ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng



tải về 1.01 Mb.
trang6/12
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích1.01 Mb.
#3276
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12
Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng.

Mà dể duôi sanh biến lăng loàn,

107. Con người có trí khôn ngoan,

Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi,

Chớ lầm tưởng: Đừng có lầm lẫn mà tưởng rằng, chẳng nên lầm mà tưởng như vậy.

Trong hang vắng tiếng: Trong hang vắng vẻ không có âm thanh. Ý nói đừng nghĩ rằng nơi kín đáo không ai hay biết.

Dể duôi: Xem thường, khi dể.

Sanh biến 生 變: Hay sinh biến, là gây ra những điều không tốt.

Tánh linh hơn vật: Trong vạn vật, con người là vật có tánh linh hơn hết, vì có đủ tam hồn: Sinh hồn, giác hồn, linh hồn.

Lễ nghi 禮 儀: Cách thức bên ngoài để bày tỏ việc đạo đức, lễ nghĩa.

Câu 105: Đừng có lầm tưởng rằng ở nơi kín đáo, vắng vẻ không ai hay biết.

Câu 106: Rồi xem thường, mà gây ra những điều trái với luân lý đạo đức.

Có nhiều người khi làm việc gì sái quấy thường hay lén lút, hay làm nơi vắng vẻ, kín đáo, vì họ nghĩ như vậy sẽ không ai thấy, biết. Nhưng họ quên rằng giấu được người, chứ không sao giấu được lương tâm mình, hoặc các bậc Thần Thánh. Chính vì vậy mà sách Cảnh Hành dạy làm bất cứ việc gì cũng cần giữ quang minh, chính đại: Ngồi trong nhà kín tưởng không ai hay nhưng thật như ngoài đường cái, ai cũng rõ (Tọa mật thất như thông cù 坐 密 室 如 通 衢).

Những việc làm mờ ám, nghĩ rằng không ai hay biết, nhưng “chẳng có gì tỏ hơn những chỗ mờ tối, chẳng có gì rõ hơn những điều nhỏ bé, cho nên người quân tử giữ gìn cẩn thận trong khi chỉ có một mình mình” (Mạc kiến hồ ẩn, mạc hiển hồ vi, cố quân tử thận kỳ độc dã 莫 見 乎 隱, 莫 顯 乎 微, 故 君 子 慎 其 獨 也).

Chuyện thầm lén tưởng rằng không người biết, không người rõ, song có sự soi xét của các Đấng Thần minh như Tử Hư Nguyên Quân nói: Việc rõ ràng thì đâu cũng có phép vua luật nước, việc mờ ám, kín đáo thì có các đấng Thần minh soi xét cho (Minh hữu vương pháp tương kế, ám hữu quỉ thần tương tùy 明 有 王 法 相 繼, 暗 有 鬼 神 相 隨).

Câu chuyện sau đây cho ta thấy không nên thầm lén:

Dương Chấn người đất Quan Tây, đời nhà Hán, làm quan thái úy, tánh thanh liêm. Hồi làm thứ sử có tiến dẫn Vương Mật làm lệnh doãn huyện Xương Ấp. Nên khi ông đi ngang qua Xương Ấp, vì trời tối, có nghỉ tạm ở đó một đêm. Vương Mật mới lén đem mười lượng vàng đền ơn. Ông Dương Chấn mới trách: Ta biết tài ngươi mà ngươi không biết lòng ta.

Dương Mật nói: Đêm hôm khuya khoắc có ai hay mà ngài sợ.

Dương Chấn đáp: Sáng thì có trời biết, tối thì có thần soi biết; trong có ta biết, ngoài có ông biết. Chỗ biết có nhiều sao gọi rằng không ai biết.



Câu 107 và 108: Trong vạn vật, con người là loài có trí khôn ngoan và có tánh linh hơn mọi loài nên biết đường đạo đức, lễ nghĩa.

Con người là một sinh vật có ý thức, có trực giác, biết suy tư và nhứt là biết đường nhơn nghĩa, đạo lý. Vì vậy, Tuân Tử có nói: “Nước lửa có khí mà không sinh, cây cỏ có sinh mà không hiểu biết, cầm thú có hiểu biết mà vô nghĩa, duy chỉ có con người có khí, có sinh, có hiểu biết và cũng có nghĩa, cho nên người là quý nhứt trong thiên hạ (Thủy hỏa hữu khí nhi vô sinh, thảo mộc hữu sinh nhi vô tri, cầm thú hữu tri nhi vô nghĩa, duy nhơn giả hữu khí, hữu sinh, hữu tri diệc hữu nghĩa, cố vi thiên hạ quý 水 火 有 氣 而 無 生, 草 木 有 生 而 無 知, 禽 獸 有 知 而 無 義, 惟 人 者 有 氣, 有 生, 有 知 亦 有 義, 故 為 天 下 貴).

Con người là một yếu tố trong Tam tài là thiên, địa, nhơn (Trời, đất, người). Sở dĩ con người đạt được địa vị ấy là vì con người được Trời đất sinh ra và ban cho một đức tính rất cao quí, rất thiêng liêng, hay nói khác đi người chịu cái đức của Trời đất. Ngoài ra, con người còn được hấp thụ hoàn toàn cái tinh thần linh diệu và cái khí chất tinh túy của Trời đất , nên con người linh hơn, sáng suốt hơn vạn vật. Chính nhờ cái sáng suốt này mà con người phân biệt được điều hay dở, lẽ phải trái. Cái sáng suốt ấy có sẵn trong mỗi người được gọi là trực giác, hay lương tri, hay minh đức.

Nói theo triết lý đạo Cao Đài, con người có tánh linh hơn vật, có trí khôn ngoan, biết điều nhơn nghĩa là vì:

- Thứ nhứt là bởi vì con người phải qua muôn nghìn kiếp tiến hóa, từ vật chất, thảo mộc, thú cầm, rồi mới chuyển hóa đến nhơn loại.

Đức Chí Tôn giảng về sự tiến hóa của muôn vật như sau: “Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn năm, muôn năm lần mới đến địa vị nhơn phẩm”.

- Thứ nhì là vì con người có ba phần hồn: Sanh hồn, giác hồn, linh hồn, mà loài vật chất thấp nhứt kim thạch, là loài vô tri vô giác, không phân biệt được đầu ngọn; kim thạch tiến lên thảo mộc thì có một hồn là sanh hồn, có gốc quay xuống đất, ngọn hướng lên trời; thảo mộc tiến lên thú cầm thì có được hai hồn là sanh hồn, giác hồn, đầu và đuôi ngang nhau; thú cầm tiến lên con người thì có ba hồn: Sanh hồn, giác hồn, linh hồn, đầu hướng lên trời, chân quay xuống đất.

Con người nhờ Sanh hồn mới có được sự sống, Giác hồn mới có cảm giác, biết đau đớn khổ sở và Linh hồn mới khôn ngoan, biết đạo lý, suy xét đủ điều, cho nên con người tánh linh hơn vật.


109. Phải cho biết kỉnh vì trên trước

Đừng buông lời lấn lướt hồ đồ

111. Thuận cùng chú bác cậu cô,



Bà con chòm xóm ra vô khiêm nhường.

Kỉnh vì trên trước: Đối với bậc cao quý, trưởng thượng, tức là người có địa vị hay tuổi tác thì phải nể nang, kính trọng.

Thói thường, người ta chỉ dạy kẻ dưới kính trọng người trên mà không lấy trên kính dưới để thu phục bậc hiền tài, nên Mạnh Tử mới nói: Lấy kẻ dưới kính người trên, gọi là quý trọng người cao quý, lấy người trên kính kẻ dưới, gọi là tôn kính người hiền tài; quý trọng người cao quý, tôn kính người hiền tài, nghĩa cũng là một vậy (Dụng hạ kính thượng, vị chi quý quý, dụng thượng kính hạ, vị chi tôn hiền; quý quý tôn hiền, kỳ nghĩa nhất dã 用 下 敬 上, 謂 之 貴 貴, 用 上 敬 下, 謂 之 尊 賢; 貴 貴 尊 賢, 其 義 一 也).

Đây nói bè bạn là một mối trong nhân luân để giúp nhau làm điều nhân, cho nên thiên tử làm bạn với kẻ thất phu mà không cho là khuất nhục, thất phu làm bạn với thiên tử mà không cho là tiếm lạm. Đó là Mạnh Tử dựa theo sự ứng xử giữa vua Nghiêu và Thuấn về đạo nhân luân vậy. Ngài nói: “Vua Thuấn lên triều kiến vua Nghiêu, vua Nghiêu gả hai con gái cho và để con rể ở phó cung, vua Nghiêu cũng ăn uống với vua Thuấn. Khi thì vua Nghiêu đến thăm vua Thuấn, lúc thì vua Thuấn đến thăm vua Nghiêu, thay đổi nhau làm chủ khách, thế là bậc thiên tử làm bạn với kẻ thất phu vậy”.

Buông lời: Không suy nghĩ mà nói ra, phát ngôn cẩu thả.

Thuận 順: Xuôi theo, phục theo.

Bà con chòm xóm: Bà con láng giềng, tức là những người thân thuộc, gần gũi trong xóm.

Khiêm nhường: Hay khiêm nhượng 謙 讓: Khiêm là nhún nhường, khiêm tốn. Nhượng là nhường nhịn. Khiêm nhường: Khiêm tốn nhún nhường.

Câu 109: Làm người phải biết nể nang, kính trọng những người hơn mình về tài ba, đạo đức hay địa vị (Trưởng thượng).

Câu 110: Đừng nói ra những điều thiếu suy nghĩ mà lấn lướt những người trưởng thượng.

Câu 111:Trong thân tộc phải ăn ở xuôi thuận với chú, bác, cậu, cô.

Câu 112: Ngoài chòm xóm thì phải khiêm tốn, nhún nhường với bà con láng giềng.
113. Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh

Đừng chỗ đông buông tánh quá vui

115. Cợt người ra dạ dể duôi,

Sanh điều chích mích đâu nguôi dạ hờn.

Hẹp đường: Đường đi chật hẹp.

Nhượng 讓: Nhường.

Nhượng tránh: Tránh qua một bên để nhường đường, nhường chỗ.

Thấy người già yếu hay tàn tật đi đường, đi xe, đạo lý của con người là phải nhượng tránh, hay nhường chỗ ngồi. Hiếu Hữu Châu Tiên sinh có nói rằng: Mình nhường cho người ta đi trước mình, trót đời cũng không thua sút là bao nhiêu; bờ ruộng người ta tranh lấn mình, mình nhường nhịn cho người ta thì mình cũng chẳng mất đi đoạn nào (Chung thân nhượng lộ, bất uổng bách bộ; chung thân nhượng bạn, bất thất nhất đoạn 終 身 讓 路, 不 枉 百 步; 終 身 讓 畔, 不 失 一 段).

Cổ Linh Trần Tiên Sinh cũng có dạy: Đi đường phải nhường bước, cày bừa phải nhường bờ. Chớ để người đầu bạc phải gánh đội đi ngoài đường phố, có thế mới thành phong tục lễ nghĩa vậy (Hành giả nhượng lộ, canh giả nhượng bạn; ban bạch giả bất phụ đái ư đạo lộ, tắc vi lễ nghĩa chi tục hĩ 行 者 讓 路, 耕 者 讓 畔; 頒 白 者 不 負 戴 於 道 路, 則 為 禮 義 之 俗 矣).

Buông tánh: Thả lỏng tánh tình, để tánh buông lung không gìn giữ chặt chẽ.

Cợt người: Trêu ghẹo người, cười cợt người.

Trêu ghẹo người chơi cũng nên vừa phải, đừng vì quá sức vui mà cợt người, bởi vui quá sẽ sinh ra buồn phiền (lạc cực sanh bi 樂 極 生 悲) mất niềm hòa khí.



Xích mích: Phiền hà, tức là có sự va chạm nhỏ nhặt với nhau mà sinh ra phiền lòng.

Đâu nguôi dạ hờn: Không giảm bớt lòng hờn giận.

Câu 113: Ở nơi đường chật hẹp phải tránh nhường cho những người già yếu, tật nguyền.

Câu 114: Chỗ đông người, đừng vì quá vui mà buông tánh cẩu thả, không gìn giữ.

Câu 115: Đừng có lòng khi dể mà cười cợt, trêu ghẹo người ta.

Câu 116: Để sinh ra sự xích mích với nhau khiến cho không bao giờ nguôi được hờn giận .
117. Khi tế tự chớ lờn chớ dể

Việc quan, hôn thủ lễ nghiêm trang

119. Gìn lòng chẳng khá lăng loàn.

Lễ nghi vẹn giữ vững vàng chớ quên.

Tế tự 祭 祀: Tế là cúng một cách long trọng. Tự là thờ cúng. Tế tự: Chỉ chung về sự thờ tự và cúng tế.

Ngày xưa người ta phân biệt: Cúng Thần trên Trời là tự 祀, cúng Thần dưới đất là tế 祭. Về sau, hai chữ này chỉ còn nghĩa là cúng một cách trọng thể các Đấng Thiêng Liêng.



Chớ lờn chớ dể: Không được khinh thường và vô lễ.

Quan hôn 冠 婚: Quan là cái mão. Hôn là việc cưới vợ gả chồng.

Theo nghi lễ thời xưa, một đời người có bốn cái lễ lớn: Quan, hôn, tang, tế. Quan hôn chịu ảnh hưởng hỉ lạc, tang tế chịu ảnh hưởng ai bi.

- Quan 冠: Theo sách Lễ Ký, hễ con trai đến trưởng thành đúng 20 tuổi thì thọ lễ Gia quan (lễ đội mão), còn con gái đến trưởng thành đúng 18 tuổi thì thọ lễ Gia kê (lễ cài trâm).

- Hôn 婚: Nghi lễ cưới vợ gả chồng.

- Tang 喪: Nghi lễ khi có người chết.

- Lễ 禮: Các lễ cúng tế trong gia đình, trong làng...



Thủ lễ 守 禮: Giữ gìn nghi lễ hay giữ gìn phép tắc.

Nghiêm trang: Hay trang nghiêm 莊 嚴: Uy nghi, làm cho người ta kính sợ.

Chẳng khá lăng loàn: Không nên hỗn xược làm càn bậy, chẳng tùng theo phép tắc.

Lễ nghi vẹn giữ: Giữ gìn nghi lễ cho tròn vẹn.

Câu 117: Khi thờ phượng và cúng tế thì không nên khinh lờn và vô lễ.

Câu 118: Việc quan hôn thì phải giữ gìn nghi lễ cho được nghiêm trang.

Đạo sửa trị con người cho đặng thuần lương chơn chánh, chẳng có phương pháp nào cần thiết và gấp rút cho bằng lễ nghi, pháp độ như lời dạy của Đức Khổng Phu Tử trong sách Lễ Ký: Trị nhân chi Đạo mạc cấp ư lễ 治 人 之 道 莫 急 於 禮.

Thực vậy, lễ nghi pháp độ được người xưa thực hiện để làm nền móng giáo hóa nhơn sanh cho thấm nhuần đạo đức: Biết trọng lễ nghĩa, liêm sỉ, biết giữ khiêm cung, kỉnh nhượng. Người có giữ lễ nghi, biết khiêm cung kỉnh nhượng thì đặng an toàn danh phận, còn người không giữ lễ pháp, lại buông lung khinh dể thì phải chịu nguy hại đến thân danh. Vì thế, lễ là cái cần thiết không thể không học (Nhân hữu lễ tắc an, vô lễ tắc nguy. Lễ giả, bất khả bất học dã 人 有 禮 則 安, 無 禮 則 危, 禮 者, 不 可 不 學 也). (Thiên Khúc lễ).

Lễ đối với một con người sống trong xã hội, từ nhỏ đến lúc già thì có quan, hôn, tang, lễ: Tang lễ thì không nên lờn dể, quan hôn thì phải giữ gìn cho nghiêm trang.



Câu 119: Phải gìn lòng ngay thật, chẳng khá hỗn xược làm càn bậy mà không tùng theo phép tắc.

Câu 120: Giữ vẹn lễ nghi cho vững chắc, không để cho sa ngã mà thất lễ.
121. Giàu sang ấy Ơn Trên giúp sức.

Phước ấm no túc thực túc y.

123. Thấy người gặp lúc tai nguy,

Ra tay tế độ ấy thì lòng nhơn.

Ơn Trên: Ơn huệ của Đức Chí Tôn hay các Đấng Thiêng Liêng.

Giúp sức: Sức trợ giúp thêm.

Phước ấm no: Điều phước đức hay điều may mắn tốt lành khiến cho thân được no ấm.

Túc thực túc y 足 食 足 衣: Đủ ăn đủ mặc, có nghĩa là đời sống được no ấm.

Túi tham của con người không đáy, nên cuộc sống lúc nào cũng thấy thiếu thốn, không bao giờ biết đủ. Chính vì vậy sách Cảnh Hành mới nói: Biết đủ (cho là đủ) thì thường vui, tham quá thì lo nhiều.Người biết đủ thì nghèo hèn cũng vui, kẻ không biết đủ thì giàu sang cũng lo. Biết đủ thường đủ, trọn đời không nhục, biết thôi thường thôi, trọn đời không hổ. Nhìn lên thì thấy chưa đủ, trông xuống thì thấy có dư (Tri túc thường lạc, đa tham tắc ưu; tri túc giả bần tiện diệc lạc, bất tri túc giả phú quí diệc ưu; tri túc thường túc, chung thân bất nhục, tri chỉ thường chỉ, chung thân bất sỉ; tỷ thượng bất túc, tỷ hạ hữu dư 知 足 常 樂, 多 貪 則 憂; 知 足 者 貧 賤 亦 樂, 不 知 足 者 富 貴 亦 憂; 知 足 常 足, 終 身 不 辱, 知 止 常 止, 終 身 不 恥; 比 上 不 足, 比 下 有 餘).

Cái đủ theo Thánh hiền xưa cũng phải có đạo lý, sách Đại Học dạy: Thà chẳng được đủ mà cư xử ngay ngắn, chẳng nên có dư mà ăn ở vạy vò (Ninh khả chánh nhi bất túc, bất khả tà nhi hữu dư 寧 可 正 而 不 足, 不 可 邪 而 有 餘).

Tai nguy 災 危: Tai nạn nguy hiểm.

Tế độ 濟 度: Tế là đưa đò qua sông, giúp đỡ. Độ là cứu giúp. Tế độ: Dùng Phật pháp để cứu vớt người đưa qua khỏi biển khổ. Nghĩa rộng: Đem tài vật cứu giúp cho người nghèo khổ, khó khăn.

Lòng nhơn: Lòng thương người mến vật.

Lòng nhơn phải là một thứ tình thương không có điều kiện, không bắt buộc và không đòi hỏi bất cứ một sự đền trả nào. Ngoài ra, lòng nhơn theo đạo Phật, không chỉ hạn chế trong nhơn loại, mà còn mở rộng đến tất cả các loài động vật và cây cỏ.



Câu 121: Những người biết đạo đức thì Ơn Trên trợ giúp cho được giàu sang.

Câu 122: Được nhiều điều may mắn tốt lành để đủ ăn đủ mặc.

Không phải ai cũng được Ơn Trên giúp sức cho sự giàu sang mà chỉ có những người tâm tốt để tạo âm chất nhiều hay ít mới được giàu sang hay no ấm.

Theo thuyết luân hồi của nhà Phật, giàu sang hay nghèo hèn của một con người là do duyên nghiệp hay phước đức đã tạo ra từ nơi kiếp trước. Như vậy ta thấy rằng cái duyên nghiệp đó được Nho gia hay người đời gọi là mệnh số (mạng) hay Trời giúp cho.

Mạnh Tử có nói: Muôn việc chẳng phải bởi người định được, mà tất cả đều do mệnh Trời đã xếp đặt sẵn sàng (Vạn sự bất do nhân kế giảo, nhất sinh đô thị mệnh an bài 萬 事 不 由 人 計 較, 一 生 都 是 命 安 排).

Mệnh số định cho con người cái số phận, song mình cũng có thể điều chỉnh cho cái số phận đó của mình, nói cách khác, lấy cái tâm lành của mình để cải sửa một phần nào cái mạng của mình. Điều này Tư Mã Ôn Công có nói như sau: Lòng đã tốt rồi, mệnh lại tốt nữa thì thế nào cũng sớm được hưởng vinh hoa phát đạt. Lòng tốt, nhưng mệnh lại không tốt thì trọn đời cũng ấm no. Mệnh tốt mà lòng không tốt, thì tương lai khó mà giữ được. Còn cả lòng và mệnh đều không tốt thì cực khổ đến già (Tâm hảo mệnh hựu hảo, phát đạt vinh hoa tảo; tâm hảo mệnh bất hảo, nhất sinh dã ôn bão; mệnh hảo tâm bất hảo, tiền trình khủng nan bảo; tâm mệnh đô bất hảo, cùng khổ trực đáo lão 心 好 命 又 好, 發 達 榮 華 早; 心 好 命 不 好, 一 生 也 溫 飽; 命 好 心 不 好, 前 程 恐 難 保; 心 命 都 不 好, 窮 苦 直 到 老).

Câu 123 và 124: Thấy bất cứ một người nào gặp tai nạn nguy hiểm thì sẵn sàng ra tay cứu giúp cho họ. Ấy là người có lòng nhơn từ.
125. Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,

Thấy trên đường miểng bát, miểng chai,

127. Hoặc là đinh nhọn, chông gai,

Mau tay lượm lấy đoái hoài kẻ sau.

Đồng loại 同 類: Cùng chung một loài với nhau.

Thí bạc: Bố thí tiền bạc, tức là đem bạc tiền để cứu giúp cho người tàn tật, nghèo khó, khổ sở.

Miểng bát miểng chai: Miểng sành miểng ly, tức là những mảnh vở của chén dĩa, ly tách…

Đinh nhọn: Những phế liệu như đinh kẽm nhọn bị dẹo, sét.

Chông gai: Hay gai chông là những cây hay vật có gai nhọn, khiến có thể đâm thủng bàn chân được

Đoái hoài: Tưởng nghĩ đến, quan tâm đến.

Câu 125: Biết thương yêu người đồng loại với nhau công đức còn hơn đem tiền bạc cứu giúp cho người nghèo khổ.

Câu 126: Chính do có lòng thương người nên khi đi trên đường gặp miểng bát miểng chai...

Câu 127: Hoặc là có những vật bén nhọn như đinh nhọn, chông gai.

Câu 128: Thì nên mau tay lượm lấy để tránh những người đi sau đạp phải. Đó là có sự quan tâm đến những người đi sau.
129. Ấy làm phước khỏi hao khỏi tốn

Chẳng có đâu mòn vốn thâm tiền

131. Bắc cầu đắp sửa đường liền,



Kẻ qua người lại bước yên gọn gàng.

Khỏi hao khỏi tốn: Không hao tốn về tiền bạc của cải chi hết. Đây là việc cứu giúp người bằng công sức.

Mòn vốn thâm tiền: Hao mòn tiền của, thâm thủng vốn liếng.

Bắc cầu: Nối liền hai bên bờ rạch, kênh hay sông bằng cây ván để người qua lại một cách dễ dàng.

Đắp sửa: Đắp thêm đất đá vào những ổ gà, chỗ trủng để sửa đường đi lại cho bằng phẳng.

Câu 129: Những việc làm phước trên khỏi có hao tốn tài vật.

Câu 130: Và cũng chẳng có thâm mòn tiền bạc vốn liếng.

Câu 131: Bắc cầu qua kênh rạch hay đắp sửa đường đi cho liền lạc bằng phẳng.

Câu 132: Để người qua lại cho được yên ổn thuận lợi.
133. Thi ân hậu bạc ngàn khó sánh,

Rán tập thành sửa tánh từ hòa.

135. Việc lành chẳng khá bỏ qua,

Tuy là nhỏ nhít cũng là công phu.

Thi ân hậu 施 恩 厚: Làm ơn sâu dày cho người.

Tập thành 習 成: Luyện tập lâu ngày cho thành thói quen.

Từ hòa 慈 和: Nhơn từ và hòa thuận, tức có lòng thương yêu người, giúp người và hòa đồng với mọi người.

Chẳng khá: Chớ nên, không nên.

Nhỏ nhít: Nhỏ nhặt, không lớn.

Công phu 功 夫: Công là kết quả sự việc. Phu là một người. Công phu: Một người đem hết sức ra để thành tựu sự việc, hoặc chỉ khoảng thời gian làm một việc gì.

Câu 133: Làm ơn sâu dày cho người ta thì công đức ấy bạc ngàn cũng không sánh bằng.

Câu 134: Cố gắng luyện tập để sửa tánh hạnh được từ hòa.

Câu 135 và 136: Dầu gặp việc lành nhỏ cũng chẳng nên bỏ qua, vì tuy nó là việc nhỏ nhưng vẫn phải dụng công phu.

Trên đời có một vài hành động dù nhỏ, cũng có thể tạo ra một lượng lớn hạnh phúc. Ngay cả những hành vi cực nhỏ cũng có thể đưa đến kết quả khổng lồ, cũng như một hạt giống nhỏ có thể trở thành một cây lớn. Vì thế chúng ta không nên bỏ qua những hành vi thiện nhỏ trong khi ta đang có gắng tạo nghiệp tốt, dù nhỏ nhặt nhưng tập hợp nhiều việc lại thì trở thành lớn lao.


137. Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,

Lâu ngày dồn tính đếm có dư.

139. Phước nhiều tội quá tiêu trừ,

Phép Trời thưởng phạt không tư chẳng vì.

Năng làm phải: Siêng năng làm những việc phải.

Nhựt ngoạt: Hay Nhật nguyệt 日 月: Ngày và tháng.

Nhu nhiễm 濡 染: Nhu là ướt. Nhiễm là thấm vào. Nhu nhiễm: Dầm thấm vào.

Nhựt nhu ngoạt nhiễm 日 濡 月 染: Dầm thấm theo ngày tháng rồi trở thành thói quen.

Lâu ngày dồn: Để lâu ngày rồi tính gộp lại.

Tội quá 罪 過: Tội lỗi và sai lầm.

Tiêu trừ 消 除: Trừ bỏ đi, dứt bỏ đi.

Thưởng 賞: Cho người có công.

Phạt 罰: Trị người có tội.

Không tư chẳng vì: Không tư vị, tức là không vì kiêng nể mà có lòng thiên vị.

Câu 137: Siêng năng làm việc phải lâu ngày thì dần dần nhiễm vào tánh thành thói quen tốt.

Câu 138: Những việc lành tuy là nhỏ nhặt song lâu ngày tính gộp lại thì công đức cũng có dư.

Câu 139: Nếu làm việc phước đức nhiều thì những tội lỗi sẽ được tiêu trừ.

Câu 140: Phép Trời đất thưởng phạt rất công bình, không tư chẳng vì một ai.
141. Thấy lỗi mọn chớ nghi chẳng hại,

Thường dạn làm tội lại hằng hà.

143. Vì chưng tựu thiểu thành đa,

Họa tai báo ứng chẳng qua mảy hào.

Lỗi mọn: Lỗi lầm nhỏ mọn.

Chớ nghi chẳng hại: Đừng nghĩ rằng không có tai hại.

Dạn làm: Bạo dạn làm, mạnh dạn làm, không sợ sệt mà làm.

Hằng hà 恆 河: Do thành ngữ “hằng hà sa số 恆 河 沙 數”, có nghĩa là số nhiều như hạt cát ở sông Hằng hà (Ấn Độ). Đây là thành ngữ của Phật giáo, dùng để chỉ một số lượng nhiều, như: Hằng hà sa số Phật 恆 河 沙 數 佛.

Vì chưng: Vì rằng.

Tựu thiểu thành đa 就 少 成 多: Hợp nhiều cái ít lại thành ra nhiều.

Họa tai: Hay tai họa 災 禍: Những rủi ro, tai nạn lớn lao đưa đến, khiến người ta phải khốn khổ.

Báo ứng 報 應: Được trả lại những gì mình đã làm theo luật nhơn quả. Như làm lành gặp lành, làm dữ gặp dữ

Mảy hào: Một phần rất nhỏ.

Câu 141: Đừng có thấy lỗi nhỏ nhít mà nghĩ rằng chẳng có gây tai hại.

Câu 142: Thường mạnh dạn mà làm thì sẽ gây ra tội hằng hà.

Câu 143: Vì rằng gộp nhiều cái ít lại sẽ thành nhiều. Tỷ như làm những việc hung dữ nhỏ nhặt nhiều gom lại cũng thành nhiều.

Câu 144: Sẽ bị báo ứng những tai họa, chẳng sai sót một ly hào nào.

Thói thường, người ta hay khinh dể những điều nhỏ nhít: Công việc nhỏ nhặt người ta thường không thèm để ý đến, hay không muốn làm đến, tỷ như việc làm phước, thấy điều nhỏ không đáng làm, nên bỏ qua; còn việc dữ, tưởng lỗi mọn, vẫn cứ làm.

Ta nên nhận chân rằng dù những điều ác nghiệp nhỏ nhứt cũng có thể đem lại đau khổ vô biên. ví như uống phải mọt ít thuốc cũng có thể đưa đến chết hay bịnh hiểm nghèo.

Cũng vậy, những việc thiện dù nhỏ, khiến ta xem thường, nhưng chúng cũng có thể đem đến những hạnh phúc lớn lao.

Điều nầy vua Chiêu Liệt đời nhà Hán có dạy con là vua Hậu Chủ như sau: Dù cho những việc thiện nhỏ cũng chớ nên bỏ qua mà không làm, dù cho những việc ác nhỏ cũng chớ làm.(Vật dĩ thiện tiểu nhi bất vi, vật dĩ ác tiểu nhi vi chi 勿 以 善 小 而 不 為, 勿 以 惡 小 而 為 之).

Kinh Pháp Cú Phật cũng có dạy rằng: “Chớ khinh điều ác nhỏ, cho rằng: Chẳng đưa lại quả báo cho ta. Phải biết giọt nước nhiểu lâu ngày cũng làm đầy bình. Kẻ ngu phu sở dĩ đầy tội ác bởi chứa dồn từng khi ít mà nên” và cũng “Chớ khinh điều lành nhỏ, cho rằng: Chẳng đưa lại quả báo cho ta. Phải biết giọt nước nhiểu lâu ngày cũng làm đầy bình. Kẻ trí sở dĩ toàn thiện bởi chứa dồn từng khi ít mà nên.


145. Giữa bụi thế giữ sao khỏi vấy

Biết ăn năn xét lấy sửa lòng.

147. Làm người nhơn nghĩa xử xong

Rủi cho gặp lúc long đong chẳng sờn.

Bụi thế: Ở cõi thế gian đầy bụi bặm.

Chữ trần 塵 là bụi bặm. Người ta cho rằng cõi thế gian là nơi ô trược, mang nhiều bụi bặm, nên thường gọi là cõi trần hoặc những danh từ có chữ trần như: Trần gian, trần thế, trần ai, trần hoàn, trần cấu, hồng trần...



Khỏi vấy: Không bị nhiễm, không bị dính.

Xét lấy sửa lòng: Suy xét lấy để tu sửa lòng mình.

Nhơn nghĩa xử xong: Cư xử theo nhơn nghĩa cho vẹn toàn.

Long đong: Không được ổn định, lưu lạc vất vả, rày đây mai đó.

Chẳng sờn: Không lung lay ý chí, chẳng nao núng.

Câu 145: Sống ở giữa cõi thế gian đầy bụi bặm nầy làm sao cho khỏi nhiễm bụi trần.

Câu 146: Nếu có tội lỗi phải biết ăn năn suy xét để tu sửa lại tấm lòng.

Xét về phương diện vật chất, cõi thế gian là nơi nặng nề, ô trược, chứa đầy cát bụi trần ai; còn xét về phương diện tinh thần, Phật cho rằng cõi trần nói riêng, Thế giới Ta Bà nói chung là một cõi đầy ô uế, có đủ ngũ trược: Kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng trược, nên cõi này được gọi là uế thổ (uế độ).

Cao Đài cũng cho rằng cõi thế gian là cõi đọa, là nơi chứa nhiều tội lỗi, vì bởi con người bị vô minh mới tạo ra nhiều tội ác, tội ác mới gây thành nghiệp quả, là động lực lôi kéo con người phải chìm sâu trong luân hồi sinh tử.

Như vậy, con người sống giữa cõi trần đầy uế trược và tội lỗi nầy thì làm sao không nhiễm theo trần, tức là cũng phải có những lỗi lầm. Nhưng nếu biết ăn năn, suy xét để trau giồi tâm thiện lương của mình thì Chí Tôn sẽ độ rỗi cho như lời Thánh giáo đã dạy: “Buổi lập Thánh đạo, Thầy đến độ rỗi kẻ có tội lỗi. Nếu đời không có tội lỗi, đâu nhọc đến công Thầy.



Ấy vậy, các con rán độ kẻ tội lỗi là công lớn làm cho Thầy vui hơn hết”.

Trong bài Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có câu:



Ăn năn sám hối tội tình,

Xét câu minh thệ gởi mình cõi thăng.

Câu 147: Làm con người phải lấy nhân nghĩa ra cư xử với mọi người một cách tròn vẹn.

Câu 148: Được như vậy, dù có gặp cuộc sống long đong vất vả thì cũng chẳng sờn lòng.

Sống ở nơi thế gian này, nếu mình đem nhơn nghĩa ra mà cư xử với mọi người thì có lúc mình chịu cảnh long đong còn có chỗ gặp nhau lại, có thể vì ân nghĩa mà người ta đền đáp lại chăng. Còn thù oán thì không nên kết, dọc đường đi có khi gặp lúc nguy hiểm cũng khó có đường tránh khỏi. Đây là lời dạy trong sách Cảnh Hành Lục: Ân nghĩa quảng thi, nhân sinh hà xứ bất tương phùng? Thù oan mạc kết, lộ phùng hiểm xứ nan hồi tỵ 恩 義 廣 施, 人 生 何 處 不 相 逢? 讎 冤 莫 結, 路 逢 險 處 難 迴 避.


149. Hễ biết nghĩa thọ ơn chẳng bội

Giúp cho người chớ vội khoe ra,

151. Việc chi cũng có chánh tà,

Làm điều phải nghĩa lánh xa vạy vò.

Thọ ơn: Hay thụ ân 受 恩: Nhận lãnh ơn huệ của người.

Bội 背: Quay lưng lại với nhau, chỉ sự phản bội.

Thọ ơn chẳng bội: Nhận lãnh ơn huệ người ta không nên phản bội.

Chánh tà 正 邪: Chánh là ngay thẳng. là cong quẹo, sai trái.

Chánh tà là hai con đường mà người tu phải chọn lựa: Chánh là ngay thẳng, chơn thật, đúng đắn, hợp với luân lý đạo đức. Tà là cong queo, tà vạy, không hợp với luân thường đạo lý. Chánh tà luôn luôn lúc nào cũng xung khắc nhau, đối chọi nhau. Nhưng vì luật đối đải nơi thế gian hễ có chánh tự nhiên có tà, có thiện là phải có ác, cũng như có ngày thì phải có đêm. Chính nhờ có tà mà cái chánh mới hiển lộ ra, cũng như nhờ cái dữ mới trau giồi được điều hiền. Thánh thi có bài như sau:



Lẽ chánh tự nhiên có lẽ tà,

Chánh tà hai lẽ đoán sao ra.

Sao ra Tiên Phật người trần tục,

Trần tục muốn thành phải đến Ta.

Người tu hành muốn phân biệt được tà chánh thì phải có trí huệ, như lời kinh Giải Oan đã viết:

Huệ quang chiếu thấu chánh tà

Chính trí huệ là cây đuốc soi rọi cho người tu lần đi theo con đường chơn chánh, bằng phẳng và ngắn nhứt.

Làm điều phải nghĩa: Làm những điều đúng với đạo lý, lễ nghĩa.

Vạy vò: Gian tà, không ngay thẳng, không chơn chánh.

Câu 149: Hễ làm con người biết lễ nghĩa thì thọ ơn của người chẳng nên bội phản.

Câu 150: Mình dù có giúp cho người thì cũng đừng vội khoe khoang.

Câu 151: Trên đời này, việc gì cũng có chánh tà, và thiện ác.

Câu 152: Nên phải làm những điều nghĩa mà lánh xa điều tà vạy
153. Khi gặp chuyện khá dò xét cạn,

Liệu sức mình cho hẳn sẽ làm,

155. Chớ đừng thấy của dấy tham,

Giục người làm quấy ắt cam đồng hình.

Khá dò xét cạn: Nên dò xét cho cặn kẻ, tức là suy xét cho tận cùng

Liệu sức mình: Tiên liệu xem sức lực của mình hay khả năng của mình có làm nổi không.

Trên đời này có nhiều người trí lực kém, mà tham vọng quá lớn lao, nên thường hay làm càn nhiều việc quá sức hay quá khả năng của mình, khiến cho thường bỏ dở công việc giữa đường hay có nhiều khi tai hại đến sự nghiệp. Người tu hành, phải nên cẩn thận, khi làm việc gì, liệu sức mình làm nổi mới nên làm, chẳng làm càn mà có hại cho cả một kiếp tu hành.



Cho hẳn: Cho chắc chắn, cho rõ ràng.

Thấy của: Thấy tiền bạc của cải.

Dấy tham: Nổi dậy lòng tham lam.

Giục người làm quấy: Xúi giục người ta làm việc sái quấy.

Ắt cam đồng hình: Ắt là cam chịu chung hình phạt.

Câu 153: Khi gặp phải bất cứ một việc gì thì nên suy xét cho cặn kẻ.

Câu 154: Và liệu sức của mình cho chắc chắn xem có thể làm được hay không thì mới nên làm.

Câu 155: Đừng nên thấy tiền bạc của cải mà động lòng tham.

Câu 156: Xúi giục người làm trái đạo đức thì ắt cam chịu chung hình phạt
157. Ở ngay thẳng Thần minh bảo hộ,

Nết xéo xiên gặp chỗ rạc tù,

159. Trong đời rất hiếm võ phu,

Lường cân, tráo đấu, dối tu cúng chùa.

Ở ngay thẳng: Cư xử với mọi người một cách ngay thật.

Thần minh 神 明: Vị Thần sáng suốt, quang minh.

Bảo hộ 保 護: Giữ gìn và che chở.

Nết xéo xiên: Tánh nết gian trá, tánh nết không ngay thẳng.

Rạc tù: Tù giam, nơi nhốt những người có tội.

Hiếm: Đây là từ Nôm, có hai nghĩa trái nhau:

-Hiếm: Là rất ít, như hiếm thấy (rất ít thấy), hiếm có (rất ít có), hiếm gặp (rất ít gặp)...

-Hiếm: Có nghĩa là nhiều, như hiếm hiệm (có rất nhiều). Chữ hiếm trong câu Kinh trên đây theo nghĩa này, tức là rất nhiều.

Võ phu (1): Hay vũ phu 碔 砆: Một loại đá giống như ngọc. Ở Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu thì viết vũ phu bằng bộ ngọc (玉).

Câu kinh trên, có nhiều người hiểu chữ võ phu 武 夫 là kẻ võ biền, kẻ lỗ mãng, tức kẻ chuyên dùng sức mạnh. Nếu hiểu theo nghĩa này, khi kết hợp với câu kinh sau “Lường cân, tráo đấu, dối tu cúng chùa”, ta thấy câu này không bổ nghĩa cho câu sau, bởi vì kẻ võ phu là người không mưu kế, không gian manh, xảo quyệt bằng người có trí mà thiếu đạo đức. Người trí thiếu đạo đức mới có mưu mô gian giảo để lường cân tráo đấu, mới có mánh khoé gian manh để dối tu cúng chùa, khiến người ta phải lầm lẫn. Như vậy, “võ phu” 碔砆 theo nghĩa là ngọc giả, tức là một loại đá khi nhìn thì giống như ngọc thật, dùng để chỉ giới hay bọn người chuyên giả dối, lừa đảo, chuyên lường gạt người ta.



Lường cân tráo đấu: Chỉ sự cân lường gian trá: Cân non lường thiếu để ăn gian cho mình.

Dối tu cúng chùa: Giả danh người tu hành để lừa gạt lấy vật thực, tiền bạc, của cải người có đức tin cúng hiến.

Câu 157: Người ăn ở ngay thẳng thì được Thần minh gìn giữ che chỡ cho.

Câu 158: Người có tánh nết gian giảo thì thường hay gặp chỗ tù tội.

Câu 159: Trên đời này rất nhiều kẻ chuyên giả dối (tỷ như loài đá khiến người ta lầm như ngọc thật).

Câu 160: Những bọn ấy gạt người để mưu gian cho mình lường cân tráo đấu hoặc còn dối tu cúng chùa để lừa người tin theo.
161. Còn hoi hóp tranh đua bay nhảy,

Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh.

163. Lương tâm thường xét cho rành,

Của không phải nghĩa chớ sanh lòng tà.

Hoi hóp: Hơi thở rất yếu, chỉ tình trạng sắp chết. Ở đây ý chỉ rằng hễ còn một tấc hơi thở.

Tranh đua bay nhảy: Tranh đấu hay luồn lách trong đường danh nẻo lợi. Ý chỉ không chịu yên thân.

Nhắm mắt rồi: Chỉ sự chết.

Phủi thảy: Phủi bỏ hết, buông bỏ tất cả.

Lương tâm 良 心: Cái thiện tâm của con người, cũng là cái Thiên lương, hay Thiên tánh mà Chí Tôn ban cho con người.

Theo Mạnh Tử 孟 子, con người nhờ có lương tâm mới biết được điều nhân điều nghĩa, lẽ phải lẽ trái. Còn người chỉ đắm đuối vào đường vật chất, do thất tình lục dục sai khiến, thì lương tâm của họ bị mờ tối đi, thành thử không hiểu được điều nhơn nghĩa.

Theo Cao Đài, lương tâm là một khiếu Thiêng liêng của Đức Chí Tôn ban cho con người, như lời Thánh giáo đã dạy: “Lương tâm của các con là một khiếu thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn đức”.

Của không phải nghĩa: Của không chính đáng, của phi nghĩa.

Sách Cảnh Hành chép rằng: Nhân phi hiền bất giao, vật phi nghĩa bất thủ 人 非 賢 不 交, 物 非 義 不 守: Người không hiền thì đừng làm bạn, vật chẳng phải thì không nên giữ.



Lòng tà: Hay tà tâm 邪心: Lòng không ngay thẳng.

Câu 161: Con người khi còn hơi thở thì giành giựt hay luồn lách trong danh lợi.

Câu 162: Đến khi chết rồi thì lợi danh đều buông bỏ hết.

Câu 163: Làm bất cứ một việc gì đều phải lấy lương tâm ra mà xét cho rành mạch.

Câu 164: Hễ thấy tiền bạc của cải không hợp đạo nghĩa thì đừng sinh tà tâm.
165. Người quân tử chẳng thà chịu khổ,

Đâu làm điều nhục tổ hổ tông?

167. Đứa ngu thấy của thì mong,

Không gìn tội lỗi phép công nước nhà.

Quân tử 君 子: Người xưa cho rằng đạo Nho là đạo của người quân tử, tức là Khổng Tử đem cái đạo lý ra dạy dỗ người ta cho thành người có tài năng, có đức hạnh hoàn toàn và có nhơn phẩm tôn quí để giúp ích cho đời, gọi là người quân tử.

Trong xã hội ngày xưa thường chia làm hai hạng người: Quân tử và Tiểu nhân. Quân tử là quí, hay, là người có phẩm hạnh tôn quí, tiểu nhân là tiện, dở, là người có chí khí hèn hạ.

Khổng Tử nêu ra một số thái độ của người quân tử và kẻ tiểu nhân như sau:

-Quân tử học đạo tắc ái nhân, tiểu nhân học đạo tắc dị sử dã 君 子 學 道 則 愛 人, 小 人 學 道 則 易 使 也: Quân tử học đạo thì yêu người, tiểu nhân học đạo thì dễ khiến.

-Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt 君 子 上 達, 小 人 下 達: Quân tử đạt về lý cao minh, tiểu nhân đạt về cái lý đê hạ.

-Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi 君 子 喻 於 義, 小 人 喻 於 利: Quân tử hiểu sâu về việc nghĩa, tiểu nhân chỉ biết về việc lợi.

-Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân 君 子 求 諸 己, 小 人 求 諸 人: Người quân tử chỉ cầu ở mình, kẻ tiểu nhân thì cầu ở người.

-Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hỹ 君 子 固 窮, 小 人 窮 斯 濫 矣: Người quân tử cố giữ lúc khốn cùng, kẻ tiểu nhân gặp khốn cùng thì làm bậy.

-Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái 君 子 泰 而 不 驕, 小 人 驕 而 不 泰: Người quân tử thư thái mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không thư thái.

-Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa 君 子 和 而 不 同, 小 人 同 而 不 和: Quân tử hòa với mọi người mà không hùa với ai, tiểu nhân thì hùa với mọi người mà không hòa với ai.

-Quân tử bất khả tiểu tri, nhi khả đại thụ dã; tiểu nhân bất khả đại thụ, nhi khả tiểu tri dã 君 子 不 可 小 知, 而 可 大 受 也; 小 人 不 可 大 受, 而 可 小 知 也: Người quân tử không thể biết được cái nhỏ mà có thể chịu được cái lớn; tiểu nhân không thể chịu được cái lớn, mà có thể biết được cái nhỏ vậy.

-Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác; tiểu nhân phản thị 君 子 成 人 之 美, 不 成 人 之 惡; 小 人 反 是: Quân tử gây thành cái hay cho người ta, không gây thành cái ác cho người ta, tiểu nhân không thế.

-Quân tử ưu đạo bất ưu bần 君 子 憂 道 不 憂 貧: Người quân tử lo đạo, không lo nghèo.

-Quân tử dục nột ư ngôn, nhi mẫn ư hành 君 子 欲 訥 於 言, 而 敏 於 行: Quân tử muốn nói thì chậm mà làm thì nhanh.

Chẳng thà chịu khổ: Thà rằng chịu khổ, chớ chẳng làm điều gì sái quấy.

Nhục tổ hổ tông: Làm ô nhục tổ tiên, xấu hổ dòng họ ông bà của mình.

Đứa ngu: Người ngu dốt, ở đây chỉ kẻ tiểu nhân.

Thấy của thì mong: Thấy tiền bạc của cải thì ham muốn.

Phép công nước nhà: Pháp luật của nhà nước.

Câu 165: Người quân tử thà rằng chịu khổ chớ chẳng bao giờ làm điều sái quấy.

Câu 166: Để làm nhục nhã tổ tiên, xấu hổ dòng họ của mình.

Câu 167: Đứa ngu dốt, không biết đạo lý thấy tiền bạc của cải thì ham muốn, mong mỏi.

Câu 168: Nên dám làm mọi việc không sợ tội lỗi và luật pháp của nhà nước.

Người xưa thường cho rằng đạo Nho là đạo của người quân tử, tức là chủ đích của Nho giáo là để dạy cho con người trong xã hội thành người nhơn nghĩa, trung chính, đó là hạng người quân tử.

Quân tử bao giờ cũng sống phù hợp với thiên lý, cho nên là người có tâm tính trong sáng, nghĩa lý thanh minh, biết rõ về điều nghĩa, nên dốc lòng muốn làm điều nghĩa, còn kẻ tiểu nhân người ngu dốt, chỉ biết về việc lợi, nên mới dốc lòng vì lợi, không kể phép tắc, tội lỗi: Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi 君 子 喻 於 義, 小 人 喻 於 利.

Người quân tử sống vì nghĩa, nên dù nghèo cũng không làm gì trái với điều nghĩa, còn kẻ tiểu nhân nếu gặp lúc khốn cùng thì không nghĩ gì đến lễ nghĩa, đạo lý nữa, miễn thỏa mãn điều lợi về mình mà thôi: Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hỹ 君 子 固 窮, 小 人 窮 斯 濫 矣.

Người quân tử không làm điều trái với đạo đức, nghĩa là không làm điều nhục tổ hổ tông, còn đứa ngu (tức tiểu nhân) thì chỉ mong điều lợi, cho nên bất cứ việc gì có lợi cũng đều làm bất kể tội lỗi, hay phép công của nước nhà.
169. Bày chước độc, xúi ra việc quấy,

Tổn cho người mà lấy lợi riêng.

171. Hễ nghe khua động đồng tiền,

Sửa ngay làm vạy không kiêng chút nào.

Bày chước độc: Bày ra mưu chước sâu độc để hại người.

Xúi ra việc quấy: Xúi giục làm những điều sái quấy.

Tổn cho người: Làm hao tốn tiền của người ta, làm tổn hại đến người ta.

Khua động: Gây thành tiếng động.

Đồng tiền 銅 錢: Tiền bằng đồng, tiền bằng kim loại.

Sửa ngay làm vạy: Sửa những điều ngay thẳng thành ra những điều sái quấy, tà vạy.

Câu 169: Bày ra những mưu chước sâu độc để xúi giục người làm những việc trái đạo đức.

Câu 170: Vì muốn lợi riêng mà làm những việc hao tốn cho người ta.

Câu 171: Hễ nghe ở đâu có tiếng khua động của đồng tiền.

Câu 172: Sửa những việc ngay thẳng thành những việc tà vạy chẳng kiêng chẳng sợ chút nào.
173. Người nghèo khổ biết sao than kể,

Kẻ lễ nhiều cậy thế ỷ quyền,

175. Làm quan tính kế đảo điên,

Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.

Biết sao than kể: Biết làm sao than van, kể lể cho hết.

Kẻ lễ nhiều: Kẻ đem tiền bạc hay quà biếu làm lễ vật tặng cho người có quyền thế để cầu cạnh một việc gì.

Thế 勢: Thế lực.

Cậy thế: Nhờ cậy vào thế lực của mình hay của người.

Ỷ quyền 倚 權: Dựa vào quyền lực của mình hay của người.

Đảo điên: Hay Điên đảo 顛 倒: Xáo lộn ngược, chỉ sự rối loạn.

Tính kế đảo điên: Bày mưu tính kế lung tung, xáo trộn làm hại người.

Gia sản 家 產: Tài sản gia đình, tức là tiền bạc, của cải, nhà cửa của một gia đình.

Gạt thâu gia sản: Lường gạt để chiếm đoạt tài sản của người.

Đất điền: Ruộng đất.

Câu 173: Người nghèo khổ biết làm sao than van kể lể cho hết sự khổ sở.

Câu 174: Người có tiền bạc đem đút lót kẻ quyền quí để dựa cậy quyền thế.

Câu 175 và 176: Làm quan vì lòng tham lam ích kỷ, bày mưu tính kế một cách tráo trở để lường gạt tài sản và ruộng đất của nhân dân.

Cuối thời hạ nguơn, đạo lý Thánh hiền đã hết cho nên xã hội vì quyền tước lợi danh, vì chén cơm manh áo mà con người cấu xé lẫn nhau, khiến cho kẻ nghèo khổ phải kêu than rên siết, người giàu sang thì cậy thế ỷ quyền, kẻ làm quan thì tính tình điên đảo, lường gạt tài sản, ruộng đất, áp bức dân lành. Xã hội đầy dẫy những sự bất bình, theo Thánh giáo Đức Chí Tôn, đó bởi do con người vô đạo: “Các con nghe cho rõ, thường ngày các con trông thấy những điều trái tai gai mắt, các con biết vì tại sao chăng? Như kẻ làm quan ỷ quyền hiếp bức dân lành, đứa ngu nghịch cha phản bạn, làm rối luân thường, các con biết vì tại sao chăng? Tại vô đạo”.



Do vậy, Đức Chí Tôn mới khai mở nền Đại Đạo để cứu vớt sanh linh thoát khỏi vòng hắc ám như lời Thánh giáo cho biết: “Nào nhân xưa, nào đức trước, nào sách Thánh, nào lời Hiền, trải qua chưa trăm năm mà cuộc cờ đời đã rửa phai hạnh đạo. Thế thì nhơn loại, nếu chẳng có mối huyền vi để nhắc chừng tâm tánh, sẽ vì mồi danh lợi, miếng đỉnh chung mà cắn xé giựt giành, giết hại lẫn nhau cho đến buổi cùng đường, rồi vì hung bạo ấy mà cõi dinh hoàn nầy chẳng còn sót dấu chi của nhân vật cả”.
177. Thả tôi tớ thôn lân húng hiếp,

Bức gái lành, ép thiếp đòi hầu,

179. Trong lòng mưu chước rất sâu,

Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi.

Thả tôi tớ: Buông thả những người giúp việc trong nhà để ra ngoài làm điều sằn bậy.

Thôn lân 村 鄰: Thôn là làng. Lân là bên cạnh, gần. Thôn lân: Xóm giềng, làng xóm.

Húng hiếp: Hống hách và hiếp đáp người.

Bức gái lành: Áp bức con gái nhà lành.

Ép thiếp đòi hầu: Ép buộc con gái người để đòi hỏi làm hầu thiếp.

Mưu chước: Đồng nghĩa với mưu kế 謀 計, chỉ sự tính toán ngầm để tìm cách làm một việc gì.

Suy sụp: Xuống dốc.

Đáo đầu 到 頭: Đưa đến chỗ cuối cùng.

Câu 177 và 178: Làm quan không nghiêm chánh để cho tôi tớ trong nhà ra xóm làng áp bức gái lành để làm hầu thiếp.

Câu 179: Trong lòng tính toán những kế hoạch sâu độc để hại người.

Câu 180: Một ngày kia khi cuộc đời xuống dốc thì rốt cuộc lại mình có ra gì đâu.
181. Gái xướng kỵ, trai thì du đảng,

Phá tan hoang gia sản suy vi.

183. Làm người phải khá xét suy,

Của rơi chớ lượm, tham thì phải thâm.

Xướng kỵ: Hay xướng kỹ. Xướng 唱 là ca hát. Kỹ 妓 (Đọc là kỹ) là người con gái hát xướng để kiếm tiền, như kỹ nữ 妓 女.

Du đãng 遊 蕩: Du là đi chơi. Đãng là không ai kềm chế. Du đãng: Chơi bời phóng túng, không ai kềm chế nổi.

Phá tan hoang: Phá tan nát hết, phá hết sạch.

Suy vi 衰 微: Hư hỏng, mòn mỏi.

Xét suy: Xét nét và suy tính kỹ càng.

Của rơi chớ lượm: Của cải, tiền bạc rơi rớt chớ nên lượm.

Tham thì phải thâm: Đây là một thành ngữ dùng để chê những người có tính tham lam, không suy xét chỉ vì tham số lợi nhỏ mà mất đi số vốn lớn.

Câu 181: Gái thì làm con hát (kỹ nữ), trai thì chơi bời hoang đãng.

Câu 182: Làm cho sự nghiệp của gia đình suy sụp tan hoang.

Câu 183: Làm con người khá nên biết suy xét kỹ lưỡng.

Câu 184: Khi gặp của rơi chẳng nên tham lam mà lượm lấy vì tục ngữ có câu: Tham thì phải thâm.

Phàm làm người cần nên suy xét, hễ muốn có ăn thì phải tự thân lao động để kiếm tiền hay tạo ra của cải vật chất, đó là ta hưởng những thành quả do sức làm việc của bản thân mình. Còn tiền bạc, hay của phi nghĩa, của hoạnh tài, tức là của không phải do sức mình kiếm được mà do lường gạt, chiếm đoạt của người, hay của rơi hoặc tự dưng có được thì không nên tham lam, vì tham thì thâm. Câu chuyện sau đây cho thấy điều đó.

Khi Đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài cùng vị đại đệ tử A Nan Đà từ non Thứu Lãnh đi xuống Kinh thành khất thực. Đi giữa đường, ngang qua một bờ đất, Ngài thấy một ghè vàng.

Đức Phật bảo A Nan Đà rằng: “Nầy A Nan! Ngươi có thấy đây là một loài rắn độc không?”. Ngài A Nan cung kính bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Thật là một loài rắn độc, rất đáng sợ hãi!”. Rồi hai người ra đi.

Đương lúc ấy, có một tiều phu đứng gần nghe được, vội đến xem, thấy một ghè đậy kín. Anh mở ra, thấy toàn là vàng. Anh cười thầm Đức Phật và đệ tử Ngài không biết dùng thứ ấy, còn cho là rắn độc.

Trước khi đem về, anh sung sướng la lên rằng: “Tôi xin nguyện rắn độc này luôn luôn cắn tôi, cha mẹ tôi, vợ con tôi, và quyến thuộc tôi. Tôi không cảm thấy đau đớn gì hết!”.

Sau khi được ghè vàng, anh tiều phu kia trở thành người trưởng giả giàu có kiêu sa. Làng xóm nghi kỵ, không biết vì sao anh giàu sang đột ngột như vậy. Tiếng đồn vang đến tai vua A Xà Thế, nên vua đòi đến hỏi. Anh ấp úng, không muốn nói lượm được ghè vàng. Vua cho là người gian, ra lệnh tịch thu gia tài và bắt anh ta cùng tất cả bà con quyến thuộc đem đi hành hình.

Đi giữa đường anh ta khóc lóc: “Ngài A Nan ơi! Thật là một thứ rắn độc! Rắn độc nó cắn tôi và cắn hết bà con của tôi đây!”. Bọn lính nghe anh ta luôn gọi Ngài A Nan Đà, bèn trở lại tâu cho vua hay.

Vua ra lệnh đem anh ta về, hỏi lại. Lần này anh ta mới chịu thưa thiệt nguyên do được ghè vàng. Nghe xong, vua bảo anh tiều phu rằng: “Tội ngươi đáng chết, nhưng may duyên gặp Đức Thế Tôn, nên ta tha tội cho ngươi và bà con ngươi. Ngươi được đem vàng bạc về và từ nay phải sửa đổi tự tâm, tu hành theo thiện nghiệp”.
185. Còn một nỗi gian dâm đại tội,

Lấy vợ người làm lỗi tiết trinh.

187. Tuy là Trời Đất rộng thinh,

Mắt dường sao nháy chiếu minh lòng người.

Gian dâm 奸 淫: Việc quan hệ thể xác giữa hai người nam nữ không chính đáng như đàn ông lấy vợ người, đàn bà lấy chồng người.

Đây là phạm điều thứ ba của ngũ giới cấm: Không được tà dâm, tà hạnh.

Theo Phật, người hành trì giới tà dâm là không được quan hệ bất chính với người ngoài chồng hay vợ chính thức. Phải hết lòng trung trinh với người chồng hay vợ của mình.

Người giữ được giới này thì tạo được hạnh phúc trong gia đình mình, ngoài ra cũng tránh được sự gây ra đổ vỡ khổ đau trong gia đình khác và bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác.

Theo đạo Cao Đài, người giữ giới tà dâm thì ngoài việc tránh được quan hệ bất chính với nguời khác phái, còn tránh được sự sát mạng của một khối chơn linh trong một giọt máu, tức là những sinh vật nhỏ bé, gọi là tinh trùng. Thánh giáo Đức Chí Tôn đã dạy: “Một giọt máu là một khối chơn linh. Như các con dâm quá độ thì sát mạng chơn linh ấy. Khi các con thoát xác, thì nó đến tại Nghiệt Cảnh đài mà kiện các con. Các con không hề chối tội đặng”.

Đại tội 大 罪: Tội lớn nhứt, tội nặng nhứt.

Làm lỗi: Gây nên tội lỗi.

Tiết trinh: Hay trinh tiết 貞 節: Giữ vững tấm lòng trinh bạch, nghĩa là giữ lòng cứng cỏi ngay thẳng của người đàn bà đối với chồng.

Chiếu minh 照 明: Soi rọi sáng tỏ.

Trời đất rộng thinh: Trời đất rộng lớn, bao la bát ngát.

Mắt dường sao nháy: Mắt của Trời đất như là ánh sao sáng, soi rọi khắp mọi nơi, thấy biết tất cả.

Câu 185: Còn một nỗi gian dâm với vợ hoặc chồng của người là một điều đại tội.

Câu 186: Lấy vợ của người gây nên tội lỗi làm hư hoại về trinh tiết của người.

Vợ chồng là bạn tình trăm năm, là một nghĩa vụ thiêng liêng, là mối quan hệ chặt chẽ trong việc xây dựng tổ ấm hạnh phúc gia đình, gây tạo con cháu nối dõi tông đường.

Vì thế, vợ chồng phải giữ gìn trinh tiết, chung thủy với nhau, không lang chạ, không quan hệ trái phép với vợ hay chồng người mà gây xáo trộn hạnh phúc của gia đình người.

Ngoài ra, giữ giới này cũng là một phương cách tiết dục. Như chúng ta đều biết, sở dĩ chúng ta có một sức khoẻ cường tráng là nhờ các chất tinh huyết trong cơ thể. Các chất này là tinh hoa của bao nhiêu chất bổ dưỡng mà ta ăn uống hằng ngày, một phần nuôi cơ thể, một phần tạo nên tinh trùng. Nếu không tiết chế tình dục, tham dâm quá độ thì vô tình tự hại thân tiều tụy, tự gieo bệnh tật, hay tự làm giảm tuổi thọ của mình.



Câu 187: Tuy là Trời đất rộng lớn bao la, bát ngát.

Câu 188: Nhưng mắt Trời đất như sao sáng chiếu khắp tất cả nhân gian để soi rọi lòng người.
189. Lương tâm biết hổ ngươi chừa lỗi,

Mới biệt phân sừng đội lông mang

191. Việc lành, việc dữ đồn vang

Tuy là bóng khuất xương tan tiếng còn.

Hổ ngươi: Hổ thẹn, xấu hổ.

Biệt phân: Hay phân biệt 分 別: Chia riêng nhau ra.

Sừng đội lông mang: Mang lông đội sừng, chỉ các loài thú vật có lông, có sừng.

Đồn vang: Tiếng tăm truyền tụng khắp mọi nơi.

Bóng khuất xương tan: Không còn nhìn thấy hình bóng nữa (hay khuất bóng, chỉ sự chết); xương cốt tàn rụi, tan biến thành đất.

Câu 189: Con người có lương tâm nên khi gây điều sái quấy thì phải biết hổ thẹn mà ăn năn chừa lỗi.

Câu 190: Như vậy mới có sự phân biệt giữa con người với loài thú vật đội mang lông sừng (vì con người có trí khôn ngoan hơn loài vật).

Mạnh Tử nói: “Người ta khác với giống cầm thú không mấy tí, chỉ có người ta bẩm thụ được cái bản tính tốt thôi, thế mà kẻ thường dân thì bỏ mất đi, người quân tử thì giữ lấy” (Nhân chi sỡ dĩ dị ư cầm thú giả cơ hi, thứ dân khứ chi, quân tử tồn chi 人 之 所 以 異 於 禽 獸 者 幾 希, 庶 民 去 之, 君 子 存 之).

Nhờ có lương tâm, con người mới nhận thức được điều thiện lẽ ác, việc phải sự quấy. Nếu làm một việc lành thì lòng an nhiên tự tại, nếu phạm một điều ác, thì dạ xốn xang, xấu hổ. Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Lương tâm của các con là một khiếu thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong đường tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn đức. Làm một việc phải tức là do nơi ý Trời, phạm một nét vạy tà là cãi nơi Thiên luật”.

Chính lương tâm này mới biệt phân giữa con người và loài thú vật sừng đội lông mang. Phổ Am Tổ Sư có bài kệ như sau:



Súc sanh bổn thị nhân lai tác,

畜 生 本 是 人 來 作,

Nhân xuất luân hồi cổ đáo câm (kim).

人 出 輪 迴 古 到 今.

Bất yếu phi mao tính đái giác,

不 要 披 毛 併 帶 角,

Khuyến quân hữu sử súc sanh tâm.

勸 君 有 使 畜 生 心.



Nghĩa là:

Người lộn súc sanh cũng tại tâm,

Xưa nay người vật chuyển luân thầm.

Muốn không đội gạc mang lông xấu,

Khuyên chớ làm theo dạ thú cầm.

Câu 191: Việc làm lành, việc làm dữ được truyền tụng vang khắp mọi nơi.

Câu 192: Tuy là chết rồi, hình bóng đã khuất, xương cốt đã tàn rụi mà tiếng tăm vẫn còn lưu mãi.
193. Gái tiết hạnh giữ tròn danh giá,

Chớ học đòi mèo mả gà đồng.

195. Làm điều nhục nhã tổ tông,

Tiếng nhơ giặt rửa biển sông đặng nào.

Tiết hạnh 節 行: Tánh nết đàn bà con gái biết giữ gìn ngay thẳng, không làm bậy về phương diện tình ái.

Danh giá 名 價: Có tiếng tăm và có giá trị.

Học đòi: Bắt chước hay học hỏi theo những hành vi không tốt đẹp.

Mèo mả gà đồng: Mèo ngoài mả, gà ngoài đồng, chỉ những con mèo, gà hoang dã làm bậy ngoài mả, ngoài đồng. Nghĩa bóng chỉ những hạng trai gái không đứng đắn, hẹn hò làm tình lén lút ngoài đồng hoang mả vắng.

Tổ tông 祖 宗: Những người đầu tiên của dòng họ, như tổ tiên 祖 先, ông bà.

Câu 193: Nếu là gái có tánh nết ngay thẳng đứng đắn thì cố giữ gìn danh giá của mình.

Câu 194: Đừng nên học theo thói mèo mả gà đồng, tức là hạng người lang chạ bừa bãi, không giữ lễ giáo.

Câu 195: Làm những điều nhục nhã đến tổ tông ông bà.

Câu 196: Gây nên tiếng xấu xa không thể giặt rửa sông biển nào cho sạch hết tiếng nhơ được.
197. Trai trung hiếu sửa trau ba mối,

Đừng buông lung lầm lỗi năm hằng

199. Hung hoang tội báo nghiệt căn,

Kẻ chê người thị không bằng cỏ cây.

Trung 忠: Hết lòng với vua với nước.

Hiếu 孝: Hết lòng thờ kính cha mẹ.

Ba mối: Ba giềng mối, dịch từ chữ tam cang 三 綱, gồm: Quân thần cang 君 臣 綱, Phụ tử cang 父 子 綱, Phu thê cang 夫 妻 綱.

Buông lung: Buông thả để làm những điều lung dữ.

Năm hằng: Do chữ ngũ thường 五常: Năm đạo hằng có là nhân 仁, nghĩa 義, lễ 禮, trí 智, tín 信.

Hung hoang 凶 荒: Hung đồ hoang đảng, chỉ bọn hung dữ không ai kềm chế được.

Tội báo 罪 報: Quả báo do những hành vi tội lỗi đã gây ra từ trước.

Nghiệt căn 孽 根: Những việc gây ra từ kiếp trước (nghiệt) làm gốc rễ (căn) của các tai họa xảy đến trong kiếp này.

Kẻ chê người thị: Kẻ chê bai, người khinh rẻ.

Câu 197: Làm trai trung hiếu phải trau giồi ba giềng mối, đó là đạo vua tôi, cha con và vợ chồng.

Câu 198: Đừng nên buông thả làm những điều hung dữ mà lỗi đạo năm hằng.

Câu 199: Những người hung dữ gây nhiều căn nghiệt, tội báo.

Câu 200: Khiến cho kẻ chê bai, người khinh thị không bằng loài cỏ cây.
201. Thà tiết kiệm hằng ngày no đủ,

Tánh siêng năng lam lũ làm ăn.

203. Lòng chừa biếng nhác kiêu căng

Của tiền lãng phí không ngằn phải tiêu.

Tiết kiệm 節 儉: Hay cần kiệm, tức ăn xài có chừng mực, không tiêu xài hoang phí.

Người xưa thường dạy: Cẩn tắc vô ưu, nhẫn tắc vô nhục, tịnh tắc thường an, kiệm tắc thường túc 謹 則 無 憂, 忍 則 無 辱; 靖 則 常 安, 儉 則 常 足: Cẩn thận thì khỏi lo, nhẫn nhịn thì khỏi nhục, tĩnh lặng thường yên, cần kiệm thường đủ.

Đức kiệm cũng được Đức Chí Tôn dạy như sau: “Vì tại sao Thầy muốn các con mặc đồ bô vải chăng? Vì bô vải là tấm gương đạo đức, các con đã rõ đạo thì biết đức cần kiệm là đức hạnh đầu trong lúc các con còn ở thế gian nầy. Như sự lãng phí se sua ở đời nầy, Thầy cũng cho là một việc tổn đức vậy”.

Lam lũ 襤 褸: Áo quần rách rưới hôi hám.

Lam lũ làm ăn: Chịu đựng sự rách rưới, nghèo khổ và vất vả để lo làm ăn.

Biếng nhác: Lười biếng, không siêng năng.

Kiêu căng 驕 矜: Khoe khoang ngạo mạn, tức là ỷ tài giỏi lên mặt khinh khi người.

Lãng phí 浪 費: Tiêu xài phóng túng, tức là ăn mặc, tiêu pha hoang phí, không tiết kiệm.

Không ngằn: Không cần thiết, không tới mức phải tiêu xài.

Câu 201: Thà rằng tiêu xài có chừng mực miễn hằng ngày được no đủ mà thôi.

Câu 202: Tánh tình phải siêng năng cần cù, chịu đựng vất vả để lo làm ăn.

Câu 203: Lòng nên chừa bỏ tật lười biếng và tánh kiêu căng.

Câu 204: Tiền của không nên tiêu xài lãng phí, phải tiêu xài cho có chừng mực.
205. Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,

Đức háo sanh Tiên, Phật một màu.

207. Thượng cầm hạ thú lao xao,

Côn trùng thảo mộc loài nào chẳng linh.

Thương đều muôn vật: Thương yêu muôn sinh vật đồng đều như nhau.

Háo sanh 好 生: Hay hiếu sinh là ưa thích sự sống, thương yêu mạng sống.

Đức háo sanh là Thánh chất của Chí Tôn. Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Ngài có dạy: “Chi chi hữu sanh cũng bởi Chơn linh Thầy mà ra, hễ có sự sống ắt có Thầy. Thầy là cha của sự sống. Vì vậy lòng háo sanh của Thầy không cùng tận”.



Một màu: Giống hệt như nhau.

Thượng cầm 上 禽: Các loài chim bay ở trên trời.

Hạ thú 下 獸: Các loài thú sống ở dưới đất.

Lao xao: Rộn rịp lên.

Côn trùng 昆 蟲: Côn là đông đúc. Trùng là sâu bọ. Côn trùng: Danh từ dùng để gọi tất cả loài sâu bọ.

Thảo mộc 草 木: Các loại cây cỏ.

Câu 205: Đối với muôn vật, lòng của Trời đất thương yêu đồng đều nhau.

Câu 206: Đức háo sanh của các Đấng Tiên, Phật cũng giống hệt như nhau.

Câu 207: Trên thì các loài chim, dưới thì các loài thú sống lao xao nơi cõi thế gian.

Câu 208: Các loài côn trùng, cây cỏ loài nào mà chẳng linh.

Tạo hóa có công sinh thành, nuôi dưỡng con người và vạn vật. Mỗi Chơn linh mà Ngài sinh hóa ra, dù lớn dù nhỏ đều có điểm Linh quang của Ngài chiết ra, cho nên đối với muôn vật, từ côn trùng thảo mộc, đến loài cầm thú và con người, ngài đều thương yêu như nhau, che chở như nhau.

Chư Tiên Phật cũng thế, là các Đấng từ bi cũng lấy lòng Trời làm lòng mình, chính vì vậy, Tiên Phật cũng như Thượng Đế đều có lòng hiếu sinh. Thánh giáo Thầy có dạy: “Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, dầu nguyên sanh hay hóa sanh cũng vậy, đến thế này lâu mau đều định trước. Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai, biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên Phật bị đọa luân hồi mà ra đến đỗi ấy. Cái mạng sống là Thầy, mà giết Thầy thì không phải dễ. Các con gắng dạy nhơn sanh điều ấy”.

Theo Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Trời đất sở dĩ trường cửu là vì Trời đất không sống cho mình; bậc Thánh nhân nên theo gương ấy. Ngài nói: Trời đất sở dĩ được dài và lâu, là vì không sống cho mình, nên mới đặng trường sanh. Vì vậy Thánh nhân để thân ra sau mà thân ở trước, để thân ra ngoài mà thân đặng còn (Thiên địa sở dĩ năng trường thả cửu giả, dĩ kỳ bất tự sanh, cố năng trường sanh. Thị dĩ Thánh nhân, hậu kỳ thân nhi thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn 天 地 所 以 能 長 且 久 者, 以 其 不 自 生, 故 能 長 生. 是 以 聖 人 後 其 身 而 身 先, 外 其 身 而 身 存).


209. Nó cũng muốn như mình đặng sống,

Nỡ lòng nào tuyệt giống dứt nòi.

211. Bền công kinh sách xem coi,

Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan.

Tuyệt 絕: Chấm dứt, dứt tuyệt.

Tuyệt giống dứt nòi: Dứt tuyệt nòi giống. Hán thường dùng từ tuyệt chủng 絕 種.

Bền công: Ra công một cách bền bỉ.

Kinh sách: Sách làm nền tảng của một triết thuyết hay một Tôn giáo. Ví dụ như: Ngũ kinh trong Nho giáo, Đạo Đức kinh trong Lão giáo, Tam Tạng kinh trong Phật giáo và Kinh Thánh của Công giáo.

Trong một bài kinh những lời chỉ dạy, những bài giảng hay thuyết pháp của các Đấng nói lên thật tướng của Chân lý (Pháp) để giáo hóa các đệ tử hay chúng sanh tu tập hầu đạt đến Chân Thiện Mỹ, hoặc giác ngộ giải thoát.

Kinh sách của Tôn giáo tức là con đường dẫn dắt tâm chúng sanh đi vào đường thanh tịnh, khi ý bị phiền não khởi, ta cầm cuốn kinh đọc thì mọi phiền não sẽ được xua tan.

Ngoài ra, phải hiểu được ý nghĩa của kinh, chúng ta mới ứng dụng được lời của các Đấng dạy vào sự tu tập cho mình. Như thế Kinh mới có giá trị thực đối với chúng ta, bằng không thấu suốt nghĩa lý kinh mà cứ đọc tụng hằng ngày đêm, ấy chỉ là từ chương hoặc mê tín. Đọc kinh cầu lý, có vượt qua văn tự mới đạt lý, chứng tri.



Vô can 無 干: Không can dự tới, không dính líu tới.

Sát mạng: Hay sát mệnh 殺 命: Giết chết mạng sống.

Thiệt thòi: Chịu thua thiệt.

Câu 209: Loài cầm thú và côn trùng thảo mộc, giống như con người, nó cũng muốn được sống còn.

Câu 210: Chúng ta nỡ lòng nào mà dứt tuyệt nòi giống của nó.

Mỗi sinh vật dù lớn nhỏ đều thọ một điểm Chơn linh của Đức Thượng Đế, đều được Ngài thương yêu đồng đều như nhau, đều được quyền sống ở cõi thế gian như nhau. Lại nữa, do bản năng sinh tồn mà mọi loài đều ham sống sợ chết. Vì thế, ai sát hại sinh mạng của một loài vật thì sẽ bị ác báo, người nào cứu mạng một sinh vật sẽ được thiện báo. Câu chuyện sau đây cho thấy phước báo của sự bảo vệ sanh linh, dù là vật bé nhỏ.

Thuở xưa, có một vị La Hán ở trên núi Tuyết đã chứng lục thông, thấy rõ việc trong ba đời như xem việc trước mắt. Ngài có nuôi một vị thiếu niên Sa di làm đệ tử.

Một hôm, vị thiếu niên đứng hầu bên cạnh thầy, vị La Hán xem qua sắc tướng rồi cho biết vị đệ tử đã hết phước báo, sau bảy ngày nữa sẽ chết. Thiếu niên Sa di nghe được sự việc chỉ biết đau đớn đảnh lễ thầy rồi từ tạ trở về nhà.

Trên đường về, gặp phải trận mưa lớn, người thiếu niên rẽ qua con đường hẻm thấy một bầy kiến nhỏ đang chơi vơi trên một dòng nước nhỏ chảy ngang qua đường. Bầy kiến hết sức chống đỡ, nhưng vô hiệu, vì thân nhỏ sức yếu mà dòng nước quá mạnh, nên đành để dòng nước đưa về cõi chết.

Thiếu niên Sa di thấy vậy, động lòng từ bi, liền cởi chiếc áo đang mặc trong mình ngăn ngang dòng nước, để đàn kiến có chỗ leo vào, những con kiệt sức không leo được, thiếu niên nhẹ tay bắt từng con bỏ vào áo, rồi đem vào nơi khô ráo. Sau khi xem xét thấy cứu hết bầy kiến, thiếu niên mới yên lòng trở về nhà.

Trong thời gian bảy ngày, chàng thiếu niên lo sợ chờ ngày mạng chung. Nhưng đến ngày thứ tám, thiếu niên thấy không có gì xảy đến, mình vẫn còn sống. Chàng thiếu niên mừng vui, tìm đến gặp thầy.

Vị La hán hết sức ngạc nhiên, Ngài liền nhập định dùng diệu trí quán xét mới biết đệ tử mình do công đức cứu bầy kiến nên cải được tử mệnh, lại còn được sống lâu nữa. Sau khi xuất định, vị La hán cho đệ tử mình biết và cho rằng có lòng từ bi mà cứu vớt sinh linh thì công đức ấy vô lượng.



Câu 211: Lúc rảnh rỗi, hãy bền lòng mà xem coi kinh sách.

Câu 212: Các loài đó không hại đến mình mà giết chết nó thì thiệt thòi và rất nên oan uổng.
213. Chớ kiếm thế gọi ngoan xảo trá,

Lưới rập chim, thuốc cá, đốt rừng

215. Thương thay phá noãn lẫy lừng,

Tội căn báo ứng biết chừng nào an.

Kiếm thế: Tìm kiếm phương thế, tìm cách này cách nọ.

Ngoan: Khôn ngoan.

Xảo trá 巧 詐: Xảo quyệt dối trá, tức dối trá một cách khéo léo.

Lưới rập chim: Dùng lưới làm bẫy để bắt chim.

Thuốc cá: Dùng thuốc độc để bắt cá.

Đốt rừng: Đốt cháy rừng để thú chạy ra mà bắt, tức săn đốt thú rừng.

Phá noãn 破 卵: Noãn là trứng. Thọc phá tổ chim để lấy trứng.

Lẫy lừng: Vang dội. Ở đây, dùng với nghĩa dẫy đầy.

Tội căn báo ứng 罪 根 報 應: Gây điều tội lỗi tạo thành gốc rễ cho việc báo ứng.

Câu 213: Chớ tìm cách gian xảo mà làm rồi cho rằng mình khôn ngoan.

Câu 214: Giăng lưới bắt chim, thuốc độc bắt cá, đốt rừng bắt thú.

Câu 215: Thương thay chọc phá tổ chim, gây nên những việc hung dữ dẫy đầy.

Câu 216: Những tội lỗi đó sẽ bị báo ứng biết chừng nào yên được.
217. Lại có kẻ hung hoang ác nghiệt,

Cướp giựt rồi chém giết mạng người

219. Đoàn năm, lũ bảy dạo chơi,

Hiếp người lương thiện, phá đời hại dân.

Ác nghiệt 惡 孽: Mang sẵn mầm hung dữ, ác độc.

Đoàn năm lũ bảy: Cùng nghĩa với Tụ năm dụm bảy, tức là tụ tập thành nhóm năm bảy đứa.

Hiếp người lương thiện: Hiếp đáp người hiền lành, cưỡng bức người lương thiện.

Phá đời hại dân: Phá phách người đời, báo hại nhân dân.

Câu 217: Lại có những người hung dữ gây ra nhiều ác nghiệt.

Câu 218: Đã cướp giựt đồ vật rồi lại chém giết mạng người.

Câu 219: Tụ tập thành nhóm năm bảy đứa để đi lang thang, phá tán.

Câu 220: Hiếp đáp người hiền lương, phá phách người đời và báo hại nhân dân.
221. Tua khá tưởng thương lần nòi giống

Hãy xét vì mạng sống khó cầu.

223. Cũng đừng bài bạc lận nhau,

Rủ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu.

Tua khá tưởng: Nên tưởng nghĩ đến, khá nên nghĩ tới.

Mạng sống khó cầu: Cái sinh mạng khó cầu xin đặng, cái mạng sống khó tìm cầu đặng.

Bài bạc lận nhau: Cờ bạc gian lận với nhau.

Rù quến: Dụ dỗ.

Lấy xâu: Hay lấy tiền xâu, tức là tiền công tổ chức đánh bạc hoặc chứa cờ bạc.

Ăn đầu: Ăn tiền đầu.

Câu 221: Khá nên nghĩ thương yêu đến nòi giống.

Câu 222: Hãy xét vì mạng sống của con người khó mà cầu xin được.

Câu 223: Cũng đừng nên đánh bài đánh bạc để gian lận nhau.

Câu 224: Dụ dỗ rủ ren người đến đánh bạc để lấy tiền xâu hoặc ăn tiền đầu.

Cờ bạc là môn chơi rất tai hại, vì nó có thể làm táng gia bại sản, làm mất hạnh phúc gia đình, làm cho con người sa đọa, trộm cướp, giết người, mang thân tù tội. Chính vì thế, người bình dân thường khuyên dạy câu:



Cờ bạc là bác thằng bần,

Ruộng vườn bán hết, chôn chân vào cùm.

Ông Bàng Đức Công cũng có bài thi dạy răn con về cờ bạc như sau:



Phàm nhơn bá nghệ hảo tùy thân,

凡 人 百 藝 好 隨 身

Đổ bác môn trung mạc khứ thân,

賭 博 門 中 莫 去 親

Năng sử anh hùng vi hạ tiện,

能 使 英 雄 為 下 賤

Giải giao phú quí tác cơ bần.

解 教 富 貴 作 饑 貧

Y sam lam lũ thân bằng tiếu,

衣 衫 襤 褸 親 朋 笑

Điền địa tiêu ma cốt nhục sân.

田 地 消 磨 骨 肉 嗔

Bất tín đản khán hương đảng nội,

不 信 但 看 鄉 黨 內

Nhãn tiền suy bại kỷ đa nhân.

眼 前 衰 敗 幾 多 人


tải về 1.01 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương