền tội.

Câu 289: Chớ nên tham lam, bướng bỉnh ngược ngạo và thù oán người một cách bậy bạ.

Câu 290: Mà phản bội lại người có ơn nghĩa, lật lộng và mưu chước sâu độc.

Câu 291: Sự thưởng phạt của Thiêng Liêng trong vòng luân hồi sanh tử rất nên mầu nhiệm.

Câu 292: Nếu nghiệp nhẹ thì được đầu thai lên cõi trần một lần nữa; còn nếu có tội thì chuyển kiếp ngựa trâu để lấy công đền tội lỗi.
293. Người phú túc vun nền âm đức,

Lấy lòng nhơn giúp sức trợ nghèo.

295. Chớ sanh chước hiểm hẹp eo

Lời tăng quá vốn kẻ nghèo xiết than.

Phú túc 富 足: Phú là giàu có. Túc là đầy đủ. Phú túc: Giàu có đầy đủ.

Vun nền: Bồi đắp nền tảng.

Âm đức 陰 德: Còn gọi là Âm chất: Những việc làm lành tạo thành phước đức, tuy người ở thế gian không biết, nhưng Thần Thánh chứng biết.

Chước hiểm: Mưu chước hiểm độc.

Hẹp eo: Hẹp hòi, nhỏ nhặt.

Lời tăng quá vốn: Đồng nghĩa với câu “vốn một lời mười”, tức là đem tiền cho vay lãi suất quá nặng, khiến tiền lời hơn vốn vay.

Câu 293: Người giàu có đầy đủ nếu biết thì bồi đắp nền âm đức.

Câu 294: Lấy lòng nhơn từ để giúp đỡ người nghèo khó.

Câu 295: Chẳng nên có tánh hẹp hòi hiểm độc.

Câu 296: Cho vay tiền với mức lời quá nặng, lời tăng hơn vốn, khiến cho kẻ nghèo kêu than rên xiết.
297. Làm mặt phải bạc ngàn cúng Phật,

Ép kẻ nghèo cố đất cầm vườn.

299. Phật Trời nhơn vật đồng thương,

Có đâu hưởng của bất lương mà mời.

Làm mặt phải: Bề ngoài mặt ra vẻ làm việc phải, tức là làm phải với hình thức bên ngoài.

Cố đất cầm vườn: Đem vườn đất đi cầm cố để lấy tiền.

Nhơn vật 人 物: Con người và thú vật.

Bất lương 不 良: Không lương thiện, không lành.

Câu 297: Làm ra vẻ bên ngoài là người biết đạo đức, đem tiền bạc đi cúng Phật.

Câu 298: Bên trong thì lấy lời nặng, khiến những kẻ nghèo phải thế đất cầm vườn.

Câu 299: Trời Phật đều thương yêu người và loài vật một cách đồng đều như nhau.

Câu 300: Có bao giờ hưởng của bất lương đâu mà bày lễ cúng mời.

Ở đời cũng có những kẻ tu hành mà lại cầu danh. Họ làm việc phải, việc lành là để lấy tiếng tốt với đời, chứ không cầu công đức, vì nhiều khi đồng tiền cúng Phật hay giúp người nghèo của họ do việc làm thất đức mà ra. Ví như vì muốn có lợi, họ áp bức những người nghèo khổ đến nỗi phải cầm cố ruộng đất.



Trời, Phật, Thánh, Thần là những Đấng công bình, từ bi, có lòng thương yêu mọi con người như nhau, chứ không vì sự cúng tế bề ngoài mà chứng hưởng. Đông Nhạc Thánh Đế có để lời dạy: Thiên Địa vô tư, Thần minh ám sát, bất vị tế hưởng nhi giáng phước, bất vị thất lễ nhi giáng họa (Trời đất không có riêng tây, Thần minh thường soi xét. Không vì tế lễ mà ban phước, không vì thất lễ mà giáng họa).
301. Phận làm chủ lấy lời nhỏ nhẹ,

Mà nghiêm trừng mấy kẻ tôi đòi.

303. Đừng lòng nham hiểm hẹp hòi,

Buông lời chửi rủa đòn roi không từ.

Nghiêm trừng 嚴 懲: Đồng nghĩa với nghiêm trị 嚴 治: Trừng trị một cách nghiêm nhặt.

Tôi đòi: Người giúp việc trong nhà, đầy tớ trong nhà.

Nham hiểm 巖 險: Núi non hiểm trở. Nghĩa bóng chỉ người độc ác kín đáo, khó lường được.

Hẹp hòi: Nhỏ nhen ích kỷ.

Không từ: Không buông tha, không chừa ra.

Câu 301 và 302: Phận mình là người làm chủ thì nên lấy lời nhỏ nhẹ mà dạy răn mấy người giúp việc trong nhà.

Câu 303: Đừng có lòng nhỏ nhen ích kỷ, sâu độc khó lường.

Câu 304: Đừng có buông lời chửi rủa, đánh đập, chẳng chừa đòn roi nào.
305. Tánh độc ác tội dư tích trữ,

Chốn Âm cung luật xử nặng nề.

307. Đánh đòn khảo kẹp gớm ghê,

Hành hình khổ não chẳng hề nới tay.

Tội dư: Nhiều tội lỗi đến nỗi dư thừa.

Tích trữ 積 貯: Cất chứa lại.

Âm cung 陰 宮: Cung điện nơi Âm phủ. Đồng nghĩa với Âm đài, Âm ty, Âm phủ.

Khảo kẹp gớm ghê: Tra khảo bằng kềm kẹp rất ghê gớm.

Hành hình 行 刑: Thi hành các hình phạt.

Khổ não 苦 惱: Khổ sở phiền não.

Nới tay: Nới lỏng tay, tức là giảm bớt sự nghiêm nhặt.

Câu 305 và 306: Tánh tình độc ác, gây ra nhiều tội lỗi cất chứa đó chờ khi thác xuống Âm cung sẽ bị xử theo hình luật rất nặng nề.

Câu 307: Sẽ bị tra khảo bằng đòn roi, kềm kẹp một cách ghê gớm.

Câu 308: Rồi thi hành hình án một cách khổ não, chẳng hề nới tay bao giờ.
309. Miền Âm cảnh nhiều thay hình lạ,

Cõi dương trần tội quá dẫy đầy.

311. Thánh hiền kinh sách dạy bày,

Lòng người ám muội lỗi gây ra hoài.

Âm cảnh 陰 境: Cảnh giới của người ở cõi Âm, tức Âm phủ, Âm cung…

Hình lạ: Hình phạt rất kỳ lạ.

Tội quá 罪 過: Tội lỗi.

Thánh Hiền 聖 賢: Bậc Thánh Hiền.

Thánh 聖: Người có trí tuệ sáng suốt, hiểu thấu mọi việc, có học thức và đạo đức cao siêu.

Hiền 賢: Người có tài năng và đức hạnh.

Dạy bày: Chỉ bày và dạy dỗ.

Ám muội 暗 昧: Lòng dạ tăm tối.

Câu 309: Nơi Âm cảnh có nhiều hình phạt tội nhơn rất nên lạ lùng.

Câu 310: Cõi Dương gian thì con người gây nên tội lỗi đầy dẫy.

Câu 311: Kinh sách của các bậc Thánh Hiền đã chỉ dạy rõ ràng.

Câu 312: Do bởi lòng người tăm tối (vô minh) nên thường gây ra tội lỗi hoài.
313. Kẻ lỗ mãng chê bai khinh dể,

Rằng thác rồi còn kể ra chi.

315. Nhãn tiền trả quả tức thì,

Tội dư con cháu một khi đền bồi.

Lỗ mãng 魯 莽: Lỗ là đần độn. Mãng là cọc cằn, thô tục. Lỗ mãng: Người đần độn thô tục.

Thác: Chết.

Còn kể ra chi: Còn có ra gì nữa đâu. Ý muốn nói chết rồi không còn cái gì tất cả.

Nhãn tiền 眼 前: Thấy trước mắt.

Trả quả tức thì: Trả lại quả báo do những tội lỗi đã gây ra liền tức khắc.

Tội dư: Hay dư tội 餘 罪: Tội lỗi mình phải đền trả, nếu chết mà còn dư thừa lại thì con cháu chịu.

Câu 313 và 314: Kẻ lỗ mãng vì không có tin tưởng tôn giáo, nên chê bai khinh dể Thần Thánh, cho rằng người chết rồi không còn chi hết, còn kể chi nữa.

Câu 315: Sự trả quả do việc làm ác sẽ báo ứng tức thì ngay trước mắt.

Câu 315: Tội lỗi đã trả quả, nếu chết còn dư thừa con cháu sẽ đền bồi.

Người lỗ mãng là người cọc cằn thô tục, không biết suy xét lẽ thiệt hơn, nên khi đọc đến bài kinh Sám Hối này thì chắc chắn rằng sẽ chê bai, khinh dể, bởi vì đối với hạng người này, họ chỉ biết sống có thân xác và vật chất mà thôi, chứ không tin con người có linh hồn. Đối với họ, con người khi chết là hết, không có nghiệp báo, nhơn quả gì cả. Vì vậy, họ chỉ sống cho hiện tại, không lo sợ về việc báo ứng, cứ lòng hung hăng mà làm điều dữ. Đến chừng quả báo xảy đến trước mắt thì than ôi! Tội lỗi đã dẫy đầy, khiến cho con cháu cũng phải chịu vương mang.


317. Chớ quấy tưởng luân hồi phi lý,

Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.

319. Thi hài như gỗ biết gì,

Linh hồn là chủ thông tri việc đời.

Quấy tưởng: Tưởng nghĩ bậy, cạn suy xét mà nghĩ bậy.

Phi lý 非 理: Chẳng có lý, vô lý.

Thi hài 屍 骸: Thi thể hình hài, tức là thể xác.

Thông tri 通 知: Bảo cho biết, biết rõ suốt mọi việc.

Câu 317: Chớ nên lầm tưởng rằng chuyện luân hồi nhân quả là không có lý.

Câu 318: Rồi chẳng nghĩ chẳng suy mà giữ tánh lung lăng hung dữ.

Có nhiều người tưởng quấy rằng chết là hết tất cả, chẳng có linh hồn, không luân hồi nhơn quả, cho nên họ chẳng ngại ngùng, sợ sệt việc quả báo, cứ lòng hung hăng làm điều ác đức. Họ nghĩ hiện tại thân này hành động tạo nghiệp thiện hay ác, mai kia thân hoại rồi nghiệp cũng mất đi. Họ không hiểu rằng Phật đã thường nói nghiệp theo con người như bóng với hình vậy. Chúng sanh sở dĩ luân hồi sinh tử là do nghiệp. Nghiệp là động cơ lôi kéo chúng sanh cứ quanh lên lộn xuống trong sáu cảnh giới, gọi là lục đạo.

Lời giải thích của Đức Phật trong câu chuyện sau đây cho ta thấy rằng có luân hồi và chính nghiệp lực đã dẫn dắt con người trong vòng sinh tử.

Xưa có Ma Ha Nam, là em chú bác của Đức Phật. Ma Ha Nam theo Phật tu hành mà không hiểu sau này mình sẽ ra sao, nên hỏi Đức Phật rằng: Bạch Thế Tôn, bình thường con tu hành, giả sử con vì một tai nạn nào đó đưa đến con phải chết, thì sau khi chết con sẽ đi về đâu?

Đức Thế Tôn không trả lời thẳng, mà đưa ra câu hỏi ví dụ rằng: Có một cây to, mọc từ dưới đất lên cao, thân cây nghiêng về một phía. Vậy lúc đốn cây đó, thân sẽ ngã về bên nào?

Ma Ha Nam trả lời: Cây sẽ ngã về phía thân cây đã nghiêng.

Phật dạy: Như vậy, bình thường ông làm điều lành, khi chết tuy tâm thần bị hỗn loạn, nhưng



tải về 1.01 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương