ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


DỊCH VẦN Hễ biết nghề nào cũng ấm thân, Mấy nơi cờ bạc



tải về 1.01 Mb.
trang7/12
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích1.01 Mb.
#3276
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

DỊCH VẦN

Hễ biết nghề nào cũng ấm thân,

Mấy nơi cờ bạc chẳng nên gần.

Anh hùng mắc phải ra hèn hạ,

Phú quí lâm rồi lại khó khăn!

Quần áo tả tơi bằng hữu nhạo,

Ruộng vườn hao hớt chị em dần.

Chẳng tin thì ngó trong làng xóm,

Thua thiệt nhiều người ít kẻ ăn.

(Minh Tâm Bửu Giám)
225. Phải hiểu biết máy sâu họa kín,

Thánh, Thần đâu tư lịnh bỏ qua.

227. Thường ngày tuần khắp xét tra,

Phạt người hung ác đọa sa A Tỳ.

Máy sâu: Do chữ cơ thâm 機 深: Lòng dạ sâu hiểm.

Người xưa nhận thấy sự phát động của tâm như máy móc nên gọi là cơ tâm 機 心. Trong Hán Việt có từ Cơ tâm 機 心: Cái lòng biến trá khéo léo, giống như máy móc, tâm con người ẩn bên trong những mưu mô xảo quyệt để đối xử nhau, giết hại lẫn nhau, không chút thương yêu, không lòng đạo đức. Đấy là bản tâm con người trong thời hạ nguơn mạt Pháp, trong thời xu hướng theo văn minh vật chất, mà quên đi luân thường đạo đức.

Trang Tử có câu: “Hữu cơ giới giả, tất hữu cơ sự, hữu cơ sự giả tất hữu cơ tâm 有 機 械 者, 必 有 機 事, 有 機 事 者, 必 有 機 心”: Có cơ giới tất có cơ sự, có cơ sự tất có cơ tâm.

Thành Huyền Anh chú rằng: Có đồ máy móc tất có chuyện chuyển đổi, có việc chuyển đổi tất sinh lòng đổi thay theo việc.



Họa kín: Tai họa ngầm đến, bởi vì tai họa không lộ ra, chừng đến thì mới biết.

Tai họa do con người tự rước lấy, nên Bàng Đức Công có dạy con rằng: Lượng đại phước diệc đại, cơ thâm họa diệc thâm 量 大 福 亦 大, 機 深 禍 亦 深: Hễ con người có độ lượng ăn ở rộng rãi, khoan dung càng lớn thì cái phước người ấy lớn theo; hễ lòng dạ sâu hiểm hẹp hòi bao nhiêu thì cái tai họa ngầm đến với người ấy cũng bấy nhiêu!



Máy sâu họa kín: Lòng dạ sâu hiểm thì tai họa ngầm đến.

Tư lịnh: Hay tư lệnh 私 令: Ra lịnh theo ý riêng tư của mình.

Tuần khắp xét tra: Đi canh tuần khắp mọi nơi để tra xét.

Đọa sa: Đọa 墮 là phạt xuống cõi khổ sở, thấp kém. Sa là rơi xuống. Đọa sa: Phạt đày xuống cõi Địa ngục, A tỳ.

A tỳ 阿 鼻: Phiên âm từ Phạn ngữ Avici, nghĩa là “vô gián” tức là không gián đoạn, không ngừng nghỉ. Vô gián Địa ngục hay A tỳ địa ngục là nơi thấp kém nhứt trong mười cửa Địa ngục, giam những người phạm tội ngũ nghịch.

Đây là một cõi Địa ngục chịu tội báo nặng nề nhứt, bởi vì các hình khổ nơi đây liên tục triền miên không ngừng và linh hồn phải chịu ở đó đời đời kiếp kiếp.



Câu 225: Phải nên biết rằng lòng dạ càng sâu hiểm thì tai họa sâu kín sẽ ngầm đến.

Câu 226: Thánh Thần không bao giờ tư lịnh mà bỏ qua bao giờ.

Câu 227: Thường ngày, Thần, Thánh tuần khắp mọi nơi để tra xét.

Câu 228: Những người có hành vi hung ác sẽ bị phạt đọa xuống A tỳ địa ngục.
229. Sống dương thế hành thì căn bịnh,

Xui tai nàn dấp dính theo mình.

231. Ăn năn khử ám hồi minh,

Từ bi Trời Phật rộng tình xét cho.

Dương thế 陽 世: Hay dương gian là cõi thế gian, nơi ở của những người đang sống.

Căn bịnh: Hay bệnh căn 病 根, còn được gọi là bệnh nghiệp: Là bịnh do những hành vi hung ác từ trước tạo nên căn nghiệp mà báo ứng trong hiện kiếp. Bịnh này làm cho người thọ lãnh phải chịu đau khổ triền miên để trả nghiệp, nên không có thuốc nào điều trị được, chỉ khi nào hết nghiệp là mới hết bịnh.

Tử Đồng Đế Quân có để lời dạy như sau: Cái bịnh oan nghiệt thì thuốc hay khó chửa cho lành, của hoạnh tài không có thể làm cho người mạng cùng giàu được (Diệu dược nan y oan trái bệnh, hoạnh tài bất phú mệnh cùng nhân 妙 藥 難 醫 冤 債 病, 橫 財 不 富 命 窮 人).



Dấp dính: Dính líu, dính dấp.

Khử ám hồi minh 去 暗 迴 明: Từ bỏ nơi đen tối để trở về chỗ sáng lạn. Nghĩa là bỏ nẻo tà để trở về với đường chánh.

Từ bi Trời Phật rộng tình xét cho: Biết ăn năn, sám hối lỗi lầm thì Trời Phật vì lòng đại từ đại bi sẽ tha thứ tội tình cho.

Câu 229: Người làm ác, khi còn sống thì hành cho mang bệnh căn nghiệp.

Câu 230: Xui khiến những tai nạn thường dính dấp bên mình.

Câu 231: Làm người phải biết ăn năn từ bỏ nẻo tà để trở về với con đường chánh.

Câu 232: Lòng từ bi của Đức Chí Tôn và chư Phật sẽ rộng tình tha thứ cho.

Cuộc sống luôn thay đổi, vô thường. Con người thì luôn khao khát ước mơ được mạnh khỏe, yên ổn. Chính vì thế, con người mới tìm đến tín ngưỡng của tôn giáo, để có sự “bảo vệ” che chỡ của các Đấng Thượng Đế và chư Thần Thánh Tiên Phật. Nên khi có những bệnh tật nguy hiểm, tai nạn đột xuất thì con người thường hay sợ sệt, cầu xin. Điều này do bởi con người không hiểu lý nhơn quả mà thôi. Chúng ta phải hiểu rằng bệnh tật, tai nạn xảy ra cũng chỉ là do nghiệp lực ta làm từ trước, nên ta cần phải tránh bằng cách không gieo nghiệp dữ, cố gắng tạo nghiệp lành. Nhưng rủi như gặp cảnh ấy, thì chúng ta cũng cần phải chấp nhận trả, một mặt chúng ta phải tạo nghiệp lành để trừ bớt những tội căn đã gây ra.

Lòng từ bi của Trời Phật cũng giống như ánh sáng mặt trời chiếu rọi khắp mọi nơi, muôn vật nơi thế gian bất kể lớn hay nhỏ đều được ánh sáng mặt trời rọi đến, nhưng tùy theo mỗi vật tiếp thu ánh sáng đó tự chuyển hóa để có lợi ích cho chính bản thân mình vậy.
233. Đừng cố oán thầm lo gây họa,

Đem lòng thù hăm dọa rấp đường.

235. Đốt nhà, tháo cống, phá mương,

Nước tràn lụt ngập ruộng vườn tan hoang.

Đừng cố oán: Chẳng nên cố tâm thù oán, chớ nên giữ lòng thù hận.

Thầm lo gây họa: Âm thầm lo tính gây họa cho kẻ khác.

Rấp đường: Rào bít đường đi, ngăn lấp lối đi của người.

Tháo cống: Tháo cống nước, tức là mở miệng cống để cho nước chảy ra ngoài.

Phá mương: Phá miệng của con mương để nước chảy thoát, tràn ra ngoài.

Tan hoang: Tan vỡ hoang tàn, chỉ sự tiêu tan hết.

Câu 233: Đừng cố tâm oán thù rồi âm thầm tìm cách gây tai họa cho người.

Câu 234: Đem lòng thù hằn người rồi hăm dọa bít đường rấp ngõ.

Câu 235 và 236: Đốt nhà, tháo nước cống hay phá miệng mương để nước chảy tràn ra ngoài khiến cho ngập lụt, ruộng vườn người hư hại tan hoang.
237. Thêm liều mạng đặng toan đổ tội,

Cho người hiền chịu lỗi vương mang.

239. Khi hồn lìa khỏi trần gian,

Hóa ra ngạ quỉ cơ hàn khổ thân.

Liều mạng: Làm càn không kể mạng số, tức là biết rằng làm việc đó có hại cho sanh mạng nhưng vẫn cứ làm càn.

Đổ tội: Tội lỗi của mình đem đổ trút lên người khác.

Chịu lỗi vương mang: Chịu vướng mắc vào tội lỗi.

Hồn lìa khỏi trần gian: Triết lý Cao Đài cho rằng con người có Linh hồn, còn được gọi là Chơn linh hay Tiểu linh quang, là một thể do Đức Chí Tôn ban cho, nên có thể nói cõi giới của Linh hồn là cảnh Thiêng Liêng Hằng Sống. Vì vậy, khi con người vừa trút hơi thở cuối cùng thì Chơn thần, và Chơn linh sẽ thoát ra thân xác để lìa khỏi trần gian, tùy theo nghiệp lực dẫn dắt mà trở về Thiên cảnh nhẹ nhàng hay cõi Âm quang đen tối để giải thần định trí.

Ngạ quỉ 餓 鬼: Cô hồn, quỉ đói. Một trong tam ác đạo của Phật là cõi Địa ngục, cõi Ngạ quỉ và cõi Súc sinh.

Theo giáo lý Phật, ngạ quỉ là loài quỉ phải chịu đói khát khổ sở, chúng không ăn uống gì được, bởi vì bụng rất lớn mà miệng thì nhỏ như lỗ kim.

Người ta cho rằng người sống trên cõi dương trần có tánh keo kiệt, độc ác, hay ganh ghét, khi chết chơn hồn bị phạt làm ngạ quỉ.

Tại các chùa trước mỗi bữa ăn thường có lệ cúng thí thực cô hồn ngạ quỉ.



Cơ hàn 飢 寒: Đói và lạnh.

Câu 237: Có kẻ liều mạng để toan tính đổ những tội lỗi của mình cho người khác.

Câu 238:Khiến cho người hiền lương phải chịu vương mang lỗi lầm.

Câu 239: Khi chết, hồn sẽ lìa khỏi cảnh trần gian.

Câu 240: Hóa làm ngạ quỉ chịu đói khát, lạnh lùng một cách khổ sở.

Theo truyện cổ Phật giáo, Ngài Mục Kiền Liên mới đắc được thần thông từ trên núi Kỳ Xà Quật đi xuống do nhờ nhãn thông mà thấy được các ngạ quỉ.

Khi Ngài về chùa Trúc Lâm gần thành Vương Xá vào buổi chiều, bạch câu chuyện ngạ quỉ vừa thấy buổi sáng với Đức Phật. Nhân dịp ấy Đức Thế Tôn mới nói rằng:

- Các thứ ngạ quỉ này Như Lai từng thấy nhiều lần, nhưng không muốn đem ra nói cho ai, vì không bằng cớ là không có ngươi thứ nhì cùng biết. Nay có Mục Kiền Liên tuệ nhãn đã phát sanh, được thấy các ngạ quỉ ấy cũng như Như Lai.



Theo Ngạ quỉ kinh giải, các thứ ngạ quỉ này xưa kia là những người trong xứ Ma Kiệt Đà, đã làm những điều tội ác, có 24 thứ ngạ quỉ, phần nhiều các thứ này đều còn sót lại quả báo của cảnh Địa ngục, phải tái sanh làm ngạ quỉ rất lâu đời, phải chịu khổ sở đói khát nhiều kiếp, chỉ thoát khỏi được là khi nào hết quả hoặc có thân nhân làm phước rồi hồi hướng quả lành, tùy theo nghiệp nặng nhẹ, mới có thể siêu sanh đặng.
241. Đời nhiều kẻ khi Thần, thị Thánh,

Ám muội lòng tánh hạnh gổ ganh

243. Thấy ai làm phải làm lành,

Xiểm gièm cho đặng khoe danh của mình.

Khi Thần thị Thánh: Khinh thị Thần Thánh, tức là coi rẻ, khi dể Thần Thánh.

Ám muội 暗 昧: Tối tăm không rõ ràng.

Ám muội lòng: Hay lòng ám muội, tức là lòng dạ đen tối.

Gổ ganh: Vì ganh ghét mà gây gổ.

Xiểm gièm: Hay gièm xiểm là nịnh hót và nói xấu người khác để khoe danh mình.

Khoe danh: Khoe khoang tiếng tốt cho mình.

Câu 241: Ở trên đời có nhiều kẻ khinh thị, coi thường Thần Thánh.

Câu 242: Lòng dạ lại đen tối và tánh hay gây gổ vì tỵ hiềm ganh ghét.

Câu 243: Thấy ai làm điều phải và làm điều lành.

Câu 244: Thì sinh lòng ganh ghét mà gièm xiểm để được khoe danh của mình.
245. Lại còn có tánh tình hiểm độc,

Xúi phân chia thân tộc ruột rà.

247. Làm cho chồng vợ lìa xa,

Cả đời nghiệt báo oan gia chẳng rời.

Hiểm độc: Hay Độc hiểm 毒 險: Nham hiểm và độc ác.

Thân tộc 親 族: Bà con thân thích trong họ.

Ruột rà: Quan hệ về ruột thịt.

Nghiệt báo 孽 報: Cái mầm ác được báo đáp lại bằng những tai họa, bệnh tật hay đau khổ.

Oan gia 冤 家: Nhà hay người bị nhiều điều oan trái.

Câu 245: Lại còn có những người tánh tình nham hiểm và độc ác.

Câu 246: Xúi giục phân chia tình thân tộc ruột rà khiến chia lìa với nhau.

Câu 247: Gây mâu thuẩn vợ chồng người ta khiến phải chia lìa.

Câu 248: Suốt đời sẽ bị nghiệp báo ứng và bị oan gia phá hại chẳng khi nào dứt.
249. Muốn tránh đặng khỏi nơi tội quá,

Lánh kẻ tà chẳng khá nên gần.

251. Thí tiền, thí bạc, chẩn bần,

Người đau thí thuốc, Thánh, Thần phước ban.

Tội quá 罪 過: Quá là lỗi lầm. Tội quá: Tội lỗi.

Lánh kẻ tà: Xa lánh người gian tà, tức là phải tránh xa những người có tư tưởng và hành vi không chính đáng, tà vạy.

Thí tiền thí bạc: Là bố thí bằng cách đem tiền bạc ra giúp đỡ người nghèo đói, thiếu thốn, đau yếu.

Bố thí tiền bạc còn gọi là tài thí, một trong ba cách hiến tặng: Tài thí 財 施, pháp thí 法施 và vô úy thí 無 畏 施.

Thí tiền thí bạc không những chỉ riêng có lợi cho người nhận mà lẫn cả người cho nữa. Như vậy hành bố thí vừa cứu giúp cho người mà vừa độ cho chính mình: Làm cho tâm được an vui, làm mất đi tính tham lam, ích kỷ, phá chấp sâu nặng của con người mình và làm phát triển lòng từ bi hỷ xả của Phật.

Chẩn bần 賑 貧: Chẩn là cứu giúp. Chẩn bần: Cứu giúp cho người nghèo khổ.

Câu 249: Nếu mình muốn tránh đặng khỏi nơi tội lỗi.

Câu 250: Thì hãy xa lánh với kẻ tà vạy, chẳng nên gần gũi họ.

Theo Nho giáo, con người sinh ra tính vốn lành, vì tập nhiễm xã hội nên tính của con người trở nên bất thiện, tức là người ta có những hành vi xấu xa, tội lỗi là do bởi gần gũi với những kẻ gian xảo, tà vạy. Do vậy người xưa thường dạy phải xa lánh những người không ngay thẳng, hung ác, mà phải gần gũi người hiền lương, chính trực, bởi họ cho rằng: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

Ở đây, con người muốn tránh đặng khỏi nơi tội lỗi, thì phải lánh xa những kẻ gian tà. Ông Thái Công dạy rằng: Gần son thì đỏ, gần mực thì đen, gần người hiền thì sáng, gần người tài thì trí, gần kẻ ngây thì dại, gần người lành thì có đức, gần người trí thì thông minh, gần kẻ ngu thì ám muội, gần kẻ nịnh thì bợ đỡ, gần kẻ trộm thì sinh giặc (Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc, cận hiền giả minh, cận tài giả trí, cận si giả ngu, cận lương giả đức, cận nịnh giả siểm, cận thâu giả tặc 近 朱 者 赤, 近 墨 者 黑, 近 賢 者 明, 近 才 者 智, 近 癡 者 愚, 近 良 者 德, 近 佞 者 諂, 近 偷 者 賊).

Thánh nhân xưa cũng thường nói: Ở chung với người không biết lẽ phải, thì cũng như ngồi giữa hàng cá ươn, dầu chẳng dơ áo, mà nghe mùi hôi thúi (Dữ vô thức giả xử như bào ngư tứ trung tọa, tuy bất ô y, thời thời văn xú 與 無 識 者 處 如 鮑 魚 肆 中 坐, 雖 不 污 衣, 時 時 聞 臭).

Tóm lại, gần người tà vạy thì phải làm những việc chẳng lành rồi gây nên nhiều điều tội lỗi. Muốn tránh tội quá thì chẳng gần kẻ gian, xa lánh người xấu.

Câu 251 và 252: Thấy ai nghèo khổ, đau yếu hay thiếu thốn thì mình đem tiền bạc, vật chất để cứu giúp cho người, còn gặp người bệnh hoạn thì thí thuốc. Làm được những hành vi đó, Thánh Thần sẽ ban phước cho.

Câu chuyện sau đây cho ta thấy được điều phước báo của việc bố thí:

Một hôm tôn giả Mục Kiền Liên đến nhà người em ruột mình là một vị trưởng giả rất giàu có, Ngài bảo em rằng:

Tôi nghe chú không ưa bố thí, điều ấy không tốt. Phật thường dạy: Người nào hay bố thí sẽ được hưởng phước báo không lường. Nay chú được giàu sang, là do công đức từ kiếp trước. Nay chú cứ ôm lòng lẫn tiếc, chẳng hưởng phước không đặng bao lâu mà đời sau do nghiệp bỏn xẻn sẽ mang thân ngạ quỉ khốn khổ vô cùng.

Nghe lời anh dạy, vị trưởng giả mở rộng kho, cúng dường Tam Bảo, chu cấp cho kẻ nghèo đói. Trong khi ấy ông lại cất thêm kho vựa mới, ý muốn thâu chứa những của cải mình sẽ được do phước bố thí, nhưng chẳng đặng bao lâu, thì tiền của tiêu mòn, kho cũ đã hết, mà kho mới cũng trống trơn. Trưởng giả sanh lòng ảo não, đến thưa với Mục Kiền Liên: Xưa anh bảo bố thí sẽ được nhiều phước báo, em đem của kho làm việc phước đức đã hết sạch, nhưng phước báo đâu không thấy? Tôn giả Mục Kiền Liên bảo: Nếu phước đức có hình tướng, thì cảnh giới hư không dung chứa vào đâu cho hết. Tuy nhiên, nếu chú muốn, tôi có thể chỉ cho thấy một phần ít quả báo của sự bố thí.

Nói đoạn, Ngài liền dùng sức thần thông đem em lên một cõi Trời, nơi đây lầu các nguy nga, cảnh trí vui tươi sáng suốt, ao thất bửu, gió thơm thanh khiết, hoa mạn đà la vẻ đẹp thần tiên. Từ trong cung điện lộng lẫy, chậm rãi đi ra một đoàn ngọc nữ. Trưởng giả thấy toàn người nữ, nên thắc mắc hỏi, thiên nữ đáp: Đây là cung Trời Đạo Lợi, chúng tôi ở chốn này đã lâu hưởng phước tự nhiên. Bao nhiêu cung điện và tất cả trang nghiêm tốt đẹp nơi đây đều là kết quả của sự bố thí. Người chủ quản của chúng tôi sau này sẽ là người ở cõi nhân gian siêng tu phước đức, đó là một vị trưởng giả em Ngài Mục Kiền Liên, đệ tử của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sau khi trở về nhơn gian, trưởng giả lại càng bố thí nhiều hơn và khuyến khích người khác làm theo, không lúc nào biết nhàm chán.

(Theo Lịch sử Đức Mục Kiền Liên)


253. Đêm thanh vắng chớ toan mưu dối,

Xúi trẻ thơ lầm lỗi ngỗ ngang.

255. Âm đài gông tróng sẵn sàng,

Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình 1.

Chớ toan mưu dối: Chẳng nên toan tính hay âm mưu lừa dối người.

Ngỗ ngang 忤 昂: Ngỗ là trái, ngạo ngược. Ngang là bướng bỉnh. Ngỗ ngang: Làm điều ngang ngược sái quấy.

Âm đài 陰 臺: Chỉ lâu đài ở cõi Âm phủ, nơi Thập Điện Diêm Vương làm việc. Đồng nghĩa với Âm ty, Âm cung hay Âm phủ.

Gông: Một tấm gỗ nặng có khoét lỗ dùng để tròng vào cổ và tay tội nhân.

Tróng: Cái cùm để khóa chơn người có tội.

Cổ mang hành hình: Cho tội nhơn mang gông vào cổ để tra tấn, hành hình.

Câu 253 và 254: Đêm tối vắng vẻ, đừng nên toan tính hay âm mưu những điều dối trá để xúi giục trẻ thơ làm những việc tội lỗi, ngang ngược.

Câu 255: Ở cõi Âm phủ đã chuẩn bị sẵn sàng gông và cùm.

Câu 256: Chờ đến khi chết, hồn bị đày xuống mang gông vào cổ để chịu tra tấn, hình phạt.
257. Các thơ truyện huê tình xé hủy,

Kẻo để đời làm lụy luân thường

259. Nói lời tục tĩu không nhường,

Tội hành cắt lưỡi trăm đường ghê thay!

Thơ truyện: Hay thư truyện 書 傳, tức là sách và truyện.

Huê tình: Hay hoa tình 花 情 chuyện tình yêu lãng mạn giữa nam nữ. Ý chỉ chuyện trăng hoa.

Lụy 累: Dính dấp tới, làm liên lụy tới, làm hại tới.

Lời tục tĩu: Lời nói chứa đầy điều thô tục, xấu xa.

Tội hành cắt lưỡi: Người có tội bị hành phạt cắt lưỡi.

Câu 257: Gặp các sách hay truyện trăng hoa, lãng mạn thì hãy xé nát hoặc hủy bỏ.

Câu 258: Nếu không, để lại đời sẽ làm hại đến luân thường đạo lý.

Mục đích của văn chương đối với Nho giáo là “lấy văn chở Đạo”(Văn dĩ tải Đạo 文 以 載 道), tức là dùng văn chương để dạy về đạo lý Thánh hiền. Thế mà cũng có nhiều người vì quyền lợi, nên viết truyện huê tình, dâm loạn, khiến làm lụy đến luân thường đạo đức của người đời. Những loại sách như vậy đã đầu độc biết bao nhiêu trẻ thơ non dại, hại cả thế hệ của con cháu, làm thương luân bại lý. Bài ngự chế của vua Cao Tông có nói: Một đóm lửa nhỏ, cũng đốt đặng núi rừng muôn đám, nửa lời nói bậy có thể làm tổn đức bình sanh (nhất tinh chi hỏa, năng thiêu vạn khoảnh chi sơn; bán cú phi ngôn, ngộ tổn bình sinh chi đức 一 星 之 火, 能 燒 萬 頃 之 山; 半 句 非 言, 誤 損 平 生 之 德).

Tội lỗi của những người viết dâm thư hay truyện huê tình không phải là nhỏ, vì đầu độc đầu óc non nớt của trẻ thơ, làm hại cả thế hệ đạo đức.

Câu 259: Mở miệng nói không kể lời tục tĩu, xấu xa.

Câu 260: Khi chết xuống Âm phủ bị hành phạt cắt lưỡi.
261. Lại có kẻ miệng ngay lòng vạy

Tởi làm chùa, dối cậy in kinh.

263. Ăn gian xớt bớt cho mình,

Dầu qua dương pháp, luật hình Diêm vương.

Miệng ngay lòng vạy: Miệng nói ngay thật, lòng dạ vạy tà. Chỉ những người ngoài miệng ăn nói đàng hoàng, ngay thẳng mà trong lòng thì gian tà xảo trá.

Tởi làm chùa: Đi vận động người ta hiến tiền bạc, vật liệu để xây cất chùa chiền, in ấn kinh sách hay lên cốt tượng Phật.

Dối cậy in kinh: Cậy vào việc in ấn kinh sách để dối gạt người kiếm tiền, kiếm lợi.

Ăn gian xớt bớt: Lường gạt người để ăn gian xớt bớt cho mình.

Dương pháp 陽 法: Luật pháp ở cõi thế gian.

Luật hình 律 刑: Bị hành hình theo luật pháp.

Người phạm pháp đều bị hình luật xử phạt, nếu ở thế gian thì bị phép vua luật nước, còn ở âm phủ thì bị quỷ thần dõi xét: Âm vi quỷ thần sở hại, dương vi dương pháp sở tru 陰 為 鬼 神 所 害, 陽 為 陽 法 所 誅. Luật hình thế gian còn khó tư vì, huống là luật Thiên điều xử phạt, như Thánh Ngôn Đức Chí Tôn đã dạy: “Mấy con biết luật hình thế gian còn chưa tư vị thay, huống là Thiên Điều thì tránh sao cho lọt?”.



Diêm vương 閻 王: Theo Phật giáo, Diêm Vương là vua các cõi Địa ngục ở dưới Âm phủ, còn gọi là Diêm La Vương 閻 羅 王.

Theo truyền thuyết, có mười vị vua cai quản mười cung điện ở nơi Âm phủ gọi là Thập Điện Diêm Vương 十 殿 閻 王 hay Thập Điện Minh Vương 十 殿 明 王.

Theo kinh sách, mười vị Diêm Vương cai quản mười điện ở Âm phủ được kể như sau:

Nhứt Điện 一 殿: Tần Quảng Vương 秦 廣 王.

Nhị Điện 二 殿: Sở Giang Vương 楚 江 王.

Tam Điện 三 殿: Tống Đế Vương 宋 帝 王.

Tứ Điện 四 殿: Ngũ Quan Vương 五 關 王.

Ngũ Điện 五 殿: Diêm La Vương 閻 羅 王.

Lục Điện 六 殿: Biện Thành Vương 卞 城 王.

Thất Điện 七 殿: Thái Sơn Vương 泰 山 王.

Bát Điện 八 殿: Bình Đẳng Vương 平 等 王.

Cửu Điện 九 殿: Đô Thị Vương 都 示 王.

Thập Điện 十 殿: Chuyển Luân Vương 轉 輪 王.

Câu 261: Lại có những kẻ nói năng ngoài miệng thì ngay thật nhưng trong lòng thì gian tà xảo trá.

Câu 262: Mượn việc xây dựng chùa chiền và in ấn kinh sách để dối người thủ lợi.

Câu 263 và 264: Ở trên Dương thế, lường gạt người để ăn gian xớt bớt cho mình dầu vượt qua khỏi luật pháp thì cũng bị hình luật ở Âm phủ.

Trên đời có nhiều kẻ vì lợi mà họ bày lắm mưu sâu kế độc để lừa đảo người nhẹ dạ: Kẻ thì ngoài miệng ngọt ngào, ngay thật, nhưng trong lòng gian tà, xảo trá, chuyên lường gạt người lấy tài sản, vật chất; người lại đội lốt tôn giáo, lợi dụng Trời Phật để lừa dối người dễ tin, mượn việc xây dựng chùa chiền, in ấn kinh sách mà gạt người lấy tiền của.

Những hành vi của họ tuy rằng không bị người phát hiện, vượt vòng dương pháp, nhưng họ khó qua được luật hình của Diêm cung. Bài Tư Thế thông huấn nói rằng: Âm pháp trì nhi bất lậu, Dương hiến cận nhi hữu đào; dương võng sơ nhi dị lậu, âm võng mật nhi nan đào 陰 法 遲 而 不 漏, 陽 憲 近 而 有 逃; 陽 網 疏 而 易 漏, 陰 網 密 而 難 逃: Âm pháp chậm mà không thể nào lọt qua, dương pháp kín mà có thể trốn được; lưới dương gian thưa nên dễ lọt, chớ lưới âm phủ nhặt mà khó trốn.


265. Thêm những sãi giả nương cửa Phật,

Của thập phương châu cấp thê nhi.

267. Ngày sau đọa lạc Âm ty,

Thường thường khảo kẹp chẳng khi nào rời.

Giả nương cửa Phật: Giả dối nương tựa vào cửa chùa. Ý chỉ người giả dối tu hành.

Thập phương 十 方: Mười phương, tức là khắp chốn, mọi nơi.

Của thập phương: Của cải tiền bạc người đạo ở khắp mọi nơi dâng cúng cho chùa.

Châu cấp 周 給: Cấp cho đầy đủ để nuôi sống.

Thê nhi 妻 兒: Vợ và con.

Đọa lạc 墮 落: Rơi xuống cõi thấp kém. Phạt người có tội đày xuống cõi thấp kém khổ sở.

Khảo kẹp: Kềm kẹp để tra khảo.



tải về 1.01 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương