ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


THIÊN THỨ NHỨT I.-KINH VĂN: KINH SÁM HỐI (1)



tải về 1.01 Mb.
trang2/12
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích1.01 Mb.
#3276
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12

THIÊN THỨ NHỨT



I.-KINH VĂN:

KINH SÁM HỐI (1)

Cuộc danh lợi là phần thưởng quí,

Đấng Hóa Công xét kỹ ban ơn.

Lòng đừng so thiệt tính hơn,

Ngày đêm than thở dạ hờn ích chi.

Người sang cả là vì duyên trước,

Kẻ không phần luống ước cầu may.

Sang giàu chẳng khác như mây,

Khi tan khi hiệp đổi xây không thường.

Việc sanh tử như dường chớp nháng,

Bóng quang âm ngày tháng dập dồn.

Giữ cho trong sạch linh hồn,

Rèn lòng sửa nết đức tồn hậu lai.

Điều họa phước không hay tìm tới,

Tại mình dời nên mới theo mình.

Cũng như bóng nọ tùy hình,

` Dữ lành hai lẽ công bình thưởng răn.

Khi vận thới lung lăng chẳng kể,

Lúc suy vi bày lễ khẩn cầu.

Sao bằng ở phải buổi đầu,

Thần minh chánh trực có đâu tư vì.

Người làm phước có khi mắc nạn,

Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang.

Ấy là nợ trước còn mang,

Duyên kia chưa dứt còn đang thưởng đền.

Nếu vội trách người trên thì đọa,

Cũng có khi tai họa trả liền

Đó là báo ứng nhãn tiền,

Mau thì mình chịu lâu truyền cháu con.

Lo danh vọng hao mòn thân thể,

Ham làm giàu của để bằng non.

Một mai nhắm mắt đâu còn,

Đem vàng chuộc mạng đổi lòn đặng chăng.

Trên đầu có bủa giăng Thần, Thánh,

Xét xem người tánh hạnh dữ hiền.

Làm lành đặng hưởng phước duyên,

Trong lòng nham hiểm lộc quyền giảm thâu.

Đừng tính kế độc sâu trong dạ,

Mà gổ ganh oán chạ thù vơ.

Trái oan nào khác mối tơ,

` Rối rồi không gỡ, bao giờ cho ra.

Thấy hình khổ dạ ta đâu nỡ,

Khuyên làm lành trừ đỡ tội căn.

Quấy rồi phải biết ăn năn,

Ở cho nhân hậu chế răn lòng tà.

Hãy có dạ kỉnh già thương khó,

Chớ đem lòng lấp ngõ tài hiền.

Xót thương đến kẻ tật nguyền,

Đỡ nâng yếu thế binh quyền mồ côi.

Làm con phải trau dồi hiếu đạo,

Trước là lo trả thảo mẹ cha.

Lòng thành thương tưởng ông bà,

Nước nguồn cây cội mới là tu mi.

Giá trong sạch nữ nhi trượng tiết,

Giữ cho tròn trinh liệt mới mầu.

Ở sao đáng phận đạo dâu,

Thờ chồng tiết hạnh mới hầu gái ngoan.

Đừng có cậy giàu sang chẳng nể,

Không kiêng chồng khi dể công cô.

Ấy là những gái hung đồ,

Xúi chồng tranh cạnh hồ đồ sân si.

Tánh ngoan ngạnh không vì cô bác,

Thói lăng loàn bạn tác khinh khi.

Ngày sau đọa chốn âm ty,

Gông kềm khảo kẹp ích gì rên la.

Người tai mắt đạo nhà khá giữ,

Nghĩa anh em cư xử thuận hòa.

Vẹn tròn đạo cả giềng ba,

Kính anh mến chị thì là phận em.

Trên thương dưới xét xem kẻ nhỏ,

Lúc lâm nàn chớ bỏ tránh xa.

Cũng là một gốc sanh ra,

Gồm bao nâng đỡ ruột rà thương nhau.

Người trung trực lo âu nợ nước,

Hưởng lộc vua tìm chước an bang.

Chớ làm con giặc tôi loàn,

Thuế sưu đóng đủ đừng toan kế tà.

Phận làm tớ thật thà trung tín,

Với chủ nhà trọn kính trọn ngay.

Áo cơm no ấm hằng ngày,

Của người châu cấp ơn dày nghĩa sâu.

Đừng gặp việc câu mâu biếng nhác,

Mà quên lời phú thác dặn dò.

Trước người giả bộ siêng lo,

Sau lưng gian trá so đo tấc lòng.

Phải chừa thói loài ong tay áo,

Bớt học đòi khỉ dạo dòm nhà.

Gìn lòng ngay thẳng thật thà,

Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn.

Chớ quyệt ngữ mà khinh kẻ dại,

Đừng gian mưu hãm hại người hiền.

Anh em bằng hữu kết nguyền,

Một lòng tin cậy phải kiêng phải vì.

Chớ thấy khó mà khi mà thị,

Gặp người giàu mà vị mà nâng.

Dầu khi gặp lúc gian truân,

Cũng đồng giúp ích chớ đừng mặt ngơ.

Làm người phải kỉnh thờ Thần, Thánh.

Giữ lời nguyền tâm tánh tưởng tin,

Hễ là niệm Phật tụng kinh

Rèn lòng sửa nết khá in như nguyền.

Chừa thói xấu đảo điên trong dạ

Muôn việc chi chẳng khá sai lời

Dối người nào khác dối Trời,

Trời đâu dám dối ra đời ngỗ ngang.

Chớ lầm tưởng trong hang vắng tiếng.

Mà dể duôi sanh biến lăng loàn,

Con người có trí khôn ngoan,

Tánh linh hơn vật biết đàng lễ nghi,

Phải cho biết kỉnh vì trên trước

Đừng buông lời lấn lướt hồ đồ

Thuận cùng chú bác cậu cô,

Bà con chòm xóm ra vô khiêm nhường.

Thấy già yếu hẹp đường nhượng tránh

Đừng chỗ đông buông tánh quá vui

Cợt người ra dạ dể duôi,

Sanh điều chích mích đâu nguôi dạ hờn.

Khi tế tự chớ lờn chớ dể

Việc quan, hôn thủ lễ nghiêm trang

Gìn lòng chẳng khá lăng loàn.

Lễ nghi vẹn giữ vững vàng chớ quên.

Giàu sang ấy Ơn Trên giúp sức.

Phước ấm no túc thực túc y.

Thấy người gặp lúc tai nguy,

Ra tay tế độ ấy thì lòng nhơn.

Thương đồng loại cũng hơn thí bạc,

Thấy trên đường miểng bát, miểng chai,

Hoặc là đinh nhọn, chông gai,

Mau tay lượm lấy đoái hoài kẻ sau.

Ấy làm phước khỏi hao khỏi tốn

Chẳng có đâu mòn vốn thâm tiền

Bắc cầu đắp sửa đường liền,

Kẻ qua người lại bước yên gọn gàng.

Thi ân hậu bạc ngàn khó sánh,

Rán tập thành sửa tánh từ hòa.

Việc lành chẳng khá bỏ qua,

Tuy là nhỏ nhít cũng là công phu.

Năng làm phải, nhựt nhu ngoạt nhiễm,

Lâu ngày dồn tính đếm có dư.

Phước nhiều tội quá tiêu trừ,

Phép Trời thưởng phạt không tư chẳng vì.

Thấy lỗi mọn chớ nghi chẳng hại,

Thường dạn làm tội lại hằng hà.

Vì chưng tựu thiểu thành đa,

Họa tai báo ứng chẳng qua mảy hào.

Giữa bụi thế giữ sao khỏi vấy

Biết ăn năn xét lấy sửa lòng.

Làm người nhơn nghĩa xử xong

Rủi cho gặp lúc long đong chẳng sờn.

Hễ biết nghĩa thọ ơn chẳng bội

Giúp cho người chớ vội khoe ra,

Việc chi cũng có chánh tà,

Làm điều phải nghĩa lánh xa vạy vò.

Khi gặp chuyện khá dò xét cạn,

Liệu sức mình cho hẳn sẽ làm,

Chớ đừng thấy của dấy tham,

Giục người làm quấy ắt cam đồng hình.

Ở ngay thẳng Thần minh bảo hộ,

Nết xéo xiên gặp chỗ rạc tù,

Trong đời rất hiếm võ phu,

Lường cân, tráo đấu, dối tu cúng chùa.

Còn hoi hóp tranh đua bay nhảy,

Nhắm mắt rồi phủi thảy lợi danh.

Lương tâm thường xét cho rành,

Của không phải nghĩa chớ sanh lòng tà.

Người quân tử chẳng thà chịu khổ,

Đâu làm điều nhục tổ hổ tông?

Đứa ngu thấy của thì mong,

Không gìn tội lỗi phép công nước nhà.

Bày chước độc, xúi ra việc quấy,

Tổn cho người mà lấy lợi riêng.

Hễ nghe khua động đồng tiền,

Sửa ngay làm vạy không kiêng chút nào.

Người nghèo khổ biết sao than kể,

Kẻ lễ nhiều cậy thế ỷ quyền,

Làm quan tính kế đảo điên,

Gạt thâu gia sản, đất điền của dân.

Thả tôi tớ thôn lân húng hiếp,

Bức gái lành, ép thiếp đòi hầu,

Trong lòng mưu chước rất sâu,

Mai sau suy sụp đáo đầu ra chi.

Gái xướng kỵ, trai thì du đảng,

Phá tan hoang gia sản suy vi.

Làm người phải khá xét suy,

Của rơi chớ lượm, tham thì phải thâm.

Còn một nỗi gian dâm đại tội,

Lấy vợ người làm lỗi tiết trinh.

Tuy là Trời Đất rộng thinh,

Mắt dường sao nháy chiếu minh lòng người.

Lương tâm biết hổ ngươi chừa lỗi,

Mới biệt phân sừng đội lông mang

Việc lành, việc dữ đồn vang

Tuy là bóng khuất xương tan tiếng còn.

Gái tiết hạnh giữ tròn danh giá,

Chớ học đòi mèo mả gà đồng.

Làm điều nhục nhã tổ tông,

Tiếng nhơ giặt rửa biển sông đặng nào.

Trai trung hiếu sửa trau ba mối,

Đừng buông lung lầm lỗi năm hằng

Hung hoang tội báo nghiệt căn,

Kẻ chê người thị không bằng cỏ cây.

Thà tiết kiệm hằng ngày no đủ,

Tánh siêng năng lam lũ làm ăn.

Lòng chừa biếng nhác kiêu căng

Của tiền lãng phí không ngằn phải tiêu.

Lòng Trời Đất thương đều muôn vật,

Đức háo sanh Tiên, Phật một màu.

Thượng cầm hạ thú lao xao,

Côn trùng thảo mộc loài nào chẳng linh.

Nó cũng muốn như mình đặng sống,

Nỡ lòng nào tuyệt giống dứt nòi.

Bền công kinh sách xem coi,

Vô can sát mạng thiệt thòi rất oan.

Chớ kiếm thế gọi ngoan xảo trá,

Lưới rập chim, thuốc cá, đốt rừng

Thương thay phá noãn lẫy lừng,

Tội căn báo ứng biết chừng nào an.

Lại có kẻ hung hoang ác nghiệt,

Cướp giựt rồi chém giết mạng người

Đoàn năm, lũ bảy dạo chơi,

Hiếp người lương thiện, phá đời hại dân.

Tua khá tưởng thương lần nòi giống

Hãy xét vì mạng sống khó cầu.

Cũng đừng bài bạc lận nhau,

Rủ ren rù quến, lấy xâu ăn đầu.

Phải hiểu biết máy sâu họa kín,

Thánh, Thần đâu tư lịnh bỏ qua.

Thường ngày tuần khắp xét tra,

Phạt người hung ác đọa sa A Tỳ.

Sống dương thế hành thì căn bịnh,

Xui tai nàn dấp dính theo mình.

Ăn năn khử ám hồi minh,

Từ bi Trời Phật rộng tình xét cho.

Đừng cố oán thầm lo gây họa,

Đem lòng thù hăm dọa rắp đường.

Đốt nhà, tháo cống, phá mương,

Nước tràn lụt ngập ruộng vườn tan hoang.

Thêm liều mạng đặng toan đổ tội,

Cho người hiền chịu lỗi vương mang.

Khi hồn lìa khỏi trần gian,

Hóa ra ngạ quỉ cơ hàn khổ thân.

Đời nhiều kẻ khi Thần, thị Thánh,

Ám muội lòng tánh hạnh gổ ganh

Thấy ai làm phải làm lành,

Xiểm gièm cho đặng khoe danh của mình.

Lại còn có tánh tình hiểm độc,

Xúi phân chia thân tộc ruột rà.

Làm cho chồng vợ lìa xa,

Cả đời nghiệt báo oan gia chẳng rời.

Muốn tránh đặng khỏi nơi tội quá,

Lánh kẻ tà chẳng khá nên gần.

Thí tiền, thí bạc, chẩn bần,

Người đau thí thuốc, Thánh, Thần phước ban.

Đêm thanh vắng chớ toan mưu dối,

Xúi trẻ thơ lầm lỗi ngỗ ngang.

Âm đài gông tróng sẵn sàng,

Chờ khi thác xuống cổ mang hành hình.

Các thơ truyện huê tình xé hủy,

Kẻo để đời làm lụy luân thường

Nói lời tục tĩu không nhường,

Tội hành cắt lưỡi trăm đường ghê thay!

Lại có kẻ miệng ngay lòng vạy

Tởi làm chùa, dối cậy in kinh.

Ăn gian xớt bớt cho mình,

Dầu qua dương pháp, luật hình Diêm vương.

Thêm những sãi giả nương cửa Phật,

Của thập phương châu cấp thê nhi.

Ngày sau đọa lạc Âm ty,

Thường thường khảo kẹp chẳng khi nào rời.

Thấy giấy chữ rớt rơi lượm lấy,

Đốt ra tro bỏ chảy dòng sông.

Thủy triều vận tải biển đông,

Lòng hằng dường ấy phước đồng ăn chay.

Chịu cực khổ đắng cay biết mấy,

Cuốc, cày, bừa, gieo, cấy, gặt, đong.

Làm ra lúa gạo dày công,

Dầm mưa dan nắng kẻ nông nhọc nhằn.

Nhờ Viêm Đế đức cao ơn nặng,

Tìm lúa khoai người đặng no lòng.

Ngày ngày vọng niệm chớ vong,

Chẳng nên hủy hoại mới phòng khỏi hoang.

Chớ hiểm độc dạ lang lần lựa

Nhơn thất mùa bế dựa gắt gao.

Chờ khi lúa phát giá cao,

Khai ra bán mắc Trời nào dung cho.

Ơn trợ giúp khá lo đền báo,

Giữ vẹn tròn nghĩa đạo với đời

Túng cùng vay mượn của người,

Vui lòng tính trả vốn lời cho kham.

Chớ oán chạ tham lam ngược ngạo,

Bội nghĩa ân trở tráo chước sâu.

Luân hồi thưởng phạt rất mầu,

Chuyển thân tái thế ngựa trâu công đền.

Người phú túc vun nền âm đức,

Lấy lòng nhơn giúp sức trợ nghèo.

Chớ sanh chước hiểm hẹp eo

Lời tăng quá vốn kẻ nghèo xiết than.

Làm mặt phải bạc ngàn cúng Phật,

Ép kẻ nghèo cố đất cầm vườn.

Phật Trời nhơn vật đồng thương,

Có đâu hưởng của bất lương mà mời.

Phận làm chủ lấy lời nhỏ nhẹ,

Mà nghiêm trừng mấy kẻ tôi đòi.

Đừng lòng nham hiểm hẹp hòi,

Buông lời chửi rủa đòn roi không từ.

Tánh độc ác tội dư tích trữ,

Chốn Âm cung luật xử nặng nề.

Đánh đòn khảo kẹp gớm ghê,

Hành hình khổ não chẳng hề nới tay.

Miền Âm cảnh nhiều thay hình lạ,

Cõi dương trần tội quá dẫy đầy.

Thánh hiền kinh sách dạy bày,

Lòng người ám muội lỗi gây ra hoài.

Kẻ lỗ mãng chê bai khinh dể,

Rằng thác rồi còn kể ra chi.

Nhãn tiền trả quả tức thì,

Tội dư con cháu một khi đền bồi.

Chớ quấy tưởng luân hồi phi lý,

Mà hung hăng chẳng nghĩ chẳng suy.

Thi hài như gỗ biết gì,

Linh hồn là chủ thông tri việc đời.

Lúc chung mạng dứt hơi, hồn xuất

Quỉ vô thường sẵn chực đem đi.

Dắt hồn đến chốn Âm ty,

Xét xem công quả chẳng ly mảy hào.

Người lương thiện ra vào thong thả.

Kẻ tội nhiều đày đọa rất minh.

Phật, Trời phép lạ hiển linh,

Hành cho tan giác hườn hình như xưa.

Con bất hiếu xay cưa đốt giã,

Mổ bụng ra phanh rã tim gan.

Chuyển thân trở lại trần gian,

Sanh làm trâu chó đội mang lông sừng.

Kìa những gái lẫy lừng hạnh xấu,

Bỏ vạc đồng đốt nấu thảm kinh.

Vì chưng trinh tiết chẳng gìn,

Có chồng còn lại ngoại tình với trai.

Kẻ tham lợi cột mai cột mối,

Chuốt trau lời giả dối ngọt ngon.

Dỗ dành, rù quến gái non,

Làm hư hoại tiết cháu con nhà người.

Lòng lang độc vui cười hớn hở,

Chốn Diêm đình phạt quở trừng răn.

Gông kềm khảo kẹp lăng xăng,

Hành cho đáng kiếp tội căn đã làm.

Ngục đao kiếm cầm giam phạm ác,

Tánh gian dâm hành phạt gớm ghê.

Giáo gươm bén nhọn tư bề,

Chém đâm máu chảy tràn trề ngục môn.

Hành đến chết hườn hồn sống lại,

Cho đầu thai ở tại thanh lâu.

Ngày đêm đưa rước chực chầu,

Công bình Thiên Đạo phép mầu chí linh.

Móc nhọn vắt treo mình nhỏng nhảnh.

Cối đạp đồng rất mạnh giã dần.

Ấy là phạt kẻ lường cân,

Đo gian, đong thiếu, Thánh Thần chẳng kiêng.

Bầy chó dữ mang xiềng chạy đại,

Thấy tội nhơn xúm lại phân thây.

Hình nầy phạt kẻ dại ngây,

Khinh khi Tam giáo đọa đày thế ni.

Ao nước nóng sôi thì sục sục,

Dầm cho người rã rục thịt xương.

Cũng vì lòng dạ vô lương,

Đệ huynh bất mục chẳng thương đồng bào.

Nhiều gộp núi như đao chơm chởm,

Thấy dùn mình tán đởm rất ghê.

Thây người máu chảy dầm dề,

Tiếng la than khóc tư bề rùm tai.

Phạt những kẻ sửa ngay ra vạy,

Tớ phản thầy, quan lại bất trung.

Hành rồi giam lại Âm cung,

Ngày đêm đánh khảo trăng cùm xiềng gông.

Hình Bào lạc cột đồng vòi vọi,

Đốt lửa hồng ánh giọi chói lòa.

Trói người vào đó xát chà,

Vì chưng hung bạo đốt nhà bắn săn.

Có cọp dữ nhăn răng đưa vấu,

Gặp tội nhơn quào quấu xé thây.

Ấy vì lòng dạ chẳng ngay,

Giết người lấy của bị nay hình nầy.

Ao rộng lớn chứa đầy huyết phẩn

Xô người vào, lội lặn nhờm thay!

Tanh hôi mình mẩy vấy đầy,

Trồi lên hụp xuống gậy cây đánh đầu.

Để hành kẻ chứa sâu, lường của

Trù ếm người, chưởi rủa Tổ tông.

Đồ dơ giặt đổ rạch sông,

Đương khi uế trược thẳng xông chỗ thờ.

Vào bếp núc chỗ nhơ không kể,

Phơi áo quần chẳng nể Tam quan.

Buông lời tục tĩu dâm loàn,

Lâu mau, nặng nhẹ, chịu mang tội nầy.

Ao rộng sâu chứa đầy giòi tửa,

Hơi tanh hôi thường bữa lẫy lừng.

Gạo cơm hủy hoại quen chừng,

Phạt ăn dơ dáy mới ưng tội hình.

Cột trói ngược quá kinh rất lạ,

Quỉ Dạ xoa đánh vả kẹp cưa.

Vì chưng chưởi gió mắng mưa,

Kêu tên Thần, Thánh chẳng chừa chẳng kiêng.

Bàn chông nhọn liền liền đánh khảo,

Tra tội nhơn, gian giảo ngược ngang.

Hành người bế địch, trợ hoang,

Thừa năm hạn đói mưu toan bức nghèo.

Thành Uổng tử cheo leo gớm ghiếc,

Cầm hồn oan rên xiết khóc than.

Dương gian ngỗ nghịch lăng loàn,

Liều mình tự vận không màng thảo ngay.

Xuống Địa ngục đọa đày hành mãi,

Đúng số rồi còn phải luân hồi.

Hóa công xem xét đền bồi,

Lành siêu dữ đọa thêm nhồi tội căn.

Cầu Nại Hà bắc giăng sông lớn,

Tội nhơn qua óc rởn dùn mình.

Hụt chơn ván lại gập ghình,

Nhào đầu xuống đó cua kình rỉa thây.

Nhiều thứ rắn mặt mày dữ tợn,

Ngóng cổ trông mắt trợn dòm người.

Gặp thây nuốt sống ăn tươi,

Vì bày thưa kiện móc bươi xúi lời.

Trong núi lửa bay hơi tanh khét,

Linh hồn người đầy nghẹt trong ngoài!

Phạt răn quến gái, dụ trai,

Bày ra thuốc độc, phá thai tuyệt loài.

Người ở thế mấy ai khỏi lỗi,

Biết lạc lầm sám hối tội căn.

Tu tâm sửa tánh ăn năn,

Ba giềng nắm chặt, năm hằng chớ lơi.

Ngặt có kẻ tưởng Trời tin Phật,

Mà trong lòng chẳng thật kính thành.

Lâm nguy nguyện vái làm lành,

Tai qua rồi lại dạ đành phụ vong.

Chớ thái quá đừng lòng bất cập,

Phép tu hành luyện tập nhiều ngày.

Làm lành, xem phải, nói ngay,

Giữ ba điều ấy thiệt rày phước duyên.

Lời kệ sám di truyền khuyến thiện,

Câu văn từ luận biện thật thà.

Chẳng dùng những tiếng sâu xa,

E không hiểu thấu, diễn ra ích gì?

Chớ buông tiếng thị phi khinh dể,

Rán làm lành phước để cháu con.

Làm người nhơn nghĩa giữ tròn,

Muôn năm bóng khuất tiếng còn bay xa.
II.-NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA:
Bài kinh Sám Hối được nhiều Đấng Thiêng Liêng lần lượt giáng cơ ban cho chi Minh Lý (Tam Tông Miếu) vào năm Ất sửu 1925.

Theo ông Âu Minh Chánh, người lập ra Minh Lý Đạo, bài kinh Sám Hối này do Đức Thái Thượng Lão Quân giáng cơ ban cho một đoạn đầu bài kinh trong một đàn cơ cầu bịnh tại Thủ Thiêm. Sau đó, lần lần có các Đấng như Tam Giáo Đạo Chủ, Quan Âm Bồ Tát, Nam Cực Chưởng Giáo, Quan Thánh Đế Quân, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thập Điện Minh Vương..v.v.. giáng tiếp cho trọn bài kinh Sám Hối. Cuối cùng Đức Đông Phương Lão Tổ lại ban cho bài “Khen Ngợi Kinh Sám Hối” để kết thúc một giai đoạn giáng cơ ban Kinh Sám Hối kéo dài hơn 7 tháng.

Khi ban cho bài kinh xong, Đức Văn Tuyên Vương giáng dạy các tín đồ chi Minh Lý phải đến chùa trong các ngày sóc vọng để dâng hương và sám hối theo bài kinh này.

Đến khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã được khai sáng, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy Hội Thánh cử một phái đoàn gồm bốn người: Ngài Thượng Đầu Sư Lê Văn Trung, Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư và Giáo Sư phái Thượng Vương Quang Kỳ đến Minh Lý Đạo thỉnh kinh, trong đó có bài Kinh Sám Hối và bài Khen Ngợi Kinh Sám Hối. Trong thời gian đầu này, bài Kinh Sám Hối được gọi là Kinh Nhơn Quả.

Bài Kinh Sám Hối này được Hội Thánh dạy phải tụng vào những ngày sóc vọng, còn như ngày thường nếu có lầm lỗi điều chi thì tụng để xin tội.

Như ta đã biết hai chữ Sám hối 懺 悔 là danh từ kết hợp cả tiếng Sanskrit và tiếng Hán. Sám do chữ Phạn sám ma, là ăn năn những lỗi lầm đã phạm, thật lòng muốn sửa đổi. Hối: Thú nhận những điều sái quấy mà mình đã làm, sẵn sàng cải sửa các tội lỗi ấy.

Sám hối có nghĩa là xin thú nhận những lỗi lầm đã phạm và xin nguyện ăn năn sửa đổi tội lỗi, từ nay về sau không tái phạm nữa.

Tội Lỗi do bởi con người vô minh để cho ý nghĩ xấu phát sinh ra, thông qua hành động của thân, khẩu, ý. Do đó khi tụng cầu sám hối thì ta phải cải hóa tâm trước, rồi sau đó, quì tụng trước Chánh điện Đức Chí Tôn nguyện xin ăn năn hối ngộ và quyết lòng cải tà qui chánh, có như thế mới thực sự là sám hối, nội tâm mới có thể đạt được an nhiên, thanh tịnh.


III.-CHÚ GIẢI:
1. Cuộc danh lợi là phần thưởng quí,

Đấng Hóa Công xét kỹ ban ơn.

3. Lòng đừng so thiệt tính hơn,

Ngày đêm than thở dạ hờn ích chi.

Danh lợi 名 利: Danh là tiếng tăm, lợi là lợi lộc. Danh lợi là tiếng tăm và lợi lộc của con người.

Cuộc danh lợi: Danh và lợi trong cuộc sống của con người.

Thưởng 賞: Ban cho người có công.

Quí 貴: Quí giá, quí báu.

Hóa công 化 工: Thợ tạo, tức là ông thợ đã sinh thành và biến hóa ra vạn vật. Do câu trong bài phú của Giã nghị: “Thiên địa vi lô, tạo hóa vi công 天 地 為 爐, 造 化 為 工” (Trời đất làm lò, ông Tạo làm thợ). Chỉ Đấng Tạo hóa, Thượng Đế.

So thiệt tính hơn: So sánh thiệt hơn, suy xét lợi hại, tức là tính toán một cách kỹ lưỡng.

Theo Mạnh Tử, con người đừng nên so thiệt tính hơn, bởi vì: Một hớp uống một miếng ăn đều do nơi tiền định. Muôn việc cũng thế, đều đã chia định hết thảy. Với kiếp phù sinh con người lo gì cho uổng công, muôn việc không phải bởi người so thiệt tính hơn mà nên, một đời người đều là có mạng số đã an bài rồi (Nhất ẩm nhất trác sự giai tiền định, vạn sự phân dĩ định, phù sanh không tự mang, vạn sự bất do nhân kế giảo, nhất sanh đô thị mệnh an bài 一 飲 一 啄 事 皆 前 定, 萬 事 分 已 定, 浮 生 空 自 忙, 萬 事 不 由 人 計 較, 一 生 都 是 命 安 排).



Dạ hờn: Trong dạ hờn giận.

Ích chi: Có lợi ích gì.

Câu 1 và 2: Danh tiếng và lợi lộc trong cuộc sống của con người là do Đấng Tạo Hóa xét ban cho để làm phần thưởng quí giá.

Sống ở thế gian không gì quí giá bằng danh và lợi. Chính danh lợi đã làm cho biết bao nhiêu người điêu đứng, khổ sở: Người thì tốn hao mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả xương máu để tìm lấy nó, kẻ thì gây biết bao nhiêu tội tình để giành giựt, chiếm đọat lấy nó. Nhưng không phải ai cũng có thể tìm lấy nó được, mà phải có phước duyên để hưởng, tức là phải được Chí Tôn ban thưởng ơn đức cho. Muốn được vậy, kiếp trước chúng ta phải tạo phước đức, kiếp này mới được hưởng, bây giờ chúng ta làm việc thiện để hưởng ở kiếp lai sinh.

Chính Khổng Tử cũng nói: Người làm việc lành thì Trời ban phước đức cho, kẻ làm việc chẳng lành thì Trời lấy họa mà trả cho (Vi thiện giả thiên báo chi dĩ phước; vi bất thiện giả thiên báo chi dĩ họa 為 善 者 天 報 之 以 福; 為 不 善 者 天 報 之 以 禍).

Sách Thượng Thư cũng nói rằng: Hễ ai làm việc lành thì Trời ban cho trăm điều phước; hễ ai làm việc chẳng lành thì Trời xuống cho trăm điều họa (Tác thiện giáng chi bá tường; tác bất thiện giáng chi bá ương 作 善 降 之 百 祥; 作 不 善 降 之 百 殃).



Câu 3 và 4: Trong lòng đừng tính toán hơn thiệt, đêm ngày cũng đừng than thở , lòng hờn giận nào có ích chi đâu.
5. Người sang cả là vì duyên trước,

Kẻ không phần luống ước cầu may.

7. Sang giàu chẳng khác như mây,

Khi tan khi hiệp đổi xây không thường.

Sang cả: Sang là cao quí. Cả là lớn. Sang cả tức là giàu sang lớn, quí hiển sang trọng lắm.

Duyên trước: Do từ Hán Việt Tiền duyên 前 緣, chỉ mối ràng buộc được định sẵn từ kiếp trước. Nếu duyên lành, tức là kiếp sống trước ta làm những điều lương thiện đạo đức, thì kiếp sống hiện tại được may mắn, giàu sang, hạnh phúc.

Không phần: Không có số phận tốt đẹp, may mắn, tức là số phận khổ sở, vật vả.

Người không phần hay vô phần cũng do bởi luật nhơn quả mà ra. Hay nói cách khác, vô phần là bởi cái ác nghiệp của mình đã tạo ra từ tiền kiếp.



Luống ước: Nhiều lần ước muốn.

Cầu may: Cầu mong được may mắn.

Sang giàu chẳng khác như mây: Giàu sang chẳng khác gì một đám mây trôi nổi trên bầu trời, không được lâu dài, bền vững, khi tan khi tụ.

Theo Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, mồi phú quí, bã vinh làm lóa mắt người trần thế, khiến họ quay cuồng đeo đuổi, đắm đuối cái mộng đẹp mà rốt cuộc chỉ là hư vô:



Giấc Nam kha khéo bất bình,

Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.



tải về 1.01 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương