ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


biết xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm quang



tải về 1.01 Mb.
trang5/12
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích1.01 Mb.
#3276
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12
biết xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm quang”.

Gông kềm khảo kẹp: Những dụng cụ dùng để tra khảo các tội hồn ở Âm phủ. Gông là vật mang vào cổ để kềm kẹp tay chân.

Câu 61: Đừng có học tính bướng bỉnh, cứng đầu không kể vì hàng cô bác.

Câu 62: Đừng hổn xược, càn bậy mà bạn bè khinh khi, coi rẻ.

Câu 63: Ngày sau sẽ bị đọa đày xuống Âm ty, Địa ngục để thọ những hình phạt vì đã gây ra tội lỗi ở Dương thế.

Câu 64: Phải chịu mang gông vào cổ và khảo kẹp tay chân thì dù rên la có ích gì đâu.

Tu hành là phải tập tánh hiền lương, chất phác, phải biết kỉnh thờ Thần Thánh, biết thương tưởng ông bà, biết hiếu thảo cha mẹ, biết kỉnh già thương khó, biết yêu mến bạn bè…

Nếu tu mà chẳng rèn tâm sửa tánh, giữ thói hung hăng, ngoan ngạnh, không kể ông bà cô bác, khinh dể anh em thì ngày kia hình phạt chốn Âm ty làm sao tránh khỏi. Thánh giáo Đức Chí Tôn cũng đã từng dạy: “…còn chút hơi thở ở cõi trần mà tính tình dọc ngang chưa chịu dứt, một mai hồn xuống Diêm Đài, khổ A tỳ bảo sao không trói buộc”.
65. Người tai mắt đạo nhà khá giữ,

Nghĩa anh em cư xử thuận hòa.

67. Vẹn tròn đạo cả giềng ba,

Kính anh mến chị thì là phận em.

Người tai mắt: Người có nhiều hiểu biết và danh tiếng. Từ Hán Việt gọi là “danh gia vọng tộc 名 家 望 族”.

Đạo nhà: Do chữ Gia đạo 家 道, tức là đường lối hay phép tắc cư xử giữa những người trong gia đình với nhau.

Nghĩa anh em: Tình nghĩa anh em, tức là cách ăn ở giữa anh em ruột thịt với nhau hợp với đạo lý.

Thuận hòa: Hay Hòa thuận 和 順, tức là không xung đột nhau, không trái ý nhau. Yêu thương đùm bọc lẫn nhau.

Vẹn tròn: Tròn vẹn.

Đạo cả: Do chữ Đại đạo 大 道, ở đây chỉ mối đạo lớn làm căn bản cho con người, ấy là Nhơn đạo 人 道, tức là đạo làm người.

Nhơn đạo là một mối đạo làm căn bản cho con người, nhứt là đối với người tu hành. Sách có câu: Muốn tu Tiên đạo, trước hết tu nhơn đạo. Nếu chẳng tu nhơn đạo, thì Tiên đạo xa lắm khó tìm vậy (Dục tu Tiên đạo, tiên tu nhơn đạo. Nhơn đạo bất tu, Tiên đạo viễn hĩ 欲 修 仙 道, 先 修 人 道. 人 道 不 修, 仙 道 遠 矣).



Giềng ba: Tức là ba giềng. Do chữ tam cang 三 綱, là ba giềng mối của đạo nhơn luân, đó là Quân thần cang (Giềng mối của vua tôi), Phụ tử cang (Giềng mối của cha con), Phu thê cang (Giềng mối của vợ chồng).

Câu 65: Người có địa vị, tiếng tăm phải khá giữ nề nếp sinh hoạt trong gia đình cho hợp đạo lý.

Câu 66: Tình nghĩa giữa anh em phải cư xử với nhau trên hòa dưới thuận, thương yêu đùm bọc cho nhau.

Câu 67: Phải thi hành trọn vẹn mối đạo lớn của con người, giữ gìn ba giềng mối của đạo nhơn luân.

Câu 68: Bổn phận làm em, phải kính trọng và thương mến anh chị mình.
69. Trên thương dưới xét xem kẻ nhỏ,

Lúc lâm nàn chớ bỏ tránh xa.

71. Cũng là một gốc sanh ra,

Gồm bao nâng đỡ ruột rà thương nhau.

Trên thương dưới: Làm người trên trước phải biết thương yêu, chăm sóc kẻ ở dưới mình. Ở đây chỉ người làm anh chị.

Xét xem kẻ nhỏ: Chăm nom và săn sóc kẻ nhỏ hơn.

Lâm nàn: Do chữ lâm nạn 臨 難: Gặp tai nạn, bị tai nạn.

Một gốc sanh ra: Từ một nguồn gốc mà sinh ra. Như cành nhánh của cây do từ cội hay gốc cây mà sinh ra. Đây chỉ anh em ruột thịt.

Ruột rà: Ruột thịt với nhau. Chỉ anh em cùng một cha một mẹ với nhau.

Câu 69: Làm người trưởng thượng phải xem xét, dòm ngó những người nhỏ hơn mình.

Câu 70: Khi những người nhỏ hơn mình gặp tai nạn thì chẳng khá tránh xa, mà phải tận tình giúp đỡ.

Câu 71 và 72: Anh em ruột thịt cũng từ một nguồn gốc cha mẹ mà sinh ra, nên nâng đỡ, đùm bọc và thương yêu lẫn nhau.

Thánh hiền ngày xưa có quan niệm rằng nghĩa anh em như tay chân, tình chồng vợ như xiêm áo, trong ca dao cũng có câu:



Anh em như thể chân tay,

Vợ chồng như áo cởi ngay tức thì.

Thực vậy, anh em cùng huyết thống, cùng cha mẹ sinh ra, tức là cùng núm ruột, đã từng sống bên nhau, thân thiết nhau từ lúc thơ bé cho đến lớn khôn, cùng vui đùa, cùng chia xẻ, san sớt chén cơm, miếng cá cho nhau:



Thân nhau từ buổi lọt lòng,

Chén cơm miếng cá cũng đồng chia nhau.

(Kinh Tụng Huynh Đệ Mãn Phần)

Chính vì cái tình cảm thấm thiết đó, anh em phải biết thương yêu nhau, thuận hòa cùng nhau. Anh chị lớn phải coi sóc người em nhỏ dại, khi em út gặp khó khăn, hoạn nạn thì phải quan tâm lo lắng, không bao giờ bỏ tránh xa. Câu chuyện sau đây trong sách Hán thư cho ta thấy tình nghĩa anh em hết sức thương nhau, thật là đoàn kết:

Vào cuối triều Vương Mãng, Triệu Lễ bị ăn cướp bắt, muốn làm thịt mà ăn. Triệu Lễ lạy lục mà thưa rằng: Giờ mẹ tôi chưa ăn, xin tha mạng giây phút, về nhà dâng cơm cho mẹ ăn xong, liền trở lại chịu chết. Cướp cho về. Câu chuyện thấu đến tai người anh là Triệu Hiếu, nên anh tự trói mình đến chỗ bọn cướp nói: Thằng Lễ ốm, chẳng bằng Hiếu tôi mập, xin thế mạng cho em. Triệu Lễ khóc mà nói: Tôi gặp các ông trước, xin nạp mạng, đâu được làm thịt anh tôi. Bọn cướp khen hai người có nghĩa, nên thả hai người trở về nhà (trích trong Ấu Học Quỳnh Lâm).


73. Người trung trực lo âu nợ nước,

Hưởng lộc vua tìm chước an bang.

75. Chớ làm con giặc tôi loàn,

Thuế sưu đóng đủ đừng toan kế tà.

Trung trực 忠 直: Trung là trung thành. Trực là ngay thẳng. Trung trực: Một lòng một dạ ngay thẳng.

Lo âu: Lo lắng, lo tính.

Việc nước: Việc quốc gia, việc đất nước.

Hưởng lộc 享 祿: Hưởng là nhận lấy. Lộc là những thứ gì mà người ta cho mình. Hưởng lộc: Nhận được cái gì người khác ban cho mình.

Hưởng lộc vua: Hay hưởng lộc nước, tức là thọ hưởng quyền tước hay lương bổng của quốc gia.

Tìm chước: Tìm mưu kế, tìm cách.

An bang 安 邦: An là yên ổn. Bang là nước nhà. An bang: Làm cho quốc gia được yên ổn, thái bình.

Con giặc: Vì dân là tôi con của nhà nước, nên con giặc là chỉ người dân làm giặc, tức là dân có ý đồ chống lại quốc gia.

Tôi loàn: Dịch từ chữ loạn thần 亂 臣: Làm quan có mưu đồ dấy loạn, có ý phản với nhà vua và đất nước.

Thuế sưu: Hay sưu thuế 搜 稅.

Sưu: Hay sưu dịch 搜 役 là mỗi năm người dân phải làm một số ngày nhứt định những công việc cho nhà nước. Như đào kênh, vét sông, đắp đường...

Thuế: Tiền mà dân chúng phải nạp cho nhà nước để dùng vào những việc lợi ích chung.

Đừng toan kế tà: Đừng có ý định gian xảo, đừng tính kế gian dối.

Câu 73: Người có lòng trung với quốc gia thì phải lo toan việc nước nhà.

Câu 74: Hưởng lộc vua thì phải tìm cách để làm cho đất nước yên ổn, thái bình.

Câu 75: Nếu làm người dân thì đừng sinh giặc, chống phá nhà nước; nếu làm quan (tôi) thì đừng làm loạn, phản lại quốc gia.

Câu 76: Bổn phận làm dân thì phải đóng đủ sưu thuế, chớ đừng có mưu kế gian dối nhà nước.

Con người sống trong một quốc gia, có được ruộng đất phì nhiêu, có được an cư lạc nghiệp, có được nền văn minh đạo đức là nhờ công lao hạn mã của các vì vua chúa, những bậc tiền bối đã khai sơn phá thạch xây dựng nên dãy giang sơn gấm vóc và những bậc kế thừa đã bảo vệ mà để lại ngày nay chúng ta được thừa hưởng, do đó chúng ta phải hết lòng biết ơn những người đã lo cho muôn dân ấm no hạnh phúc.

Để tỏ lòng biết ơn quốc vương thủy thổ, chúng ta phải giữ lòng trung trực gánh vác việc nước, nếu làm quan hưởng lộc vua thì hết lòng với nước, lo tìm kế để an bang, không nên làm kẻ gian thần sủng nịnh, con giặc tôi loàn mà hại dân hại nước; nếu làm người dân thì phải có bổn phận lo tròn sưu thuế, chung sức bảo vệ và xây dựng giang sơn xã tắc.
77. Phận làm tớ thật thà trung tín,

Với chủ nhà trọn kính trọn ngay.

79. Áo cơm no ấm hằng ngày,

Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.

Làm tớ: Người giúp việc trong nhà.

Trung tín 忠 信: Trung thành và tín nhiệm, tức là người ngay thật và biết giữ sự tín nhiệm.

Áo cơm no ấm: Áo giúp cho thân ấm, cơm làm cho người no. Còn gọi cơm no áo ấm.

Châu cấp 周 給: Đem vật dụng ra giúp đỡ cho đầy đủ.

Câu 77 và 78: Bổn phận người giúp việc nhà thì phải thật thà, trung thành, ngay thẳng và biết kính trọng chủ nhà.

Câu 79 và 80: Hằng ngày mình được cơm no áo ấm của chủ nhà châu cấp cho ấy là ơn nghĩa rất sâu nặng.

Người làm tớ, hằng ngày được no ấm là nhờ cơm áo của chủ châu cấp cho, đó là ơn nghĩa sâu dày, nên phải có bổn phận ăn ở thật thà, ngay thẳng, giữ lòng thủy chung như nhứt, bất cứ hoàn cảnh nào cũng không thay dạ đổi lòng, sửa ngay ra vạy. Thánh giáo Đức Tôn Trung Sơn đã dạy: “Chữ trung là ngay, còn nịnh là vạy tà. Làm tớ phải giữ trọn đạo, lấy chánh tâm mà thờ chủ, gọi là trung”.


81. Đừng gặp việc câu mâu biếng nhác,

Mà quên lời phú thác dặn dò.

83. Trước người giả bộ siêng lo,

Sau lưng gian trá so đo tấc lòng.

Câu mâu: Tỏ ý không bằng lòng.

Biếng nhác: Lười biếng, không siêng năng.

Phú thác: Hay phó thác 付 託: Phú là giao cho. Thác là gởi gấm. Phú thác: Giao và gởi gấm một việc gì cho ai.

Trước người giả bộ: Làm bộ tịch trước mặt người ta, giả bộ trước mặt người.

Siêng lo: Siêng năng lo lắng.

Gian trá 奸 詐: Gian là gian xảo. Trá là lừa gạt, tráo trở.

Gian trá: Lừa gạt gian xảo.

So đo tấc lòng: So sánh hơn thiệt từng ly từng tí, chỉ lòng dạ hẹp hòi ích kỷ.

Câu 81 và 82: Đừng gặp việc không vừa ý mà sinh lòng biếng nhác, rồi quên đi lời dặn dò và gởi gấm của người ta.

Câu 83: Trước mặt người thì giả bộ siêng năng, lo lắng.

Câu 84: Rồi sau lưng người thì gian xảo, lừa dối, tính toán hơn thiệt từng ly từng tí.
85. Phải chừa thói loài ong tay áo,

Bớt học đòi khỉ dạo dòm nhà.

87. Gìn lòng ngay thẳng thật thà,

Nói năng minh chánh lời ra phải nhěn.

Loài ong tay áo: Do câu thành ngữ: “nuôi ong tay áo”. Nghĩa là đem loài ong nuôi trong tay áo thì sẽ bị chính ong chích, ý chỉ kẻ phản chủ, hưởng của chủ mà chống lại chủ.

Khỉ dạo dòm nhà: Do câu thành ngữ: “nuôi khỉ dòm nhà”. Nghĩa là nuôi khỉ để khỉ dòm ngó việc nhà. Loài khỉ thường bắt chước theo người một cách vô ý thức, nên dòm ngó mà bắt chước theo, làm hại cho chủ nhà.

Gìn lòng ngay thẳng: Giữ gìn trong dạ ngay thẳng.

Minh chánh 明正: Hay minh chính, là trong sáng ngay thẳng, rõ ràng chân chính.

Lời ra phải nhìn: Phải nhìn nhận lời nói của mình, tức là không nuốt lời.

Câu 85: Phải chừa bỏ thói phản phúc như nuôi ong trong tay áo.

Câu 86: Đừng học theo loài khỉ dòm ngó việc nhà mà làm hại chủ nhà.

Câu 87: Phải gìn giữ lòng dạ thật thà, ngay thẳng.

Câu 88: Lời nói ra phải rõ ràng chơn chánh. Khi thốt ra chớ nên nuốt lời.

Có nhiều người trong lúc vui, hay trong tình trạng khởi hứng, họ thường hứa hẹn, nhưng sau một thời gian họ lại quên lời. Do vậy, người bình dân Việt Nam dạy người ta phải cẩn thận về lời nói, khi nói ra thì phải giữ lấy lời như câu ca dao sau đây:



Nói lời phải giữ lấy lời,

Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

Các nhà Nho cũng cho rằng: Cái miệng cái lưỡi là cửa của điều tai họa hại người, nó là cái búa cái rìu chém giết mình đi (Khẩu thiệt giả, họa nhân chi môn, diệt thân chi phủ dã 口 舌 者, 禍 人 之 門, 滅 身 之 斧 也).

Chính vì thế, Đức Khổng Tử mới dạy người ta phải dè dặt, cẩn thận từng lời nói, đừng nên khi dể lời nói, Ngài bảo: Ôi! Người không nói, mà hễ nói thì phải đúng lý (Phù! Nhân bất ngôn, ngôn tất hữu trúng 夫! 人 不 言, 言 必 有 中). Và Lão Tử cũng nói: khi người quân tử nói ra một lời, như con ngựa hay bị chạm một roi vậy; một lời đã nói ra, thì dù cho bốn ngựa cũng khó theo kịp (Quân tử nhất ngôn, khoái mã nhất tiên; nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy 君 子 一 言, 快 馬 一 鞭; 一 言 既 出, 駟 馬 難 追).
89. Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại,

Đừng gian mưu hãm hại người hiền.

91. Anh em bằng hữu kết nguyền,

Một lòng tin cậy phải kiêng phải vì.

Quyệt ngữ 譎 語: Quyệt là xảo trá, gian dối. Ngữ là lời nói. Quyệt ngữ: Lời nói xảo trá, không ngay thẳng.

Kẻ dại: Người khờ dại, người dại dột.

Gian mưu 奸 謀: Mưu kế gian xảo.

Hãm hại 陷 害: Làm điều ám muội để hại người.

Bằng hữu 朋 友: Bạn bè.

Kết nguyền: Thề nguyền để kết tình anh em với nhau.

Tin cậy: Tin tưởng để cậy nhờ.

Kiêng vì: Kiêng sợ và nể nang.

Câu 89: Thấy người ta khờ dại đừng khinh dể mà buông lời xảo trá, gian dối.

Câu 90: Đừng có mưu gian để hãm hại người hiền lương.

Câu 91 và 92: Nếu thề nguyền để kết tình bằng hữu, anh em với nhau thì phải một lòng tin tưởng và phải kiêng vì lẫn nhau.

Người xưa thường quan niệm rằng: Người đàn bà nếu chẳng có gương trong để soi mặt thì làm sao biết mặt mình dơ, hay sạch. Kẻ sĩ nếu chẳng có bạn hiền, thì ai mách cho mình những lỗi lầm (Nữ vô minh kính, bất tri diện thượng tinh thô; sĩ vô lương hữu, bất tri hành bộ khuy du 女 無 明 鏡, 不 知 面 上 精 粗; 士 無 良 友, 不 知 行 步 虧 踰). Như vậy việc kết bằng hữu rất cần cho chúng ta. Nhưng muốn giao thiệp bạn bè, phải chọn người hiền lương, tín cẩn. Cách chọn bạn của cổ nhân thường rất kỹ lưỡng, bởi họ cho rằng: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Ông Thái Công cũng có dạy: “Gần son thì đỏ, gần mực thì đen, gần người hiền thì sáng, gần người tài thì trí, gần kẻ si thì ngu, gần người lành thì có đức…” (Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc; cận hiền giả minh, cận tài giả trí; cận si giả ngu, cận lương giả đức 近 朱 者 赤, 近 墨 者 黑, 近 賢 者 明, 近 才 者 智, 近 癡 者 愚, 近 良 者 德).

Khi bạn bè đã kết nguyền với nhau rồi, ta phải có lòng thành thật đối đãi với nhau, phải tin cậy và kính nhường để giữ niềm hòa ái, tương trợ tương thân. Anh em phải khuyên bảo nhau, giúp đỡ lẫn nhau, nếu có lỗi lầm, phải sửa đổi lẫn nhau, nghèo nàn phải thương yêu nhau, hoạn nạn phải cứu giúp nhau.
93. Chớ thấy khó mà khi mà thị,

Gặp người giàu mà vị mà nâng.

95. Dầu khi gặp lúc gian truân,

Cũng đồng giúp ích chớ đừng mặt ngơ.

Thấy khó: Thấy nghèo hèn, thấy nghèo khó.

Khi thị 欺 視: Lừa dối và khinh thường người ta.

Vị: Nể nang.

Nâng: Nịnh hót, bợ đỡ, tâng bốc.

Gian truân 艱 屯: Gian là khó khăn. Truân là khó tiến tới. Gian truân: Khó tiến bước, chỉ sự khó khăn bước tới.

Giúp ích: Giúp nhau cho có ích.

Mặt ngơ: Mặt làm lơ, không để ý đến, hay không biết tới.

Câu 93: Chớ thấy người ta nghèo khó thì khinh rẻ, coi thường.

Câu 94: Gặp những người giàu sang thì bợ đỡ, tâng bốc.

Thói thường, người nào ham chuộng tiền tài, vật chất hay danh quyền thì họ thường nhìn người qua bề ngoài, mà có thái độ cư xử khác nhau: Hễ thấy người nghèo hèn thì tỏ vẻ rẻ rúng, khi dể, hễ thấy ai giàu sang, quyền hành thì nịnh bợ, ỷ lại. Ông Thái Công có khuyên như sau: Thấy người nghèo thì không nên khi, người giàu thì không nên cậy. Vì âm dương xoay vần, giáp vòng rồi cũng trở lại như cũ (Bần bất khả khi, phú bất khả thị; âm dương tương thôi, châu nhi phục thủy 貧 不 可 欺, 富 不 可 恃. 陰 陽 相 推, 週 而 復 始).

Bởi vì bỉ thới thường thay đổi, cho nên:

Hoa rơi hoa nở, nở rồi rơi,

Gấm kia vải nọ sẽ thay dời.

Nhà hào chưa chắc giàu sang mãi,

Kẻ khó nào đâu mãi tả tơi.

Bài thơ trên dịch vần từ câu nói của Ngô Chơn Nhơn 吳 真 人 như sau:



Hoa lạc hoa khai, khai hựu lạc,

花 落 花 開 開 又 落



Cẩm y bố y canh hoán trước;

錦 衣 布 衣 更 換 著



Hào gia vị tất trường phú quý,

豪 家 未 必 長 富 貴



Gia bần vị tất trường tịch mịch.

家 貧 未 必 長 寂 寞



Câu 95: Dầu có lúc gặp cảnh gian nan vất vả, khó qua được,

Câu 96: Thì cũng giúp ích cho nhau, chớ đừng làm mặt ngơ.
97. Làm người phải kỉnh thờ Thần Thánh.

Giữ lời nguyền tâm tánh tưởng tin,

99. Hễ là niệm Phật tụng kinh

Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.

Kỉnh thờ: Thờ phụng một cách kính trọng.

Lời nguyền: Lời thề nguyền.

Tưởng tin: Hay tưởng tín 想 信, tức là tin và tưởng nghĩ đến.

Niệm Phật 念 佛: Đọc trang nghiêm danh hiệu của Đức Phật. Theo nghĩa rộng của kinh, đây là từ chỉ chung cho các Đấng: Niệm Phật cũng có nghĩa là niệm danh hiệu Đức Chí Tôn hay các Đấng Phật, Tiên, Thánh, Thần.

Có nhiều cách niệm:

- Tụng niệm 誦 念: Đọc lớn tiếng danh hiệu các Đấng, như chú của Chí Tôn trước Chánh điện hay Thiên bàn.

- Mật niệm 密 念: Niệm thầm, niệm nhỏ tiếng ở bất cứ nơi nào.

- Khẩu niệm 口 念: Niệm một cách chí thành, khẩn thiết khi gặp tai nạn hay bệnh tật.

- Quán niệm: Tưởng niệm các Đấng như có hình ảnh ở trước mắt.

- Chuyên niệm 專 念: Lúc nào cũng niệm, trong mọi lúc đi, đứng, nằm, ngồi.

Mục đích niệm danh hiệu các Đấng là để trói buộc cái tâm mình vào danh hiệu các Đấng, lúc đó các vọng tưởng hết, chân tâm thanh tịnh hiện bày. Nhưng điều cần nhứt là niệm đến chỗ nhứt tâm bất loạn 一 心 不 亂, tức là tâm không bị loạn động, chí thành, không để các tạp niệm xen vào, miệng niệm mà trong lòng không có vọng tưởng.

Tâm bị vô minh, vọng tưởng làm điên đảo, bất tịnh, niệm Phật có công năng phá trừ vọng niệm, làm cho tâm mê lầm trở nên sáng tỏ, tinh tấn.

Tụng kinh 誦 經: Đọc thành tiếng theo nhịp kinh một cách thành kính.

Chúng ta chí thành tụng đọc thì kinh có công năng phá trừ vô minh, khai mở tâm trí sáng suốt. Như vậy, ý nghĩa huyền diệu trong kinh điển chúng ta cần phải tìm hiểu, học tập: “Độc kinh cầu lý 讀 經 求 理”, bởi vì lý của kinh sẽ chiếu sáng tâm con người (lý dĩ chiếu nhân tâm 理 以 照 人 心).

Sau một thời tụng kinh, người tụng có cảm thấy tâm mình được thanh thản, an lạc, thì thời kinh đó mới có ý nghĩa.

Rèn lòng: Do chữ luyện tâm 煉 心 là trau giồi tâm cho thiện lương, thanh tịnh.

Sửa nết: Do chữ tu tánh 修 性 là trau giồi tự tánh.

Câu 97: Làm con người phải biết và có đức tin kỉnh thờ các Đấng Thần Thánh.

Câu 98: Phải có lòng tin tưởng và gìn giữ theo lời thề nguyền.

Kỉnh thờ Thần Thánh là kỉnh thờ các Đấng do Đức Chí Tôn hóa sinh ra, để thay mặt cho Ngài lo cho chúng sanh. Thần Thánh là các bậc có lòng từ bi, có oai nghi, đức độ và công lao đối với con người. Thờ phụng và kỉnh lạy Thần Thánh nhằm thể hiện lòng quy ngưỡng, tri ân công đức, và noi theo những gương lành của các bậc ấy.

Kỉnh thờ Thần Thánh chẳng phải vì van xin tha tội, cũng chẳng phải vì cầu mong ban ơn được giàu sang, mạnh giỏi…Sự thờ kỉnh Thần Thánh không phải là một lễ lo lót, vì các Đấng ấy công minh, vô tư, chẳng bao giờ thiên vị. Đông Nhạc Thánh Đế có lời dạy: Thiên địa vô tư, Thần minh ám sát, bất vị tế hưởng nhi giáng phước, bất vị thất lễ nhi giáng họa 天 地 無 私, 神 明 暗 察, 不 為 祭 享 而 降 福, 不 為 失 禮 而 降 禍, nghĩa là Trời đất không tư riêng, có Thần minh soi xét, chẳng vì cúng tế mà cho phước, chẳng vì thất lễ mà giáng họa.

Câu 99 và 100: Hễ chúng ta chuyên tâm tụng kinh niệm Phật thì chúng ta phải trau giồi tâm, tu sửa tánh một cách nghiêm cẩn như lời nguyền khi niệm Phật tụng kinh.
101. Chừa thói xấu đảo điên trong dạ

Muôn việc chi chẳng khá sai lời

103. Dối người nào khác dối Trời,



Trời đâu dám dối ra đời ngỗ ngang.

Đảo điên 倒 顛: Làm rối trật tự, đang xuôi bỗng nhiên lật ngược. Chỉ sự thay đổi lung tung, tráo trở bất thường.

Dối người nào khác dối Trời: Sách Trung Hiếu Lược nói: Mình dối người là tự dối lòng mình. Dối lòng mình là tự dối cả Trời, Trời có thể dối ru? (Khi nhân tất tự khi kỳ tâm, khi kỳ tâm tất tự khi kỳ Thiên, Thiên kỳ khả khi hồ? 欺 人 必 自 欺 其 心, 欺 其 心 必 自 欺 天, 天 其 可 欺 乎?).

Khi nói về vọng ngữ, Thánh giáo Đức Chí Tôn có dạy: “Thầy đã nói rằng, nơi thân phàm các con, mỗi đứa Thầy đều cho một chơn linh gìn giữ cái chơn mạng sanh tồn.



Thầy tưởng chẳng cần nói, các con cũng hiểu rõ rằng, đấng chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các đấng Trọn Lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt đều lành và việc dữ ghi chép không sai, đặng dâng vào Tòa Phán Xét. Bởi vậy nên một mảy không qua, dữ lành đều có trả. Lại nữa, các chơn linh ấy, tánh Thánh nơi mình, đã chẳng phải gìn giữ các con mà thôi, mà còn dạy dỗ các con, thường nghe đời gọi lộn Lương tâm là đó.

Bởi vậy chư Hiền, chư Thánh Nho nói rằng:

Khi nhơn tức khi tâm

Hoạch tội ư Thiên vô sở đảo dã



Như các con nói dối, trước chưa dối với người thì các con đã nói dối với Lương tâm, tức là chơn linh”.

Ngỗ ngang 忤 昂: Ngạo ngược, bướng bỉnh, tức là không kể lời dạy dỗ của người trên.

Câu 101: Phải chừa bỏ những thói xấu xa và dứt trừ lòng dạ tráo trở bất thường.

Câu 102: Dầu bất cứ việc chi cũng phải giữ đúng, chớ khá sai lời.

Câu 103 và 104: Dối người có khác chi là dối Trời, mà Trời mình dám dối sao? Nếu dối Trời thì thành người ngạo ngược bướng bỉnh.

Thật vậy, sách Trung Hiếu Lược còn nói như sau: Dối người được, không thể dối Trời được, lừa người được, không thể lừa Trời được. Người đời có đánh lừa nhau mới sinh ra lòng dối, mà dối lòng tức là dối Trời vậy. Chớ nói Trời không biết. Trời ở nóc nhà, đầu nhà, nói gì Trời không nghe. ngươi nói không nghe, thử hỏi xưa nay đã bỏ quên người nào. Trời xanh lồng lộng không nên nói dối, ý ngươi muốn gì ta đã biết trước rồi. Cho nên rõ ràng trời xanh không nên khinh khi. Chưa có nghĩ tới thì đã biết trước rồi, nên ta khuyên ngươi chớ làm sự quấy quá; xưa qua nay lại, có thấy Trời bỏ qua ai chưa?



Nhân khả khi Thiên bất khả khi, nhân khả man Thiên bất khả man thế nhân yếu man nhơn, phân minh bả tâm khi; khi tâm tức khi Thiên, mạc đạo Thiên bất tri, Thiên tại ốc thềm đầu, tu hữu thính đắc thì, nễ đạo thính bất đắc, cổ kim phóng quá thùy?

Trạm trạm thanh thiên bất khả khi, vị tằng cử ý ngã tiên tri, khuyến quân mạc tác khuy tâm sự, cổ vãng kim lai phóng quá thùy?人 可 欺 天 不 可 欺, 人 可 瞞 天 不 可 瞞, 世 人 要 瞞 人, 分 明 把 心 欺; 欺 心 即 欺 天, 莫 道 天 不 知, 天 在 屋 簷 頭, 須 有 聽 得 時, 你 道 聽 不 得, 古 今 放 過 誰? 湛 湛 青 天 不 可 欺, 未 曾 舉 意 我 先 知, 勸 君 莫 作 虧 心 事, 古 往 今 來 放 過 誰?.
105.

tải về 1.01 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương