ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


Lo danh vọng hao mòn thân thể



tải về 1.01 Mb.
trang4/12
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích1.01 Mb.
#3276
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12
Lo danh vọng hao mòn thân thể,

Ham làm giàu của để bằng non.

31. Một mai nhắm mắt đâu còn,

Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng.

Danh vọng 名 望: Danh là nổi tiếng. Vọng là ngưỡng mộ. Danh vọng là nổi tiếng về tiền bạc, tài năng hay đức độ khiến người đời nhìn vào mà ngưỡng mộ.

Trong bài Thánh giáo Chúa nhựt, ngày 19 tháng 12 năm 1926, Đức Chí Tôn giáng cơ nói về danh vọng bằng Pháp văn như sau: “La gloire est souvent contre la vertu. Elle est éphémère. Elle provient souvent de la fourberie” (Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ nơi sự gian trá).



Hao mòn thân thể: Thân xác con người bị hao phí hay sức khoẻ bị tiêu mòn.

Danh vọng và giàu sang dễ làm cho con người ta phải lao tâm tiêu tứ, thân xác hao gầy, chính vì vậy, cổ nhân thường cho rằng: Phú quý trường trung dị bạch đầu 富 貴 場 中 易 白 頭, tức là trong trường phú quí đầu dễ bạc.



Của để bằng non: Của cải tiền bạc chất chứa lại thành đống lớn như núi non.

Tánh tham con người không đáy, cứ mãi hao phí tinh thần và khí lực để tìm kiếm tiền bạc, của cải về chất cao như non núi, thế mà vẫn thấy chưa đủ, vì thế Ngô Chân Thiên có nói:



Thí vấn đôi kim đẳng sơn nhạc,

試 問 堆 金 等 山 岳,

Vô Thường mãi đắc bất lai ma?

無 常 買 得 不 來 麼?

Nghĩa là:

Bạc vàng ví chất cao như núi,

Nhưng quỉ Vô thường mua nổi không?

Một mai: Một ngày nào đó.

Nhắm mắt: Chết.

Chuộc mạng: Đem tiền và vàng bạc đổi lấy mạng sống.

Đổi lòn: Chịu hạ mình để cầu xin đổi lấy.

Câu 29: Chạy theo tiếng tăm để được người ta ngưỡng mộ thì phải tiêu hao sức lực của thân xác.

Câu 30: Ham mê giàu sang để có của cải chất cao như núi.

Câu 31 và 32: Một ngày kia, khi nhắm mắt chết rồi thì có thể đem vàng bạc để cầu xin chuộc lại mạng sống của mình được không?

Danh vọng và tiền tài là cái khiến cho con ngươi phải lao đao lận lận, hao mòn thân thể bởi phải tính toán bằng trăm phương ngàn kế, phải mất ăn mất ngủ để làm việc một cách bán chết bán sống mới tạo ra được, cũng có khi phải dùng cả những thủ đoạn xấu xa, tội lỗi để giành giựt lấy nó. Ôi! Khi có được nó rồi thì thân xác hao mòn, sức khỏe suy kiệt, rồi mai kia vô thường lại đến thì thử hỏi công danh phú quý đó có thể đem thế mạng cho mình được không? Hay tội tình muôn kiếp mình phải thọ lấy.

Cái thực vĩnh cửu mà ta không tìm lấy, lại chạy theo vô minh để tìm cái danh lợi quyền giả tạm để khiến phải lao tâm tiêu tứ và vương mang tội tình. Do vậy, Thánh giáo Đức Chí Tôn mới dạy: Các con nên tìm sự giàu đức tính của Trời. Chỉ có cách đó mới gọi là vĩnh cửu. Của quý ấy không ai ăn cướp đặng cả.

Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt và danh quyền ấy mới chịu đựng nổi bao sự thử thách (La gloire de Dieu est la seule qui résiste à toutes épreuves).

(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển).


33. Trên đầu có bủa giăng Thần, Thánh,

Xét xem người tánh hạnh dữ hiền.

35. Làm lành đặng hưởng phước duyên,

Trong lòng nham hiểm, lộc quyền giảm thâu.

Bủa giăng: Giăng ra để bao vây mọi phía, tức là giăng ra khắp mọi nơi, mọi chốn.

Tánh hạnh: Hay tính hạnh 性行: Tính tình và hạnh kiểm, tức là tính nết và cách ăn ở của mỗi con người.

Phước duyên 福 緣: Phước: Những gì may mắn, tốt lành, trái với họa. Duyên: Sức bổ trợ cho nhân thành quả. Phước duyên là những điều may mắn tốt đẹp do việc làm lành báo đáp lại.

Nham hiểm 巖 險: Nham: Sườn núi, hang núi. Hiểm: Khó khăn, cản trở. Nham hiểm: Nơi hiểm trở ở núi non. Nghĩa bóng: Độc ác một cách kín đáo khó lường được.

Lộc quyền 祿 權: Lợi lộc và quyền hành.

Giảm thâu 減 收: Hay giảm thu, tức là thâu bớt lại.

Câu 33 và 34: Bên trên đầu mỗi người đều có các Đấng Thần, Thánh khắp nơi để soi xét tánh hạnh hiền dữ của con người.

Đối với Nho giáo, Thần Thánh là cái khí thiêng liêng trong Trời đất, tuy mắt người không trông thấy, tai người không nghe thấy, nhưng thể được muôn loài vạn vật, không sót một vật nào: Đâu đâu cũng hình như trên đẩu ta, ở bên tả ở bên hữu ta (Dương dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu 洋 洋 乎 如 在 其 上, 如 在 其 左 右).

Thần Thánh là những bậc công minh chánh trực, thường chứng giám những hành vi thiện ác của con người trong thế gian này. Như lời dạy trong Thánh giáo của Đức Chí Tôn: “Phải quấy Thần Thánh chỉnh chép biên, thưởng phạt duy đợi ngày chung cuộc. Khá biết lấy!”.

Câu 35: Người làm việc lành, tức là tạo âm chất thì sẽ được duyên hưởng điều phước đức.

Câu 36: Người có lòng dạ hiểm sâu, độc ác thì sẽ bị chư Thần giảm bớt lộc quyền.
37. Đừng tính kế độc sâu trong dạ,

Mà gổ ganh oán chạ thù vơ.

39. Trái oan nào khác mối tơ,

Rối rồi không gỡ, bao giờ cho ra.

Tính kế độc sâu: Toan tính những mưu kế sâu độc để hãm hại người.

Gổ ganh: Do ganh tị mà gây gổ.

Oán chạ thù vơ: Thù oán không có lý do chính đáng, thù oán một cách bừa bãi, bạ đâu thù oán đó.

Trái oan: Hay oan trái 冤 債 là món nợ của sự thù giận. Kiếp trước mình gây thù chuốc oán cho người khiến kiếp này phải mắc món nợ oan nghiệt, đó gọi là oan trái.

Theo thuyết luân hồi của đạo Phật thì kiếp trước làm một điều gì oan ức thì kiếp sau phải chịu trả một món nợ lại để đền trả điều mình đã làm.



Mối tơ: Đầu mối của sợi dây tơ.

Câu 37: Trong dạ đừng nên toan tính những mưu kế sâu độc.

Câu 38: Mà gây gổ với người vì ganh tị hay thù oán nhỏ nhặt không chính đáng

Câu 39 và 40: Điều oan trái chẳng khác nào những cuộn dây tơ, nếu để mối tơ bị rối thì gỡ bao giờ cho ra.

Những oan nghiệt và mầm ác mà con người sống ở thế gian đã gây ra, tạo thành những sợi dây vô hình ràng buộc lẫn nhau, trở thành oan gia trái chủ.

Vì thế, người ta thường ví trái oan trong nhiều kiếp như cuộn dây tơ chằn chịt, nên gỡ mối chớ không nên kết, vì càng kết lại càng thêm rối, càng sinh oan trái, càng tạo ra khổ đau, phiền não. Rồi cứ oan oan tương báo, không bao giờ dứt được. Sách có nói “oan gia nghi giải bất nghi kết 冤 家 宜 解, 不 宜 結”.

Ông Thái Công cũng dạy rằng: Khuyên người chớ nên gieo thù kết oán, thù thâm thì khó giải cho ra lắm. Thù kết một ngày mà thành, thì dù ngàn năm mở cũng không dứt (Khuyến quân mạc kết oan, oan thâm nan giải kết. Nhứt nhựt kết thành oan, thiên nhựt giải bất triệt 勸 君 莫 結 冤, 冤 深 難 解 結. 一 日 結 成 冤, 千 日 解 不 徹).

Lời Lục trong sách Cảnh Hành cũng viết: Kết oán gây thù với người dọc đường đi có thuở gặp chỗ hiểm khó tránh cho khỏi (Thù oan mạc kết: Lộ phùng hiểm xứ nan hồi tị 讎 冤 莫 結, 路 逢 險 處 難 迴 避).
41. Thấy hình khổ dạ ta đâu nỡ,

Khuyên làm lành trừ đỡ tội căn.

43. Quấy rồi phải biết ăn năn,

Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà.

Hình khổ: Hay Khổ Hình 苦 刑, tức là hình phạt khổ sở.

Thấy hình khổ: Xem thấy hình phạt khổ sở.

Dạ ta đâu nỡ: Lòng dạ của ta không thể chịu nổi, không đành chịu nổi.

Trừ đỡ: Tiêu trừ bớt.

Tội căn 罪 根: Tội lỗi gây ra từ kiếp trước tạo nên gốc rễ để quả báo trong hiện kiếp.

Quấy rồi: Đã làm điều sái quấy rồi.

Ăn năn: Hối hận về việc mình đã làm.

Nhân hậu 仁 厚: Nhân là lòng thương người. Hậu là dày, tốt. Nhân hậu là ăn ở với mọi người hết lòng thương, thương đến nơi đến chốn.

Chế răn: Kềm chế và răn dạy những điều sái quấy.

Lòng tà: Lòng dạ không ngay thật, lòng dạ gian xảo.

Câu 41: Thấy người ta bị khổ hình, lòng dạ chúng ta không đành chịu nổi.

Câu 42: Khuyên họ hãy lo làm lành để được giảm bớt tội căn.

Câu 43: Khi làm những việc sái quấy rồi, phải biết ăn năn hối ngộ.

Câu 44: Ăn ở với bất cứ ai cũng phải nhân từ và phải tự kềm chế, răn cấm lòng tà vạy.

Con người sống ở thế gian, ai cũng phải có lỗi, song khi hiểu được đó là việc làm sái quấy thì phải biết ăn năn sám hối, để chừa bỏ những hướng sai lầm hầu trở về với nẻo chánh đường chơn:



Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,

Biết lạc lầm sám hối tội căn

Ăn năn, sám hối không phải là xin tội suông với Trời Phật, cũng không phải là bày lễ tụng niệm suông trước Chánh điện hay Thiên bàn Đức Chí Tôn, mà phải kết hợp sự quán chiếu tự tâm và phát nguyện cố gắng dứt trừ những tội quá để không lập lại những hành động, những lời nói đáng tiếc xảy ra nữa.

Ngoài ra chúng ta còn phải trau giồi lòng nhơn hậu, lòng bác ái, làm những việc thiện lành để trừ bớt tội lỗi và giới răn lòng quấy quá dại tà của mình đi, có như vậy việc sám hối mới có ý nghĩa và ích lợi cho bản thân.
45. Hãy có dạ kỉnh già thương khó,

Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.

47. Xót thương đến kẻ tật nguyền,

Đỡ nâng yếu thế binh quyền mồ côi.

Kỉnh già thương khó: Kính trọng người già cả, thương xót người nghèo khó.

Lấp ngõ: Làm bít đường, che lấp mất ngõ đi.

Tài hiền: Hay hiền tài 賢 才, là người có tài có đức.

Lấp ngõ tài hiền: Che lấp, ngăn chận không cho người tài đức tiến thân, yểm tài của người.

Phàm con người ta có tính “tốt thì khoe, xấu thì che”, Nhưng khi thấy người khác có điều gì hay tốt, đáng lý phải nêu danh, hay giới thiệu cho mọi người cùng biết, đàng này lại giấu đi, bưng bít, ấy là che cái hay tốt của người hiền vậy. Đức Khổng Tử có dạy: Giấu cái lành của người ta thì gọi là che bậc hiền tài vậy (Nặc nhơn chi thiện sở vị tế hiền 匿 人 之 善 所 謂 蔽 賢).

Mạnh Tử cũng nói rằng: “Nói mà không chân thật, thì có sự tai hại, thực tai hại là những lời nói làm che lấp bậc hiền tài, khiến cho không tiến đạt được” (Ngôn vô thực bất tường, bất tường chi thực, tế hiền giả đương chi 言 無 實 不 祥, 不 祥 之 實 蔽 賢 者 當 之).

Tật nguyền: Tật 疾 là trong cơ thể có một bộ phận nào bị hư hỏng: Què, đui, câm, điếc...Tật nguyền: Người bị tàn tật.

Đỡ nâng yếu thế: Nâng đỡ những người yếu thế, người cô thế, người bị bức hiếp.

Binh quyền: Binh vực quyền lợi.

Mồ côi: Người lẻ loi một mình, không con cái, không bà con thân thuộc.

Câu 45: Phải có lòng kính trọng người già cả, thương xót người nghèo khó.

Câu 46: Đừng nên che lấp, yểm tài những người có tài có đức.

Câu 47: Phải biết thương xót đến những người tàn tật, đau yếu.

Câu 48: Nâng đỡ những kẻ yếu thế bị hiếp đáp và binh vực quyền lợi những người cô thế.

Con người sống ở thế gian, ai cũng đều bẩm thụ chơn linh của Đức Thượng Đế, cũng đồng là con cái của Người, có điều vì nghiệp lực nặng nhẹ, nhơn quả sâu cạn mà mỗi con người phải mang một thân phận khác nhau: Người thì đui mù, tàn tật, kẻ lại ương yếu, neo đơn.

Do vậy, người tu hành không thể sống một cuộc sống khép kín, nhắm mắt hay không quan tâm trước những nỗi khó khăn, đau khổ của những người chung quanh, nhất là đối với những người sống thua thiệt trong xã hội như người khuyết tật, mồ côi…Để thể hiện lòng từ bi của Đức Chí Tôn, người tín hữu phải biết yêu thương mọi người từ những giới tật nguyền, cô độc đến những người chịu sự bất công thua thiệt trong cộng đồng nhơn loại để đem lại sự bình đẳng trên thế gian này.
49. Làm con phải trau dồi hiếu đạo,

Trước là lo trả thảo mẹ cha.

51. Lòng thành thương tưởng ông bà,

Nước nguồn cây cội mới là tu mi.

Trau giồi: Trau chuốc giồi mài, hay rèn luyện một việc gì, một tính đức gì.

Hiếu 孝: Hết lòng thờ phụng, chăm sóc cha mẹ.

Đạo 道: Phép tắc mà con người có bổn phận phải gìn giữ và tuân theo.

Hiếu đạo 孝 道: Bổn phận con cái ăn ở có hiếu với cha mẹ.

Trả thảo: Người con lấy sự hiếu thảo báo đáp lại cha me.

Lòng thành: Do chữ thành tâm 誠 心 là lòng thành thật.

Trong việc xử thế của con người điều trước tiên phải có lòng thành. Lòng thành là thể hiện sự thành thật của chính cá nhân mình đối với mọi người trong xã hội.

Mạnh Tử 孟 子 nói về đức “thành” như sau: Thành thực là cái Đạo của Trời, luyện tập để nên thành thực là cái Đạo của người. Hễ chí thành mà không cảm được thiên hạ, thì chưa hề có; không thành thực thì chẳng cảm động được ai cả. (Thành giả, thiên chi đạo dã, tư thành giả, nhân chi đạo dã. Chí thành nhi bất động giả, vị chi hữu dã; bất thành vị hữu năng động giả dã 誠者, 天 之 道 也, 思 誠 者, 人 之 道 也, 至 誠 而 不 動 者, 未 之 有 也, 不 誠 未 有 能 動 者 也).

Thương tưởng ông bà: Thương kính và tưởng nghĩ đến ông bà. Khi Ông bà đã mất thì phải phụng thờ, tưởng niệm.

Nước nguồn: Do chữ thủy nguyên 水 源 là dòng nước từ nguồn chảy ra.

Cây cội: Do chữ mộc bổn 木 本 là cây từ gốc, cội sinh ra.

Nước nguồn cây cội: Do thành ngữ Hán Việt “Mộc bổn thủy nguyên 木 本 水 源”, tức là nước có nguồn, cây có cội. Nghĩa bóng: Con người có cha mẹ ông bà. Ý nói phải nhớ đến nguồn gốc của mình.

Tu mi 鬚 眉: Tu là râu. Mi là lông mày. Tu mi: Râu và lông mày, chỉ người đàn ông, con trai.

Câu 49: Bổn phận làm con phải biết trau giồi lòng hiếu thảo đối với cha mẹ.

Câu 50: Trước là lo báo đáp công ơn cha mẹ bằng cách hiếu thảo cùng người.

Ở cõi thế gian này, bất cứ một tôn giáo nào cũng đều dạy con người phải hiếu thảo với cha mẹ, ông bà. Nho giáo được xem như là một Đạo dạy về nhơn luân đạo đức, hay nói cách khác, là một đạo thờ cúng Tổ tiên ông bà, lấy hiếu làm đầu trong trăm nết (Hiếu vi bách hạnh chi tiên 孝 為 百 行 之 先).

Sách Hiếu Kinh cũng viết: Hiếu là Đạo thường của Trời, lẽ phải của Đất (Hiếu giả Thiên chi kinh dã, địa chi nghĩa dã 孝 者, 天 之 經 也, 地 之 義 也).

Đạo hiếu là đầu mối trước nhứt của Nho giáo, nên trong sự giáo hóa, Khổng Tử lấy Hiếu Đễ là một nết rất quan trọng trong trăm nết. Ngài dạy rất kỹ lưỡng về việc hiếu với cha mẹ, ông bà. Theo Ngài, người có hiếu không phải nuôi dưỡng cha mẹ là đủ, mà còn phải có lòng kính. Điều nầy Ngài dạy Tử Du như sau: Cái hiếu ngày nay, người ta cho rằng chỉ có thể nuôi dưỡng cha mẹ, đến như loài chó ngựa đều có người nuôi, nuôi mà không kính thì lấy gì để phân biệt? (Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng, chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ? 今 之 孝 者, 是 謂 能 養, 至 於 犬 馬, 皆 能 有 養, 不 敬 何 以 別 乎).

Ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ, Ngài còn dạy chi ly về việc hiếu như phải quan tâm, lo lắng cha mẹ, làm vui lòng cha mẹ, không đi chơi xa khi cha mẹ còn sống, có đi xa phải cho cha mẹ biết chỗ đi: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương 父 母 在, 不 遠 遊, 遊 必 有 方”. Ngoài ra làm người con hiếu cũng phải biết nối chí của cha mẹ, khéo noi theo việc làm của cha mẹ: “Phù hiếu giả thiện kế nhân chi chí, thiện thuật nhân chi sự giả dã 夫 孝 者 善 繼 人 之 志, 善 述 人 之 事 者 也”. Qua câu này, Ngài lấy chữ thiện là khéo để dạy rằng hễ điều hay của cha mẹ thì nên theo, điều dở nên bỏ, chứ không phải theo một cách mù quán.

Ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ sâu nặng như vậy, người con hiếu thảo phải ở với cha mẹ hết lòng tôn kính, nuôi cha mẹ thì hết lòng vui vẻ, cha mẹ đau ốm thì hết lòng lo, cha mẹ mất, cư tang thì phải hết lòng xót thương, khi tế tự thì nghiêm trang hết mực (Hiếu tử chi sự thân, cư tắc trí kỳ kính, dưỡng tắc trí kỳ lạc, bệnh tắc trí kỳ ưu, tang tắc trí kỳ ai, tế tắc trí kỳ nghiêm 孝 子 之 事 親, 居 則 致 其 敬, 養 則 致 其 樂, 病 則 致 其 憂, 喪 則 致 其 哀, 祭 則 致 其 嚴).



Câu 51: Làm con người phải có lòng thành thưởng tưởng đến ông bà.

Câu 52: Biết được cây có cội nước có nguồn mới gọi là đấng tu mi (râu mày).

Nho giáo rất trọng việc phụng tự ông bà, phong tục Việt Nam cũng vậy, rất sùng thượng thờ cúng ông bà tổ tiên. Việc thờ cúng ông bà là việc tốt đẹp, đáng quí trọng, nên coi là một nghĩa vụ của con cháu, vì nó thể hiện tính “uống nước nhớ nguồn”, nói lên cái lòng bất vong bản.

Người bình dân Việt Nam cũng tưởng nhớ đến ông bà qua câu ca dao sau đây:

Con người có tổ có tông,

Như cây có cội, như sông có nguồn.

Trong sách Lễ Ký có nói rằng: Toàn thể vạn vật nương nhờ căn bản nơi Trời là Đấng tạo Thiên lập Địa, còn toàn thể nhơn loại nương nhờ căn bản nơi Tổ tiên là bậc khai sáng ra dòng giống (Vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ 物 本 乎 天, 人 本 乎 祖). Triết lý Cao Đài cũng cho rằng nguồn cội của con người gồm hai phần, phần hữu hình, gần gũi nhứt là cha mẹ, ông bà đã sinh ra hình hài xác thịt; phần vô vi, không thấy được, phải suy luận mới nhận biết, đó là Đức Thượng Đế đã ban cho một Chơn linh để con người có sự sống, sự hiểu biết và sự khôn ngoan.


53. Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,

Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.

55. Ở sao đáng phận đạo dâu,

Thờ chồng tiết hạnh mới hầu gái ngoan.

Giá trong sạch: Trong sạch như băng giá. Chỉ người đàn bà có chồng giữ lòng ngay thẳng, trong sạch với người chồng.

Nữ nhi 女 兒: Chỉ chung tất cả người đàn bà con gái.

Trượng tiết: Hay trọng tiết 重 節. Trọng là coi trọng, coi nặng. Tiết là khí tiết, lòng dạ ngay thẳng cứng cỏi. Trượng tiết: Coi trọng cái khí tiết hay tiết hạnh của mình.

Giữ cho tròn: Giữ cho tròn vẹn, giữ vẹn.

Trinh liệt 貞 烈: Trinh trung trinh, lòng ngay thẳng. Liệt là cứng cỏi, không khuất phục.

Trinh liệt: Một lòng ngay thẳng, trung thành với vua với nước, hoặc đàn bà giữ lòng trong trắng, ngay thẳng với chồng.

Mới mầu: Mới tài giỏi, mới cao siêu.

Đáng phận đạo dâu: Xứng đáng với phận làm dâu con theo đạo lý.

Thờ chồng: Do chữ sự phu 事 夫, tức là khi chồng chết phải gìn giữ tiết hạnh mà thờ chồng theo đạo lý của Nho giáo. Đạo thờ chồng là đạo tùng phu và tùng tử.

Đức Khổng Tử dạy như sau: Đàn bà thì nương dựa ở người, cho nên không có phép tự chuyên làm lấy một mình, mà có đạo tam tùng là: Còn ở nhà thì theo lịnh cha, có chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con (Phụ nhân phục ư nhân dã, thị cố vô chuyên chế chi nghĩa. Hữu tam tùng chi đạo: Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử 婦 人 伏 於 人 也, 是 故 無 專 制 之 義. 有 三 從 之 道: 在 家 從 父, 出 嫁 從 夫, 夫 死 從 子).



Tiết hạnh 節 行: Tiết là những gì mà con người phải giữ để bảo vệ thanh danh. Hạnh là nết na. Tiết hạnh: Tính nết người đàn bà con gái biết giữ gìn trong sạch.

Mới hầu: Mới mong.

Câu 53: Làm người đàn bà phải coi trọng tiết hạnh bằng cách giữ giá sạch tiết trong.

Câu 54: Phải giữ sao cho trọn vẹn lòng trong trắng ngay thẳng với chồng mới gọi là đàn bà tài giỏi.

Câu 55: Người đàn bà có chồng ăn ở sao cho xứng đáng bổn phận của người con dâu.

Câu 56: Khi chồng chết, người đàn bà phải gìn giữ trinh tiết để thờ chồng, đó mới gọi là gái ngoan.

Đức hạnh của người phụ nữ là một nết được người ta quý trọng nhứt trong tứ đức: Công, dung, ngôn, hạnh. Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu có câu:



Trai thời trung hiếu làm đầu,

Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

Đối với người phụ nữ có đạo, sau khi lập gia đình rồi thì phải giữ tròn bổn phận dâu con và thuận với thân tộc bên nhà chồng. Người ta cho rằng người đàn bà hiền thục thì hòa với sáu thân (Hiền phụ hòa luc thân 賢 婦 和 六 親). Còn với chồng thì thủy chung như nhứt, giữ gìn tiết sạch giá trong để bảo vệ hạnh phúc gia đình.

Khi chồng chết, theo Đạo Nho, phải giữ tiết hạnh mà thờ chồng. Tỷ như câu chuyện: “Vương Ngưng thê bị khiên, đoạn tý đầu địa 王 凝 妻 被 牽, 斷 臂 投 地” (Vợ Vương Ngưng bị kéo tay, tự chặt lìa xuống đất).

Sách Ngũ Đại chép: Vương Ngưng là quan Tư hộ đất Quát Châu, gặp tai nạn mà chết, vợ ông là Lý Thị, dắt con, mang thi hài về quê, giữa đường vào xin nghỉ đêm, người chủ nhà háo sắc, kéo tay bà vô phòng. Lý Thị khóc rống, cho rằng cánh tay bà đã chịu nhục, bèn lấy búa chặt đứt lìa cánh tay ấy. Quan Phủ doãn Khai Phong nghe được chuyện, kêu bà Lý Thị để khen và hậu đãi, và ra lịnh đánh đòn người chủ nhà đó.


57. Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,

Không kiêng chồng khi dể công cô.

59. Ấy là những gái hung đồ,

Xúi chồng tranh cạnh hồ đồ sân si.

Đừng có cậy giàu sang: Đừng có ỷ lại mình là người giàu có, sang trọng.

Kiêng: Nể sợ.

Công cô 公 姑: Cha mẹ. Ở đây chỉ cha mẹ của chồng. Công là cha chồng. Cô là mẹ chồng.

Hung đồ 凶 徒: Bọn hung dữ.

Tranh cạnh: Hay cạnh tranh 競 爭: Giành giật nhau.

Hồ đồ 糊 涂: Việc không biết được rõ ràng. Hồ đồ còn có nghĩa là không hiểu được việc rõ ràng mà hấp tấp làm.

Trong Sử Ký 史 記 viết: “Lư Đoan tiểu sự hồ đồ nhi đại sự bất hồ đồ 盧 端 小 事 糊 涂 而 大 事 不 糊 涂” (Lư Đoan chỉ hồ đồ việc nhỏ nhưng không hồ đồ việc lớn).



Sân si 嗔 癡: Sân là giận. Si là mê muội. Sân si là giận dữ và si mê.

Câu 57: Đừng có ỷ lại mình là người giàu sang mà không nể sợ ai.

Câu 58: Không kiêng sợ chồng lại khi dể cha mẹ chồng

Câu 59: Ấy là những người con gái hung dữ, chẳng kể việc phải quấy.

Câu 60: Xúi giục chồng giành giựt, mê muội mà làm việc càn bậy.
61. Tánh ngoan ngạnh không vì cô bác,

Thói lăng loàn bạn tác khinh khi.

63. Ngày sau đọa chốn âm ty,

Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.

Ngoan ngạnh 頑 硬: Ngoan là ngang bướng. Ngạnh là cứng đầu. Ngoan ngạnh: Cứng đầu bướng bỉnh, làm càn bậy không chịu nghe theo lẽ phải.

Bạn tác: Bạn cùng trang lứa, bạn bè ngang nhau.

Âm ty 陰 司: Âm thuộc về người chết. Ty là nơi làm việc của quan.

Âm ty: Hay Âm phủ, Phong đô, Địa ngục, A tỳ là chỉ nơi giam cầm và trừng trị các tội hồn gây nhiều ác nghiệp lúc còn sống nơi thế gian.

Âm ty hay Địa ngục là nơi giam giữ và trừng phạt các vong hồn tội lỗi do lúc sinh tiền vì vô minh mà tạo ra bằng các hành động hung ác, tội lỗi, chứ không ai tạo ra hết. Địa ngục do mình tạo thì mình có thể giải thoát cho mình. Chỉ có trí huệ của con người chúng ta mới có thể xa rời Địa ngục, đưa con người sống an nhàn tự tại trên cõi Vĩnh hằng.

Bà Bát Nương Diêu Trì Cung giảng về cõi Âm quang có nói rằng: khiếm khuyết ánh sáng thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Địa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu.

Vậy thì chính lời nhiều tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm quang, đặng sửa chữ Phong đô, Địa phủ của mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để các Chơn hồn giải thân định trí”.

Bà Thất Nương lại dạy rằng: “Vậy thì nơi ấy là nơi xét mình. Chớ chi cả nhơn sanh



tải về 1.01 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương