ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ


GIỚi TÂM KINH I.-KINH VĂN



tải về 1.01 Mb.
trang12/12
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích1.01 Mb.
#3276
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12

GIỚi TÂM KINH




I.-KINH VĂN:

GIỚI TÂM KINH

Vọng Thượng Đế chứng lòng thành tín,

Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn nguyền.

Nguyền cho trăm họ bình yên,

Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than.

Nguyền Khổng Thánh bảo toàn Nho giáo,

Lấy nghĩa nhơn Đại Đạo truyền ra.

Tây phương Phật Tổ Di Đà,

Nam Hải Phổ Đà cứu khổ Quan Âm.

Lẽ báo ứng cao thâm huyền diệu,

Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.

Đạo Quân đức hóa háo sinh,

Rộng quyền máy nhiệm an linh cứu đời.

Xin xót thương con người ngây dại,

Phép Huyền hư truyền dạy thế gian.

Mong nhờ lịnh đức Thánh Quan,

Ra oai tiêu diệt cho tàn ác ma.

Trường Canh chói rạng lòa Kim Khuyết,

Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.

Tề Thiên Đại Thánh để lời,

Thiện nam, tín nữ nghe lời phải vưng.

Chớ tự phụ, cũng đừng khi ngạo,

Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.

Lời khuyên già trẻ gái trai,

Khá tua sửa nết, ăn chay làm lành.

Đấng Tạo Hóa hóa sanh muôn vật,

Phú cho người tánh rất linh thông.

Đặt ra có họ, có dòng,

Vua, thầy, cha mẹ, vợ chồng, cháu con.

Tình huynh đệ tày non tợ biển,

Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.

Cang tam, thường ngũ phải gìn,

Chứa đức, làm lành, làm phước, làm doan.

Gặp người đói rách khốn nàn,

Ra tay chẩn cứu cho toàn nghĩa nhơn.

Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,

Thói dâm phong rù quến nguyệt hoa.

Có ngày hư nát cửa nhà,

Xa gần đồn tiếng thúi tha vô cùng.

Trường đổ bác cũng đừng léo tới,

Phường trăng hoa hát bội khá từ.

Những điều nhơ nhuốc phải chừa,

Hổn hào mắng nhiếc, nói thừa nói thêm.

Nơi Địa ngục gông kềm sẵn đủ,

Để răn loài dâm phụ gian phu,

Ai ai bền chí mà tu,

Phước đem đổi tội cho phu dễ gì?

Có thơ rằng:


Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,

May đặng làm người chớ dể duôi.

Lành dữ hai đường vừa ý chọn,

Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi.


Hoa tươi, tòng bá, khác nhau xa,

Tòng bá xơ rơ kém sắc hoa.

Gặp tiết đông thiên sương tuyết bủa,

Chỉ còn tòng bá chẳng còn hoa.


Còn hoa mà lại ích chi đâu,

Đẹp dáng tươi màu đặng mấy lâu.

Thử sánh ngọn đèn cùng bóng nguyệt,

Gió lay đèn tắt, nguyệt làu làu.


Làu làu một tấm tợ đài gương,

Trung, hiếu, tiết, trinh vẹn mọi đường.

Sang cả mặc người đừng bợ đỡ,

Hoạnh tài trơ mắt khỏi tai ương.


Tai ương hoạn họa luống ưu sầu,

Vì bởi hay bày chước hiểm sâu,

Lập kế đồ mưu âm hại chúng.

Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu.


Heo trâu thân thể mạt hèn thay,

Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.

Lộng lộng lưới trời tuy sếu sáo,

Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày.


Mày râu đứng giữa cõi trần gian,

Gắng sức chống cho vững miếu đàng.

Phận gái tam tùng cùng tứ đức,

Tề gia nội trợ vẹn là ngoan.


Ngoan ngùy chơn chánh Phật, Thần thương

Chơn chánh liên hòa với thiện lương.

Thần, Thánh thành, do người chánh thiện,

Thiện lương chơn chánh đức không lường.


Không lường kẻ thiện với người hung,

Bợ đỡ giàu sang phụ khốn cùng.

Ngoài mặt giả tuồng người trượng nghĩa,

Trong lòng dối kết chút tình chung.


Tình chung đặng cậy thế người sang,

Mượn tiếng khua môi với xóm làng.

Lời dạy Thần, Tiên không kể đếm,

Đạo mầu chẳng cứ, cứ khoe khoang.


II.-Ý NGHĨA VÀ NGUỒN GỐC:
Giới Tâm Kinh là một bài kinh dùng để các tín đồ Cao Đài tụng thường ngày để tu tập những điều các Đấng Thiêng Liêng đã răn dạy mà rèn lòng sửa nết. Hội Thánh có dạy: Năng tụng bài kinh này mà sửa tánh răn lòng.

Nguồn gốc bài Giới Tâm Kinh là do các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho Minh Tân, một chi được lập sau cùng trong Ngũ Chi Minh Đạo: Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý, Minh Thiện và Minh Tân. Sau khi Đạo Cao Đài được sáng lập, các Đấng Thiêng Liêng chưa ban cho Tân kinh, Hội Thánh mới đến chi Minh Tân thỉnh bài kinh này về làm kinh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.


III.-CHÚ GIẢI:
Vọng Thượng Đế chứng lòng thành tín,

Chúng sanh đồng bái kỉnh khẩn nguyền.

Thành 誠: Lòng thành thật.

Tín 信: Hay tín tâm, tức là lòng tin tưởng, đức tin.

Bất cứ một Tôn giáo nào cũng lấy lòng tin tưởng làm gốc. Lòng tin rất cần thiết cho người theo Đạo và giữ Đạo. Có được lòng tin con người mới vững vàng tu học, không có lòng tin sớm muộn gì cũng ngã.

Song lòng tin phải có trí phán xét, chỉ nên hướng về nẽo chánh, điều lành. Chớ không nên bạ đâu tin đó, tin một cách cực đoan, không phân biệt chánh tà thì rất hại cho đức tin ta lắm vậy.

Có lòng tin vào Trời, Phật và các Đấng Thiêng Liêng, tin tưởng có linh hồn bất tiêu bất diệt thì chúng ta mới sùng bái, học theo đức háo sinh của các Đấng, không dám tạo ác nghiệp mà phải gieo nghiệp lành để được thoát ra luân hồi sinh tử.



Bái kỉnh: Hay kính bái 敬 拜 là lạy với lòng kính trọng.

Khẩn nguyền: Hay khẩn nguyện 懇 愿: khẩn thiết để cầu xin.

Câu 1: Cầu mong Đức Thượng Đế chứng cho lòng tín ngưỡng thành thật.

Câu 2: Chúng sanh cùng nhau kính lạy và khẩn thiết cầu xin.
Nguyền cho trăm họ bình yên,

Nhà nhà no ấm khỏi phiền khỏi than.

Trăm họ: Do từ Hán Việt là bá tánh 百 姓, chỉ nhân dân, sanh chúng.

Bình yên: Hay bình an 平 安: Yên ổn, nghĩa là Nước nhà không loạn lạc, người không hoạn nạn, ốm đau.

Câu 3: Cầu xin cho bá tánh được bình yên.

Câu 4: Nhà nhà được cơm no áo ấm để khỏi phiền khỏi than.
Nguyền Khổng Thánh bảo toàn Nho giáo,

Lấy nghĩa nhơn Đại Đạo truyền ra.

Khổng Thánh 孔 聖: Xem tiểu sử trong bài Kinh Xưng Tụng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Bảo toàn 保 全: Giữ gìn cho trọn vẹn.

Nho giáo 儒 教: Xem chú thích trong bài Xưng Tụng Thần Thánh Tiên Phật.

Đại Đạo 大 道: Tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là con đường lớn mà Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đã vạch ra lần thứ ba để nhơn sanh noi theo, hầu cứu vớt tất cả nhơn loại. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thường được gọi là Đạo Cao Đài, một Tôn giáo được khai sáng ở miền Nam nước Việt, có tôn chỉ Nho Tông Chuyển Thế, nghĩa là bảo toàn những tinh hoa của giáo lý Nho giáo, dùng khuyến dạy con người để trở nên thuần lương đạo đức.

Câu 5: Nguyện cầu Đức Khổng Thánh bảo toàn cho nền Nho giáo.

Câu 6: Nền Đại Đạo lấy nghĩa nhơn của Nho giáo để truyền dạy ra.
Tây phương Phật Tổ Di Đà,

Nam Hải Phổ Đà cứu khổ Quan Âm.

Tây phương Phật Tổ 西 方 佛 祖: Đức Thích Ca Mâu Ni làm giáo tổ Phật đạo ở Tây phương.

Di Đà 彌 陀: Hay A Di Đà Phật, một vị Phật làm giáo chủ ở cõi Tây Phương Cực Lạc.

Nam Hải Phổ Đà 南 海 普 陀: Ngụ xứ của Phật Quan Âm là núi Phổ Đà, biển Nam Hải.

Câu 7: Cõi Tây Phương Cực Lạc có Phật Tổ là Thích Ca Mâu Ni và Đức Phật A Di Đà.

Câu 8: Nơi Phổ Đà Sơn biển Nam Hải thì có Đức Phật Quan Thế Âm.
Lẽ báo ứng cao thâm huyền diệu,

Cho chúng sanh đặng hiểu răn mình.

Báo ứng 報 應: Được báo đáp trở lại những gì mình đã làm lúc trước, như làm tốt gặp tốt, làm xấu gặp xấu, theo đúng luât nhơn quả.

Cao thâm 高 深: Cao sâu.

Huyền diệu 玄 妙: Chỉ sự thần bí, mầu nhiệm.

Câu 9: Lẽ báo ứng của Thiêng Liêng thì rất cao sâu mầu nhiệm.

Câu 10: Để cho chúng sanh hiểu rõ đặng răn mình.

Sau khi Đức Phật đắc Đạo, Ngài lấy thuyết luân hồi nhân quả khuyên dạy người đời hầu hiểu rõ về lẽ báo ứng rất cao thâm huyền diệu, mà xa lánh điều ác, cố gắng làm việc thiện để tạo nghiệp lành. Ngài nói về kinh Nhân Quả Ba Đời như sau: “Tất cả nam nữ ở thế gian giàu sang hay nghèo hèn, chịu khổ vô cùng hoặc hưởng phước vô lượng đều do nhân duyên từ đời trước mà cảm quả báo. Cho nên tất cả chúng sinh, trước phải hiếu kính cha mẹ, kế đó phải tin trọng ngôi Tam bảo, thứ ba phải bỏ giới sát mà phóng sinh, và thứ tư cần ăn chay bố thí mới có thể gieo giống ruộng phước về sau”.

Hiểu được lý báo ứng thì chúng ta ý thức được trách nhiệm đối với tự thân và xã hội, không đổ lỗi hay than trách hay cầu xin, tự mình phải cải tạo đời sống hiện tại để có kết quả tốt đẹp hơn. Thành ngữ có câu: “Ở hiền gặp lành” hay “Gieo gió gặp bão”, tức là mình tự làm chủ lấy đời mình, tạo nghiệp nhân gì thì thọ lãnh quả ấy.

Có sợ luật nhân quả thì khi làm bất cứ việc gì, chúng ta cũng đều nghĩ đến hậu quả của nó. Mình gây nhân thì phải thọ quả, đó là điều công bằng, bình đẳng nên ta luôn luôn cảnh giác không dám gây nhân xấu, mà thường tạo nghiệp lành.


Đạo Quân đức hóa háo sinh,

Rộng quyền máy nhiệm an linh cứu đời.

Đạo Quân 道 君: Thái Thượng Đạo Quân. Xem bài Xưng Tụng Thần Thánh Tiên Phật.

Đức hóa 德 化: Lấy đức mà cảm hóa con người.

Háo sanh: Hay hiếu sinh 好 生, ưa thích sự sống của vạn vật.

Máy nhiệm: Máy Trời huyền nhiệm.

An linh 安 靈: Yên ổn và linh thiêng.

Câu 11: Thái Thượng Đạo Quân lấy đức háo sanh của Thượng Đế để cảm hóa cho con người.

Câu 12: Theo máy Trời mầu nhiệm, Ngài rộng quyền mà cứu giúp người đời.
Xin xót thương con người ngây dại,

Phép Huyền hư truyền dạy thế gian.

Con người ngây dại: Con người thơ ngây khờ dại.

Huyền hư 玄 虛: Hư vô và huyền diệu.

Phép Huyền hư: Hay huyền hư pháp 玄 虛 法 Một phương pháp luyện của đạo Tiên, đây là giai đoạn công phu luyện đan sau cùng, luyện đến chỗ huờn hư thì đắc đạo.

Câu 13: Cúi xin Đức Ngài thương cho con người còn thơ ngây khờ dại.

Câu 14: Xin truyền dạy cho con người ở thế gian Phép Huyền hư để được đắc đạo.
Mong nhờ lịnh đức Thánh Quan,

Ra oai tiêu diệt cho tàn ác ma.

Đức Thánh Quan: Tức là Đức Quan Thánh Đế Quân (Xem bài kinh Xưng Tụng Thần Thánh Tiên Phật).

Tiêu diệt: Làm cho dứt hết, làm cho sạch hết.

Tàn: Cho dứt hết, hết sạch.

Ác ma 惡 魔: Loài ma quỉ hung ác.

Câu 15: Mong nhờ ân đức của Quan Thánh Đế Quân.

Câu 16: Ra oai linh để tiêu diệt hết loài yêu ma hung ác.
Trường Canh chói rạng lòa Kim Khuyết,

Xin ban ơn giải nghiệt cho đời.

Trường canh 長 庚: Là vì sao Thái Bạch (Xem bài kinh Xưng Tụng Thần Thánh Tiên Phật).

Chói rạng: Chiếu sáng rực rỡ.

Kim khuyết 金 闕: Cổng bằng vàng ròng, đó là cổng Huỳnh Kim Khuyết 黃 金 闕.

Giải nghiệt 解 孽: Giải những mầm ác độc, tức cởi bỏ các nghiệp ác.

Câu 17: Sao Trường Canh chiếu sáng rực rỡ nơi Huỳnh Kim Khuyết. Nghĩa bóng Đức Lý Thái Bạch vào chầu Ngọc Đế ở Kim khuyết.

Câu 18: Xin Chí tôn ban bố hồng ân cho để giải bỏ hết các oan nghiệp cho đời.
Tề Thiên Đại Thánh để lời,

Thiện nam, tín nữ nghe lời phải vưng.

Tề Thiên Đại Thánh 齊 天 大 聖: Một vị Đại Thánh theo Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh (Xem bài kinh Xưng tụng Thần Thánh Tiên Phật).

Thiện nam tín nữ 善 男 信 女: Người nam lành, người nữ tín ngưỡng, đây là một từ dùng chỉ chung nam nữ tín đồ.

Câu 19 và 20: Tề Thiên Đại Thánh để lời khuyên bảo, các thiện nam tín nữ nghe lời thì phải vâng theo.
Chớ tự phụ, cũng đừng khi ngạo,

Lẽ Trời hằng quả báo chẳng sai.

Tự phụ 自 負: Phụ là cậy nhờ. Tự phụ: Tự cậy mình tài giỏi

Khi ngạo 欺 傲: Khinh khi ngạo mạn.

Lẽ Trời hằng: Luật Trời luôn luôn.

Quả báo 果 報: Kết quả do hành vi thiện ác của mình được báo đáp lại. Nếu làm lành thì thiện báo, nếu làm dữ thì ác báo.

Câu 21: Chớ nên tự cho mình tài, cũng đừng khinh khi ngạo mạn.

Câu 22: Luật công bình của Trời đất hằng quả báo không bao giờ sai.
Lời khuyên già trẻ gái trai,

Khá tua sửa nết, ăn chay làm lành.

Khá tua: Phải nên.

Câu 23: Lời khuyên cho mọi người già trẻ gái trai.

Câu 24: Phải nên trau giồi nết na, ăn chay lạt và làm điều thiện lành.
Đấng Tạo Hóa hóa sanh muôn vật,

Phú cho người tánh rất linh thông.

Đấng Tạo Hóa: Đức Thượng Đế.

Hóa sanh muôn Vật: Sanh hóa ra muôn loài muôn vật.

Phú: Hay phó 付:Giao cho, ban cho.

Linh 靈: Thiêng liêng.

Thông 聰: Hiểu biết, sáng suốt.

Câu 25: Đấng Tạo Hóa sanh hóa ra muôn loài vạn vật.

Câu 26: Ban cho con người cái tính rất thiêng liêng và sáng suốt.

Đấng Thượng Đế hóa sinh ra muôn loài vạn vật, trong đó Ngài ban bố cho con người một cái tánh rất linh thông. Muốn được vậy, con người phải qua muôn nghìn kiếp tiến hóa, từ vật chất, thảo mộc, thú cầm rồi mới chuyển hóa đến nhơn loại. Chính nhờ có sự tiến hóa này con người từ thảo mộc duy có một hồn là sanh hồn, tiến lên thú cầm thì có được hai hồn là sanh hồn và giác hồn, rồi thú cầm lại tiến thêm lên con người thì có ba hồn là sanh hồn, giác hồn và linh hồn. Nhờ linh hồn con người mới khôn ngoan biết đạo lý, thông linh hơn loài vật.


Đặt ra có họ, có dòng,

Vua, thầy, cha mẹ, vợ chồng, cháu con.

Có họ có dòng: Có dòng họ tính từ tổ tiên trở xuống.

Câu 27 và 28: Những bậc Thánh hiền xưa sắp đặt cho con nguời có dòng họ, có vua thầy, có cha mẹ, có vợ chồng, có cháu con.
Tình huynh đệ tày non tợ biển,

Nghĩa hữu bằng phải kiếng phải tin.

Huynh đệ 兄 弟: Anh em ruột thịt.

Tày non tợ biển: Sánh bằng non núi, tợ như biển sông.

Hữu bằng: Hay bằng hữu 朋 友 là anh em bạn bè.

Kiếng: Kính trọng.

Câu 29: Tình thương yêu giữa anh em ruột thịt cao như núi, sâu như biển

Câu 30: Nghĩa bạn bè là phải kính trọng và tin tưởng lẫn nhau.
Cang tam, thường ngũ phải gìn,

Chứa đức, làm lành, làm phước, làm doan.

Cang tam: Tức là Tam cang 三 綱, ba giềng mối trong đạo nhơn luân, đó là quân thần cang, phụ tử cang, phu thê cang.

Thường ngũ: Tức là Ngũ thường, dịch là năm hằng gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Làm doan: Tức làm duyên, là làm những điều phước đức để về sau được hưởng những duyên lành.

Câu 31: Phải gìn giữ đạo nhơn luân là ba giềng (Tam cang), và năm hằng (Ngũ thường).

Câu 32: Tích chứa âm đức thì phải làm lành, làm phước và tạo duyên.
Gặp người đói rách khốn nàn,

Ra tay chẩn cứu cho toàn nghĩa nhơn.

Khốn nàn: Do từ khốn nạn 困 難: khốn khổ hoạn nạn, tức là khốn khổ vì bởi tai nạn.

Chẩn 賑: Đem tiền của vật chất để cứu giúp những người bị đói khát hay tai nạn.

Cứu 救: Giúp đỡ cho người ta thoát khỏi cảnh đói khó, tai nạn.

Câu 33: Nếu gặp những người đói rách hay khổ sở hoạn nạn.

Câu 34: Mau ra tay cứu giúp cho họ để được trọn vẹn đường nhơn nghĩa.
Mựa chớ ham giọng đờn tiếng quyển,

Thói dâm phong rù quến nguyệt hoa.

Mựa: Chẳng nên, chớ.

Giọng đờn tiếng quyển: Tiếng đàn tiếng sáo trổi lên du dương, khiến người thưởng thức phải mê đắm. Nghĩa bóng chỉ lời nói ngon ngọt của người đàn bà rù quến vào tình bất chánh.

Dâm phong 淫 風: Phong là thói tục. Dâm phong: Quen thói dâm đảng.

Nguyệt hoa: Hay Hoa nguyệt 花 月, là thói trăng hoa, chỉ sự tư tình giữa trai gái vượt khuôn khổ của lễ giáo.

Câu 35 và 36: Chẳng nên ham mê mà chạy theo giọng đờn tiếng quyển, nghe lời ngọt ngon rù quến vào thói ăn chơi dâm đảng.
Có ngày hư nát cửa nhà,

Xa gần đồn tiếng thúi tha vô cùng.

Hư nát cửa nhà: Nhà cửa hư nát vì bởi ăn chơi đàng điếm khiến cho hết tiền hết bạc, cửa nhà bán sạch, hoặc tiếng xấu đồn xa làm gia phong bại hoại.

Đồn tiếng: Tiếng tăm được truyền đi khắp nơi.

Câu 37: Nếu ăn chơi đàng điếm, có ngày phải hư nát cửa nhà.

Câu 38: Xa gần đồn đãi việc chơi bời, làm cho tiếng tăm thúi tha vô cùng.
Trường đổ bác cũng đừng léo tới,

Phường trăng hoa hát bội khá từ.

Trường 場: Cái sân, nơi tụ họp nhiều người, đông đảo.

Đổ bác 賭 博: Cờ bạc, họp nhau lại đánh bài ăn tiền.

Trường đổ bác 賭 博 場: Nơi tổ chức đánh bài bạc ăn tiền, tục gọi là sòng bài.

Đừng léo tới: Chớ nên bén mảng đến, đừng xáp lạ gần.

Phường trăng hoa: Đám ăn chơi đàng điếm, bọn trai gái tình tự lãng mạn trái với lễ giáo.

Hát bội: Đúng ra phải viết là hát bộ, bởi vì loại hát này lên sân khấu diễn những tuồng tích xưa cũ bằng lời cổ và dùng bộ điệu để diễn tả. Theo nghĩa câu kinh này, hát bộ chỉ chung các thứ đờn ca hát xướng.

Quan niệm người xưa thường cho rằng đờn ca xướng hát, cải lương, hát bộ đều là bộ môn có hại cho luân thường đạo lý con người, nên gọi những người theo nghiệp ấy là hạng xướng ca vô loại.



Câu 39: Chẳng nên gần gũi đến chỗ ăn chơi cờ bạc.

Câu 40: Nên tránh xa bọn đàng điếm và phường đờn ca xướng hát.
Những điều nhơ nhuốc phải chừa,

Hổn hào mắng nhiếc, nói thừa nói thêm.

Nhơ nhuốc: Xấu xa nhục nhã.

Hỗn hào: Vô lễ, láo xược đối với người trên trước.

Nói thừa nói thêm: Lời nói không trung thực, nói thêm nói bớt.

Câu 41: Phải nên chừa bỏ những điều xấu xa nhục nhã.

Câu 42: Không đặng hỗn xược đối với người trên trước, và chẳng nên nói thêm nói bớt.
Nơi Địa ngục gông kềm sẵn đủ,

Để răn loài dâm phụ gian phu,

Gông kềm: Những dụng cụ dùng để tra khảo các tội hồn ở Âm phủ. Gông là vật mang vào cổ để kềm kẹp tay chân.

Dâm phụ gian phu 淫 婦 奸 夫: Những đàn bà dâm đảng lấy chồng người và người đàn ông gian tà lấy vợ kẻ khác.

Câu 43: Nơi cõi Địa ngục có đầy đủ sẵn những thứ như gông kềm để khảo kẹp tội nhơn.

Câu 44: Những thứ hình cụ đó là để răn và trị loài dâm phụ gian phu.
Ai ai bền chí mà tu,

Phước đem đổi tội cho phu dễ gì?

Bền chí: Ý chí bền vững.

Phước 福: Còn gọi là phước đức, tức là những hành động về thân, khẩu, ý đem lại an lạc, hạnh phúc cho mình, cho người ở hiện tại và tương lai. Làm phước là làm những việc thiện để giúp đỡ cho người khác. Làm phước thì được phước báo hay phước quả.

Phu 敷: Đầy đủ.

Câu 45: Ai ai cũng khá nên bền chí mà lo tu hành.

Câu 46: Đem điều phước đức do mình tạo mà đổi lấy tội lỗi cho đầy đủ thì không phải dễ dàng đâu.
Dễ gì lộn kiếp đặng làm người,

May đặng làm người chớ dể duôi.

Dễ gì lộn kiếp: Không phải dễ gì lộn trở lại đầu thai một kiếp khác.

Dể duôi: Khi dể coi thường.

Câu 47: Không phải dễ dàng gì lộn trở lại đầu thai một kiếp khác để làm người.

Câu 48: May mắn được làm người thì chẳng nên khinh thường coi rẻ.
Lành dữ hai đường vừa ý chọn,

Lành như tòng, dữ tợ hoa tươi.

Lành dữ hai đường: Trên đời chỉ có hai đường để đi: Lành dữ, tốt xấu để cho con người tùy ý chọn lựa, song muốn con người có tư cách, có phẩm hạnh tốt thì phải thi hành theo lẽ phải, lẽ đạo đức.

Tòng: Hay tùng 松, là cây thông, một loại cây cao, to lớn, sống lâu năm, chịu đựng được giá lạnh và sương tuyết.

Câu 49: Sống ở thế gian, có hai con đường để mình tùy ý chọn lựa, đó là đường lành và đường dữ.

Câu 50: Đường lành tợ như cây tòng, bền bỉ lâu năm, chịu được sương tuyết, đường dữ như hoa tươi, mau tàn chóng héo.
Hoa tươi, tòng bá, khác nhau xa,

Tòng bá xơ rơ kém sắc hoa.

柏: Hay bách, cũng là một loại cây giống như cây thông, chịu được sương tuyết.

Xơ rơ: Thưa thớt, lưa thưa.

Câu 51: Hoa tươi và cây tòng bá, hai thứ đó khác nhau rất xa.

Câu 52: Cây tòng cây bá thì xem thấy lưa thưa kém sắc hơn loài hoa.
Gặp tiết đông thiên sương tuyết bủa,

Chỉ còn tòng bá chẳng còn hoa.

Đông thiên 冬 天: Trời mùa đông, ngày mùa đông.

Tiết đông thiên 冬 天 節: Thời tiết vào mùa đông, lạnh lẽo, có sương tuyết.

Tiết mùa đông là lúc khí trời lạnh lẽo, các loài thảo mộc và bông hoa không chịu nỗi giá buốt, chỉ có cây tòng, cây bá là lá vẫn xanh tốt. Chính vì thế, Đức Khổng Tử mới nói: Năm tới mùa lạnh mới hay cây tòng, cây bá là cây chịu đựng như thế nào vậy!



Người xưa thường ví kẻ có tiết hạnh kiên trinh, gặp lúc nguy hiểm cũng chẳng nao núng thì giống như cây tòng cây bá vào tiết mùa đông vậy.

Bủa: Bao phủ khắp nơi, giăng túa ra.

Câu 53: Gặp lúc tiết trời vào mùa đông, sương tuyết bao phủ khắp mọi nơi.

Câu 54: Bông hoa thì không còn nữa, chỉ còn lại cây tòng và cây bá, lá vẫn màu xanh, tươi tốt.
Còn hoa mà lại ích chi đâu,

Đẹp dáng tươi màu đặng mấy lâu.

Ích 益: Lợi ích.

Dáng: Hình dáng bề ngoài, dáng vẻ.

Đẹp dáng: Đẹp đẽ bên ngoài.

Đặng mấy lâu: Được bao nhiêu lâu.

Câu 55: Còn lại bông hoa thì có ích lợi gì đâu.

Câu 56: Hình dáng bên ngoài thì đẹp đẽ, màu thì tươi tắn, nhưng có được bao nhiêu lâu?
Thử sánh ngọn đèn cùng bóng nguyệt,

Gió lay đèn tắt, nguyệt làu làu.

Sánh: So sánh.

Bóng nguyệt: Bóng mặt trăng, vầng trăng.

Gió lay: Gió lay chuyển.

Nguyệt làu làu: Trăng tỏ rạng, trăng vằng vặc.

Câu 57: Thử so sánh ngọn đèn cùng với ánh sáng mặt trăng xem.

Câu 58: Khi gió lay chuyển thì ngọn đèn tắt, còn ánh trăng sáng làu làu.
Làu làu một tấm tợ đài gương,

Trung, hiếu, tiết, trinh vẹn mọi đường.

Đài gương: Tấm gương soi (tấm kiếng) đặt trên giá bằng gỗ, gọi là đài gương.

Trung hiếu 忠 孝: Ngay với vua và thảo với cha mẹ.

Tiết trinh: Hay trinh tiết 貞 節, tức là giữ vững tấm lòng trinh bạch (trong sạch) của mình.

Câu 59: Làu làu sáng tỏ như tấm gương soi.

Câu 60: Phải giữ vẹn mọi đường: Trung với nước, hiếu với cha mẹ, tiết trinh giữa vợ chồng với nhau.
Sang cả mặc người đừng bợ đỡ,

Hoạnh tài trơ mắt khỏi tai ương.

Sang: Quí phái, sang trọng.

Mặc: Thây kệ, mặc kệ.

Bợ đỡ: Nịnh bợ, ton hót.

Hoạnh tài 橫 財: Hoạnh là không hợp lý. Hoạnh tài: Tiền bạc, của cải tự nhiên đến bất ngờ, không phải do chính sức lực mình làm ra.

Trơ mắt: Lấy mắt nhìn, đứng yên không làm gì hết.

Tai ương 災 殃: Những tai họa lớn xảy đến như: Cháy nhà, đại hạn, bão lụt…

Câu 61: Mặc người ta sang cả, đừng nên bợ đỡ, nịnh hót.

Câu 62: Của không phải do mình làm ra (Của hoạnh tài) mà đến với mình thì trơ mắt, không nhận lấy để khỏi chịu tai ương.
Tai ương hoạn họa luống ưu sầu,

Vì bởi hay bày chước hiểm sâu,

Hoạn 患: Lo lắng, mối hại, bệnh tật.

Họa 禍: Tai họa, rủi ro.

Tai ương hoạn họa 災 殃 患 禍: Chỉ tai nạn hay hoạn nạn to lớn xảy đến.

Ưu sầu 憂 愁: Ưu là lo. Sầu là buồn rầu. Ưu sầu: Chỉ sự lo buồn.

Bày chước: Bày mưu kế.

Hiểm sâu: Hiểm hốc, sâu độc.

Câu 63: Tai ương hoạn nạn xảy đến thực là nhiều nỗi lo buồn.

Câu 64: Bởi vì hay xúi giục bày đặt mưu chước nham hiểm và sâu độc.
Lập kế đồ mưu âm hại chúng.

Kiếp sau mang lấy lốt heo trâu.

Lập kế đồ mưu 立 計 圖 謀: Lập ra kế hoạch, sắp đặt mưu mô.

Âm hại 陰 害: Âm là làm một cách bí mật không cho người biết. Âm hại: Ngầm hại người, tức là ngấm ngầm hại người.

Lốt: Dáng bên ngoài.

Câu 65: Bày đặt mưu kế để ngấm ngầm hãm hại người ta.

Câu 66: Đó là tội nặng, kiếp sau sẽ đền trả bằng cách đội lốt heo trâu.
Heo trâu thân thể mạt hèn thay,

Mãn kiếp lại còn bị xẻ thây.

Mạt hèn: Hay hèn mạt, tức là thấp kém, đê tiện.

Mãn kiếp 滿 劫: Hết kiếp sống, nghĩa là chết.

Xẻ thây: Banh xẻ thi thể ra nhiều mảnh.

Câu 67: Làm cái kiếp heo trâu thì thực là thấp hèn thay.

Câu 68: Đến khi hết kiếp sống rồi thì thân thể bị xẻ thịt.
Lộng lộng lưới trời tuy sếu sáo,

Thưa mà chẳng lọt mảy lông mày.

Lộng lộng: Mênh mông cao rộng.

Sếu sáo: Lỏng lẻo, không chắc chắn.

Mảy lông mày: Ý chỉ một vật rất nhỏ như một mảy lông.

Câu 69: Lưới Trời giăng mắc mênh mông cao rộng xem dường như lỏng lẻo.

Câu 70: Thấy thưa thớt mà chẳng hề lọt một mảy lông mày.

Hai câu kinh trên lấy ý trong câu: Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu. Nghĩa là: Lưới Trời lồng lộng, thưa mà chẳng lọt; ý muốn nói: Những người làm ác sẽ không tránh được lưới trời.


Mày râu đứng giữa cõi trần gian,

Gắng sức chống cho vững miếu đàng.

Mày râu: Hay râu mày dịch từ chữ tu mi 鬚 眉, chỉ giới người đàn ông con trai.

Miếu đàng: Hay miếu đường 廟 堂, nơi thờ tự tổ tiên ông bà của dòng họ.

Miếu đường của nhà vua thường xây dựng kế bên triều đình, nên còn có nghĩa là chốn triều đình.



Câu 71: Làm người con trai đứng giữa cõi thế gian.

Câu 72: Phải cố gắng ra sức chống chỏi cho bền vững triều đình (Nước nhà).
Phận gái tam tùng cùng tứ đức,

Tề gia nội trợ vẹn là ngoan.

Tam tùng 三 從: Ở cõi Á Đông, người phụ nữ có ba điều phải theo: Tại nhà theo cha (tại gia tùng phụ 在 家 從 父), có chồng theo chồng (xuất giá tùng phu 出 嫁 從 夫) và chồng chết theo con (phu tử tùng tử夫 死 從 子).

Điều này được Đức Khổng Tử dạy như sau: Đàn bà thì nương dựa ở người, cho nên không có phép tự chuyên làm lấy một mình, mà có đạo tam tùng là: Còn ở nhà thì theo lịnh cha, có chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con (Phụ nhân phục ư nhân dã, thị cố vô chuyên chế chi nghĩa. Hữu tam tùng chi đạo: Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử 婦 人 伏 於 人 也, 是 故 無 專 制 之 義. 有 三 從 之 道: 在 家 從 父, 出 嫁 從 夫, 夫 死 從 子).



Tứ đức 四 德: Bốn đức tính của người phụ nữ:

-Công 工: Thêu thua may vá, nấu nướng, nuôi dạy trẻ…

-Dung 容: Diện mạo, dung nhan hiền hòa đẹp đẽ.

-Ngôn 言: Lời nói dịu dàng, ngay thẳng.



-Hạnh 行: Tánh nết hiền hòa, cử chỉ đoan trang nhã nhặn.

Tề gia 齊 家: Sắp đặt mọi chuyện trong gia đình cho êm xuôi, ổn thỏa.

Nội trợ 內 助: Giúp đỡ mọi việc trong nhà cho sạch sẽ, gọn gàng.

Câu 73: Phận làm con gái phải vẹn giữ Tam tùng cùng Tứ đức.

Câu 74: Phải siêng năng lo việc tề gia nội trợ được vẹn toàn mới gọi là gái ngoan.
Ngoan ngùy chơn chánh Phật, Thần thương

Chơn chánh liên hòa với thiện lương.

Ngoan ngùy: Nết na thùy mỵ, tánh tình ngoan ngoãn.

Chơn chánh 真 正: Ngay thẳng, chơn thật.

Liên hòa 連 和: Liên kết, hòa hiệp với nhau.

Thiện lương 善 良: Hay lương thiện là lành tốt.

Câu 75: Những người ngoan ngoãn thùy mỵ, ngay thẳng, chơn thật thì được Phật, và Thần Thánh thương mến.

Câu 76: Chơn chánh thì phải liên kết, hòa hiệp với những điều lương thiện.
Không lường kẻ thiện với người hung,

Bợ đỡ giàu sang phụ khốn cùng.

Không lường: chẳng thể biết rõ.

Bợ đỡ: Nịnh bợ ton hót để cầu lợi.

Phụ 負: Làm trái ngược, xử tệ.

Câu 79: Chẳng thể biết rõ được kẻ nào lành với người nào hung dữ.

Câu 80: Thế thái nhơn tình thường dua nịnh người giàu sang mà phụ bạc kẻ nghèo khó.
Ngoài mặt giả tuồng người trượng nghĩa,

Trong lòng dối kết chút tình chung.

Ngoài mặt giả tuồng: Bề ngoài thì giả bộ, giả đò.

Trượng nghĩa: Hay trọng nghĩa 重 義, Coi nặng việc cư xử hợp với đạo nghĩa.

Kết chút tình chung: Liên kết chút tình cảm thủy chung với nhau.

Câu 81: Bên ngoài thì giả như là người trọng nghĩa.

Câu 82: Trong lòng thì dối trá như là kết mối tình chung thủy nhau.
Tình chung đặng cậy thế người sang,

Mượn tiếng khua môi với xóm làng.

Thế 勢: Thế lực, thân thế.

Cậy thế: Dựa vào thế lực, dựa vào thân thế.

Khua môi: Do thành ngữ khua môi múa mỏ, chỉ việc khoe khoang, khoác lác.

Câu 83: Mượn tình cảm chung thủy để dựa vào thế lực của nguời giàu sang.

Câu 84: Lấy đó đặng khoe khoang, khoác lác với xóm làng
Lời dạy Thần, Tiên không kể đếm,

Đạo mầu chẳng cứ, cứ khoe khoang.

Kể đếm: Không đáng kể và chẳng đếm xỉa tới.

Đạo mầu: Đạo huyền vi mầu nhiệm.

Cứ 據: Nương cậy, dựa vào. (Chữ cứ đứng trước, là từ Hán Việt).

Cứ: Vẫn cứ. (Chữ cứ đứng sau, là từ Nôm).

Câu 85: Lời dạy dỗ của chư vị Thần Tiên coi không đáng kể, nên không đếm xỉa tới.

Câu 86: Đạo huyền vi mầu nhiệm không nương tựa theo, mà miệng vẫn cứ khoe khoang.

MỤC LỤC

THIÊN THỨ NHỨT

KINH SÁM HỐI

I/.Kinh văn ……………………………… 10

II/.Nguồn gốc và ý nghĩa ……………….., 23

III/.Chú giải………………………………. 24



THIÊN THỨ NHÌ

BÀI KHEN NGỢI KINH SÁM HỐI

I/.Kinh văn ……………………………… 165

II/.Chú giải………………………………. 165

THIÊN THỨ BA

BÀI XƯNG TỤNG CÔNG ĐỨC

PHẬT TIÊN THÁNH THẦN.

I/.Kinh văn ………………………………. 173

II/.Nguồn gốc và ý nghĩa ………………… 174

III/.Chú giải…………………………….…. 175



THIÊN THỨ TƯ

GIỚI TÂM KINH

I/.Kinh văn ………………………………. 199

II/ Ý nghĩa và nguồn gốc…………………. 202

III/.Chú giải ……………………………….. 202



MỤC LỤC

Đây là bản thảo “Chú giải Kinh Sám Hối” của Hiền Tài Quách Văn Hòa, chỉ lưu hành nội bộ.



Khi sửa chữa hoàn chỉnh, bản quyền sẽ được dâng lên cho Hội Thánh.

Hiền Tài QUÁCH VĂN HÒA


(1) Kinh Sám Hối này nên tụng ngày Sóc Vọng, còn ngày thường lỡ có lầm lỗi điều chi, phải tụng mà xin tội.

(1) Kinh Sám Hối của Minh Lý Đạo viết: Vời.

(1) Bản kinh Sám Hối bằng chữ Quốc ngữ của Chùa Tam Tông Miếu có chú thích là ngọc giả.

1 Kinh Lễ, Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo 1936, 1968: In là hổ mang hành hình.

(1) Viết ra chữ Hán như sau: 志 在 春 秋 功 在 漢, 忠 同 日 月 義 同 天.


tải về 1.01 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   12




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương