ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ TÒa thánh đỊnh tưỜng hội thánh chơn lý thiêN ĐẠo chơn truyềN


CHƯỞNG Quyền thưởng phạt thay Trời, GIÁO



tải về 1.52 Mb.
trang9/13
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích1.52 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13

CHƯỞNG Quyền thưởng phạt thay Trời,

GIÁO-Truyền Đại-Đạo độ người trầm-luân,

THIÊN-Điều mắc-mỏ muôn phần,

TÔN Đường Chơn-Lý gặp Xuân tư mùa.

Mừng chư đệ tử. Bình thân.

Bổn-Sư hỏi con: tại làm sao từ bấy lâu nay con chẳng lo bồi đắp nền Đạo cho nhơn-sanh thấy rõ Chơn-Lý? Bước đường Đại-Đạo thường hay gập ghình, con đường Chơn-Lý thường hay bị khuất lấp, ấy là lẽ cố nhiên. Nhưng mà gập ghình hay là khuất lấp cũng tại nhơn-tâm mà ra, chớ ngòi Đạo-Tâm bao giờ dứt mà con sợ. Con thử nghĩ coi từ khi Vô-Thỉ đến nay, mối Đạo bao giờ dứt, Đạo là của Trời, bao giờ cũng có Đạo, mà bao giờ cũng có Nhơn. Hễ Nhơn thắng thì gọi là Nhơn-Đạo, còn Đạo thắng thì gọi là Đạo-Nhơn, mà trước hết phải lo tròn Nhơn-Đạo, sau sẽ được gọi là Đạo-Nhơn.

Con buồn lòng thối chí, vì thấy một ít người trong hàng anh em của con không được can đảm trong sự hành Đạo, còn phần đông thì hay tìm phương phá Đạo.

Gần đây lại có một lũ ngoại-giáo dốc lòng phá tan Đại-Đạo, đặng đem về Tả-Đạo Bàn-Môn cho thêm sức chúng nó múa men, ấy là lũ quỉ toan quấy rối cuộc Tu-My, mà các anh em của con không biện phân Tà Chánh được đó. Con buồn như vậy cũng phải, song con chẳng nghĩ coi ĐỨC-CHÍ-TÔN buồn hay vui. Con ôi! Có quỉ mới có Thần, mà bao giờ quỉ cũng ra mặt đứng trước Thần luôn luôn, nên mới có chữ Quỉ-Thần. Khi nào dẹp được quỉ rồi thì Thần mới hóa Thiên, con nghe chưa?

ĐỨC-CHÍ-TÔN vui thấy bọn quỉ lừng lẫy, mà buồn thấy con của Người, là vì con của Người đều là bực Thánh mà còn phải chiều theo quỉ. Rất uổng gọi là con của ĐỨC-CHÍ-TÔN trong buổi nầy.

Trăm thợ dốc học nghề cho khéo để làm gì? Người thợ khéo chẳng năng dùng nghề của mình, sao biết rằng thợ khéo? Học nghề cho khéo rồi không đem ra dùng, thì có ích chi không? Người học Đạo để làm gì? Học Đạo cho biết rồi không đem ra công dụng cho nhơn-quần xã-hội, thì có ích chi không?

Bước đường Đại-Đạo gặp lúc gai chông chận tấp, nhơn-sanh tưởng rằng tránh chỗ gai chông đặng có tìm đàng khác mà ra, nào dè chỗ gai chông chận tấp ấy cũng đều là nhơn-sanh tự mình chận tấp lấy, chẳng ai chịu ra công ruồng phá, nên thường hay bị sa hầm sẩy hang.

CA, con nói rằng: con không đủ đức đủ tài; song con không nghĩ coi lúc ban-sơ có ai dám chắc tận thiện tận mỹ bao giờ? Con phải ráng lo làm cho hết cái dở của con cho rồi đi, thì Người hay mới cảm động mà phụ giúp với con. Nếu nói mình dở mà đành bỏ luôn công-quả bấy lâu hay sao?

CA, con có hiểu vì sao ngày nay ĐỨC-CHÍ-TÔN không kêu tên từ đứa con đặng phong Thánh như khi trước, lại biểu Tứ-Bửu phải cầu phong, rồi ĐỨC-CHÍ-TÔN sẽ phê hay là chọn lại sau hay không? Việc ấy cũng chẳng chi lạ. Lúc ban-sơ ĐỨC-CHÍ-TÔN thấy đứa con nào vừa được, thì liền kêu mà phong thưởng đặng làm gương cho kẻ sau. Chẳng dè khi nó được phong rồi, thì nó lại hiu hiu tự-đắc, gọi rằng: đường đường là một vị Thiên-Phong, không lớn cũng nhỏ, chẳng cần chi phải học theo Thánh-Huấn dạy, chẳng cần chi phải vưng lời chiều lụy kẻ bề trên; nói rằng: Đạo là Tự-Do, Bình-Đẳng, chẳng ai được phép dạy dỗ ai, chỉ có một mình ĐỨC-CHÍ-TÔN có quyền răn phạt mà thôi. Mà đến khi nào ĐỨC-CHÍ-TÔN có quở, thì lại viện cớ rằng: Thầy là Đại-Từ, Đại-Bi, không khi nào là quở con cái bao giờ.

Ngày nay đã có đặng bực Đại-Thiên-Phong, nên ĐỨC-CHÍ-TÔN để trọn quyền cho bực Đại-Thiên-Phong coi người nào đáng phong thưởng thì cầu phong cho người ấy. Nếu ngày sau mà người được phong thưởng ấy có làm sái Thánh-Huấn, sái Qui-Điều, thì Người nào tiến dẫn cầu phong ấy sẽ chịu trách cứ. Người đứng tiến dẫn cũng có thể xin sửa phạt theo Thiên-Điều. Thầy chẳng biết “Tòa Tam-Giáo” là chi, Thầy ước mong sao cho các con của Thầy phải nghe lời dạy bảo của Người tiến dẫn mình đó là đủ.

—————————d&c—————————


NGỌC-HƯ-CUNG

CHƯỞNG-GIÁO THIÊN-TÔN

Mừng chư Đệ-tử, bình thân.

THÁI-NHƠN THANH-SƠN, con phải biết Kỷ-Luật Hiệp-Thiên-Đài rất mắc-mỏ và rất quan-trọng, sơ ý một chút thì bị quỉ phá lộng chẳng biết ngằn nào mà kể. Những Kỷ-Luật ấy đều tiếp theo “Thập-Ngũ Qui-Điều”. ĐỨC-CHÍ-TÔN đã hiệp cùng TỨ-ĐẠI-THÁNH và đã cho ra nơi Hiệp-Thiên-Đài nhiều khoản, cũng tùy theo thời cuộc mà ban hành, và đã ban hành nhiều khoản rồi, song các con không để ý nên không hiểu. Con phải hiệp cùng Thái-An-Thiên, Ngọc-Tinh-Quân và Ngọc-Chiếu-Thanh mà kiếm cho đủ hai mươi tám khoản Kỷ-Luật, đặng có sắp cho đủ thứ tự, hầu biết mà hành Đạo, xong rồi sẽ dưng về Hiệp-Thiên-Đài.

NHƠN, con chớ có buồn những việc đã qua rồi, con phải lo cho rồi cái trách-nhậm của con.

Nghe thi:

Trăm ngàn hoa cỏ một non xanh,

Hoa đượm màu tươi cỏ đượm mình,

Hoa cỏ hiểu chăng công Vũ-Lộ,

Hiểu chăng hoặc có tiếng ca Oanh.
Ca Oanh thảnh thót giọng u nhàn,

Nam Bắc bao gồm điệu chứa chan.

Cội phước dây oan ai có rõ,

Trớ trêu mối chỉ nhuộm xanh vàng.


Xanh vàng mối chỉ mắc tình đời,

Mối Đạo nào ai chống nổi Trời,

Tòng Bá tuyết sương khoe tiết-tháo,

Càng sương càng tuyết lại càng tươi.


Càng tươi càng đẹp vẻ tinh-thần,

Chấp-chưởng Đạo Trời há nại thân,

Thân hữu thân sanh thân phải tử,

Tử sanh Nhân-Quả, Quả rồi Nhân.


Quả Nhân, Nhân Quả chớ đeo đai,

Biển khổ ngày đêm chớ miệt mài,

Mượn nước Từ-Bi nhành Bác-Ái,

Tuần tuần thiện dụ độ Anh-Tài.


Anh-Tài chớ nệ cuộc lâu mau,

Tuyết đóng càng thêm núi đẹp màu.

Gánh nặng đường xa thêm đá dựng,

Đường xa chớ hỏi dặm là bao?


Hỏi dặm là bao có ích gì,

Sông lần lần chảy, tháng lần đi,

Tháng thành thế-kỷ, sông thành biển,

Sông biển đâu nào có hỏi chi?


Hỏi chi thêm bẩn chí công tu,

Chơn-Lý cao thâm giữ một màu.

Vững dạ mựa sờn cơn khổ huống,

Càng lâu càng vững trải ngàn thu.


Ngàn thu bồi bổ khối Thiêng-Liêng,

Mừng được cho ai gặp bạn hiền,

Gặp bạn khuyên ai nương ý bạn,

Sao cho rộng mở cảnh sông Kiên.


Sông Kiên suối nước dợn long lanh,

QUẾ đượm hơi Tiên trải mấy cành,

Thỏ-thẻ đờn Oanh nguồn róc rách,

Trăm ngàn hoa cỏ một non xanh.

Con cứ vững dạ, ĐỨC-CHÍ-TÔN có dạy: hễ đến đâu thì Người sẽ chỉ thêm đến đó cho.

NGỌC-CHIẾU-THANH, Bần-Đạo rất tiếc cho Đệ-tử, công quả của Đệ-tử rất nhiều, mà tội lỗi của con cũng chẳng ít. Chẳng phải là ĐỨC-CHÍ-TÔN không mách bảo dạy dỗ con, sao con nỡ lầm phân Tà–Chánh. Tiếc thay cho PHẤN, người có công lao to, đáng làm tấm vách thành cho Chơn-Lý, song cũng vì đảo điên, nên lầm phân Tà–Chánh.

CHIẾU, ngày nay con hối hóa tự tân, Bần-Đạo mừng khen con đó. Con phải phổ-độ các anh em con, vì nó ngó theo con, mà phải bị tai ương, bảo nó đều phải ăn-năn sám-hối về nơi Chơn-Lý.

Con phải thường đến Tòa-Thánh Trung-Ương mà dạy Đạo cho các em con và phải biểu anh em con ráng làm luận-văn từ câu Thánh-Huấn, đừng cho nói sao khẩu, đến khi rốt cuộc rồi thì bụng cũng trống lổng. Khi nào luận-văn bất đồng ý kiến, thì phải dưng về Hiệp-Thiên-Đài xét lại.

Con cũng có trách-nhậm nặng nề nói Hiệp-Thiên-Đài, nghe thi:
Ruồng thông gai gốc đến non Tiên,

Dốc gặp Chơn-Sư học bửu-truyền,

Sức mạnh công dày thương bấy trẻ,

Cho hay Phật vốn ở Tâm-Điền.


Tâm-Điền là gốc cội người ta,

Bìm sắn đừng cho loán phủ nhà,

Nổi ngọn Truyền-đăng tan hắc ám,

Mặc tình thong thả cõi Ta-bà.


Ta-bà thế giới khắp Năm Châu,

Có cái chi hơn cái Đạo mầu,

Thông được Đạo rồi Trời cũng Một,

Một Trời, một Đất, một Hoàn-cầu.


Hoàn-cầu đã biết gọi là Năm,

Có lớn chi đâu chớ tưởng lầm,

Sánh có Tu-Di dường cát bụi,

Khuyên con Chơn-Lý ráng phăng tầm.

Phăng tầm cho rõ Đạo là chi?

Chớ để ngày qua bước trễ kỳ,

Rõ được thế gian tuồng mộng ảo,

Buồn lòng mượn cớ tụng A-Di.

A-Di Phật ấy có đâu xa,

Chánh lý dầu ai cũng Phật-Đà.

Lục dục khuyên con mau dứt bỏ,

Còn đeo một mảy hóa tà ma.


Tà ma hại Đạo cũng vì ai?

Cũng tại bùi nghe tiếng dịu tai,

Ngọt mật chết ruồi lời sẵn ví,

Đừng ai phỉnh mượn tiếng Cao-Đài.


Cao-Đài Đại-Đạo, Đạo Trời sanh,

Đạo dạy người phân chuyện dữ lành,

Đạo chẳng khuyên lo hành sắc-tướng,

Đạo lo giải cứu Vọng nhơn-tình.


Nhơn tình điên đảo nhắc càng thương,

Bào ảnh say mê chốn mộng trường.

Ngon ngủ quên lo khi tỉnh giấc,

Giựt mình mới rõ cuộc Huỳnh-lương.


Huỳnh-lương đã rõ cuộc không không,

Nẻo chánh khuyên con giữ một lòng.

Ruộng sẵn, người dư, mầm giống tốt,

Từ đây Chơn-Lý sức ruồng thông. (Thăng)

—————————d&c—————————

NGỌC-HƯ-CUNG

CHƯỞNG-GIÁO-THIÊN-TÔN

Mừng chư Đệ-tử, bình thân.

THÁI-AN-THIÊN: Bổn-Sư vui thấy con có lỗi mà biết ăn năn. Bổn-Sư có lời khuyên Tứ-Bửu phải khắn khích với nhau, chung trí với nhau trong sự hành Đạo.

NGỌC-TINH-QUÂN: Bổn-Sư mừng cho bài luận-văn trước của Đệ-tử có mòi tấn phát, song con có muốn giải cho ráo sự Thời-gian và Không-gian của Thầy hỏi, thì con phải trải qua cho đủ mấy từng Không-gian, thì con mới biết được cái Thời-gian ở trong ấy.

Người nào đến bực Không-gian nào, thì trí thức mới vừa được hưởng cái Thời-gian ấy.

Bổn-Sư ví dụ cho con nghe:

Một người nào đứng ở trên mặt Địa-cầu nầy, thì vừa hưởng được cái từng Không-khí của cái Không-gian trên mặt trái Địa-cầu nầy mà thôi; mà cái từng Không-khí của cái Không-gian trên mặt trái Địa-cầu nầy muôn ngàn điều uế trược, cho nên cái Thời-gian của cái Thời-kỳ của một người ấy phải chậm lục, điên đảo, xảo trá, hoặc là chất phác vụng về.

Chẳng những người ấy chẳng thấy được cái Thời-gian của cái từng Không-gian trên mặt trái Địa-cầu nầy mà thôi, mà người ấy cũng chẳng biết cái Thời-gian của nó đã ảnh hưởng của cái Không-gian trên mặt trái Địa-cầu trong một ngày, một giờ, một phút, coi ra sao, vì là một phút Thời-gian của nó đã ảnh hưởng của cái Không-gian nầy, nó lộn xộn trong trí tưởng của nó, không biết bao nhiêu việc. Ấy là việc trong một phút, chớ còn trong một giờ, một ngày, một tháng, trải biết bao nhiêu lần một phút? Thử bảo nó lấy sổ thống-kê trong một tháng của nó, coi nó có biết được cùng chăng? Huống chi là trọn cả đời của nó, mà nó biết sao cho được? Vì là muôn việc của nó ảnh hưởng, đều tại nơi cái từng Không-khí của cái Không-gian ô-tạp nầy, làm cho nó mất hết cả Tinh-Thần của nó mà nó không biết.

So lại cũng là người ở trên mặt trái Địa-cầu nầy, mà Tinh-thần đã vượt qua khỏi cái Không-gian ô-tạp nầy, lên đến từng cao hơn một thí, thì cái từng Không-khí của cái Không-gian trên ấy nó phải nhẹ hơn một thí, thì cái thời gian ấy phải lẹ hơn, hóa ra cái Trí-thức của người ấy phải sáng suốt hơn.

Chẳng biết mấy từng Không-gian mà kể. Từng Không-gian nào thì cái Thời-gian cũng đều khác nhau. Càng cao, càng mau, càng lẹ, càng trong, càng sáng, càng gần được với Thầy.

Thương thay!! Những đứa phàm-phu, mảng tranh giành với nhau cái Không-gian ô-tạp nầy, mà tự gọi là được hưởng bực Tối-Thượng-Thừa.

Thương thay! Biết bao giờ tránh cho khỏi Luân-hồi.

Bần-Đạo ước ao sao con đem đoạn nầy ra giải cho các anh em con hiểu, tùy theo người và bịnh, thì hoặc may con cho thuốc mới lành được.

Bổn-Sư cũng ao ước cho các con của Thầy, mỗi người đều phải nghe cho rõ đoạn nầy, chớ Đấng Tạo-Hóa không thế nói cho từng người phàm-phu được, các con tự xét thì hiểu.

Bổn-Sư ước ao các con của Thầy phải tùy theo bực mà Tu-Tâm Dưỡng-Tánh lấy, cho mau tấn-phát, đừng ai ngăn rào mà phải sa vào lưới Trời.

Phần con, từ nay phải hiệp cùng NHƠN-CHIẾU mà lo mở Đạo-Tràng nơi Trung-Ương. Con phải nhớ câu: ỨNG BỊNH DỤNG DƯỢC. Trong vòng người nhập Đạo cũng có nhiều bực; phần con đã biết đi, biết chạy, sao con không ngó lại coi biết bao đứa mới vừa đứng chững, mà con biểu chúng nó như con được sao? Đã biết Trời gần tối, phải chạy cho mau mới ra khỏi rừng thú dữ, mà nhiều đứa mới vừa biết đi lẫm đẫm, con đành bỏ nó sao?



Thầy giáo hay, mới dạy trẻ ấu-trĩ được, vì là thầy thiện-nghệ nên biết cách “tuần tuần thiện dụ”. Trái lại, người thầy dở, không bao giờ làm được như vậy. Giảng Đạo cũng thế, Bổn-Sư rất trông mong con.

Những điều chi của Thầy giáng bút dạy, hoặc là Thầy sai chư Tiên giáng bút dạy, đều phải coi lại mà thi hành, chớ nên bỏ qua, bỏ sót, vì đều là những việc lọc lừa trong Nhứt-Kỳ và Nhị-Kỳ, đặng đem lại mà dùng cho Tam-Kỳ.

Cái Tánh ở giữa cái Tâm và cái Ý. Nếu Tâm, Ý phóng túng hoài, thì Chí-khí phải cường-bạo, thì cái Tánh khó bề phản-bổn phục-nguyên theo về với Đạo, cho hiệp với . Muốn cho Tâm, Tánh, Ý, Chí, Khí cho được Như Nhiên, thì phải hiểu Định-Tâm làm trước. Hiểu biết rồi, phải làm và phải dạy người làm.

Bổn-Sư đã trao mấy bài luận-văn của chư Đệ-tử qua Vô-Vi Hiệp-Thiên-Đài, còn chờ Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài Định-Tâm, vì nó quá lòng Bác-Ái kém đức Từ-Bi.

THÁI-AN-THIÊN giàu lòng Từ-Bi kém bề Bác-Ái.

THÁI-THANH-SƠN thấu rõ sự Tu phải kiên nhẫn, đáng khen, song chưa thấu rõ Công-Bình, Bác-Ái.

NGỌC-TINH-QUÂN, hỏi con: thấy rõ Bác-Ái, sao con hờ hỏng Công-Bình?

CHIẾU, PHẤN cần phải Định-Tâm.

Có nhiều bài luận-văn làm rất thấp thỏi, mà rất phù hạp Thánh-Ý, Bổn-Sư rất vui mà thấy những bài như vậy. Có kẻ lại làm theo lối văn vần, không có ý vị chi hết, chư Thiên-Tôn rất chẳng bằng lòng.

Đến nay Bổn-Sư thấy nhiều đứa đã hiểu rõ, nên bỏ đường xưa mà theo về Chơn-Lý; Bổn-Sư rất khen.

THÁI-CA AN-THIÊN, con trao lời nầy cho NGỌC-PHẤN-THANH:

Bần-Đạo rất thương cho Đệ-tử không chắc lòng về theo Chơn-Lý. Con cứ thử Thầy hoài, thành ra sa lầm nẻo Chánh. Bần-Đạo ví dụ cho con hiểu:

Một người bịnh trầm trệ, tại sao nay đến quan Lương-y nầy xin toa, mai đến quan Lương-y nọ xin thuốc, mốt đến quan Lương-y khác tuần mạch.

Trong mấy vị Lương-y ấy, người bịnh chịu người thầy nào hơn hết? Thầy Phù-Thủy, vì thầy Phù-Thủy có bùa chú, sớm lấy máu trừ tà, chiều hóa phù ếm quỉ. Ngoài thầy Phù-Thủy ra, thì còn thầy Gia-Truyền, thầy giác, xác cô, xác cậu. Tại sao người bịnh lại đến nhiều Lương-y như vậy? Chẳng qua tại lòng muốn thử coi thầy hay dở đó thôi. Càng thử thầy, càng làm cho bịnh trầm trệ thêm thì có, chớ sự thuyên giảm vẫn không thấy chút nào.

Cũng thời Lương-y, mà một viên thuốc của Danh-y là một hột cơm của sự sanh hượt, một giọt nước cho kẻ khô khan. Người bịnh mệt vật-chất thì như vậy, còn con có bịnh thiêng-liêng, tinh-thần mờ mệt, muốn kiếm thuốc mà chữa, con đã gặp thuốc hay là CHƠN-LÝ, sao con nỡ bỏ đi tìm thuốc vô căn cội, sợ con thử riết, đến chừng nhớ lại thuốc hay, thì bịnh căn đã hết phương cứu vậy.

Người Thầy trị bịnh của con là ai?

Nếu nhớ biết thầy hay, thì con mau theo mà cầu cứu bịnh căn cho mau lành.

Con ôi! Thầy chỉ có một, mà ma quỉ quá đông, con chớ lấy phần đông làm chắc; lời phải của Thầy con ít gặp, còn lời quấy của ma quỉ thì con gặp nhiều. Trước kia con cùng CHIẾU đã nắm tay đồng đi, ngày nay đã rõ đường nào thật rồi, vậy thì chữ “đồng bịnh tương liên”, thì hai con phải đồng cùng nhau mà trở về đường Chánh. Con ôi! Đứa nào có căn với Thầy, thì Thầy đều kêu tên đủ ra mà dạy, nghe không mặc ý, Thầy không ép. Thầy cũng biết rằng: hễ Thầy kêu tên đứa nào, thì ma quỉ thường hay rấp ranh ngăn cản, nếu đứa nào thật Tâm biết tin-cậy CHƠN-LÝ ĐỘC-NHỨT thì tự nhiên dằn phàm tâm được.

THÁI-AN-THIÊN hãy trao lời nầy cho PHẤN.
Ớ các Đệ-tử:

ĐỨC-CHÍ-TÔN lập Đạo, dốc Phổ-Độ chúng-sanh dứt khỏi bụi trần, hầu về cựu-vị; cũng như người làm ruộng gieo giống, cốt cho kẻ đói được no, mà thương thay, bởi các Đệ-tử mê chướng quá nặng, đã không nghe Thánh-Huấn, mà lại canh-cải làm cho sái Chơn-Lý; có nhiều người xưng rằng là Thiên-Phong của Chơn-Lý mà chẳng thông cho trọn một câu Thánh-Huấn, lại tự tôn, tự đại, kết đảng lập phe, mê hoặc sanh-chúng; làm như vậy chẳng khác chi người làm ruộng mới vừa gieo giống mà đã bị nào chim, nào chuột, sâu bọ, kiến, dế bươi móc, phá hại hết. Than ôi! Cũng những người ấy đã không giữ hột giống cho tốt đặng có cấy thêm ra thì thôi, có đâu lại nỡ làm như loài phá hại sanh mạng của người. ĐỨC-CHÍ-TÔN đã hết lòng dìu dắt Đệ-tử về cựu-vị, mà Đệ-tử nỡ rước thợ khéo đem về đặng đúc bánh xe Luân-Hồi của Đệ-tử học đã không biết mấy muôn kiếp rồi.

Đang ngày nay, ĐỨC-CHÍ-TÔN lập Đạo-Tràng nơi Trung-Ương, là cốt mở rộng ý nghĩa Thánh-Huấn ra. Những Thánh-Huấn đâu đâu đều phải dưng về Hiệp-Thiên-Đài xét lại cho kỹ, vì chẳng phải đều là trọn lời của ĐỨC-CHÍ-TÔN giáng bút.

Chư chức-sắc phải ráng quan tâm mà học cho hiểu cái sự hành Đạo là phải cho hiệp với Chơn-Lý, phải làm luận-văn từ câu một của Thánh-Huấn; phải trao đổi ý kiến với nhau, lớn nhỏ thuận hòa, chớ lấy miệng tài mà giảng, mà cải, mà bàn; lại tự tôn, tự đại. Vị Thiên-Phong nào không biết viết thì đọc ý luận của mình cho thơ-ký chép, chớ đừng bỏ qua. Kẻ dốt phải đến trường mà học, người khôn phải đến trường mà dạy.

Hiện nay Thầy giao cho CA, KIÊN, NHƠN, CHIẾU, kiêm lãnh Đốc-Trường, sau có người khá, Thầy sẽ bổ thêm.

Các đệ-tử phải chăm nom un đúc bọn đồng-ấu, vì ngày sau chúng nó sẽ là rường-cột Chơn-Lý.


Ớ các con Hiệp-Thiên-Đài! Nghe lịnh Hiệp-Thiên:

+ Thứ nhứt: Hiệp-Thiên-Đài không phải chỗ chơi.

+Thứ hai:Chức-tước Hiệp-Thiên-Đài không phải dễ hưởng.

+ Thứ ba: Phẩm-Vị Hiệp-Thiên-Đài không phải dễ ban.

+ Thứ tư: Trật-Tự Hiệp-Thiên-Đài không phải dễ loạn.

+ Thứ năm: Thể-Lệ Hiệp-Thiên-Đài không phải dễ cải.

+ Thứ sáu: Qui-Điều Hiệp-Thiên-Đài không phải dễ khi.

+ Thứ bảy: Pháp-Luật Hiệp-Thiên-Đài không phải dễ tránh.

Tự lâu nay Thiên-Điều hay dung cho đứa thơ ngây lỗi lầm, vì lời dạy chưa ráo tiếng. Ngày nay, KỶ-LUẬT phân rành, chẳng ai được phép đến Hiệp-Thiên-Đài mà không có lịnh Bổn-Sư. Không ai được xưng Chức-Phận Hiệp-Thiên-Đài mà không có thọ mạng Hiệp-Thiên-Đài.

Lễ-Nghi, Pháp-Luật đều ra nơi Hiệp-Thiên-Đài. Vậy Chức-sắc Hiệp-Thiên-Đài phải giữ sự hành-vi Vô-Tư, lời nói Chánh-đáng, đi, đứng, nằm, ngồi phải cho trong sạch. Bần-Đạo khuyên Chức-sắc Hiệp-Thiên-Đài ráng giữ theo Kỷ-Luật, sau sẽ chỉ thêm.
Ớ các con Đồng-Loan!

Các con là cái máy Truyền-thinh của Đạo. Cái máy cần phải trong sạch. Muốn cho trong sạch thì phải năng lau chùi bụi bặm, để dầu cho trơn. Bụi đất ấy là Lục-dục, còn dầu là Lục-thông của Trời ban phú.

Các con còn nhỏ dại, muốn được Lục-thông mà không dứt bỏ Lục-dục, thì trong mình có chỗ nào chứa chi cho được.

Các con phải cho ngay thẳng, trong sạch, phải tin cậy CAO-ĐÀI ĐỘC-NHỨT và phải tùng lịnh Thiên-Sư.

TÚ, KIÊM: hai con được quyền phong Pháp-Sư Hộ-Đàn. Thầy cho hai con được lập Đàn riêng, là vì Thầy muốn thêm ĐỒ, TAM, SON. Song hai con phải dè dặt, không được bạ đâu cầu đó, phải có chỗ nhứt định và phải có lịnh của Thiên-Sư. Những Đàn riêng tự lâu nay đều hủy bỏ.

DIÊU: con là Điển-ký của Hiệp-Thiên-Đài, con không được có đàn riêng. Thầy giao hai trẻ cho con điều-độ thì con lo điều-độ mà thôi, đừng sanh vọng-tâm, vọng-niệm, vọng-tưởng, con muốn độc-lập sao? (Thăng)

—————————d&c—————————
NGỌC-HƯ-CUNG

CHƯỞNG-GIÁO THIÊN-TÔN

CA, KIÊN, NHƠN, CHIẾU lại thọ phong.

Đàn nầy là Đàn Bổn-Sư vưng lịnh Đức-Chí-Tôn đến phong cho đủ năm Thiên-Sư.

Vậy bốn con phải đồng ký tên vào một tờ Hồng-Thệ rằng: Tuân THIÊN-ĐIỀU mà làm một cách VÔ-TƯ”.

Bao giờ dâng tờ Hồng-Thệ cho Đức-Chí-Tôn rồi, thì Bổn-Sư tạm phong cho bốn con chức Thiên-Sư.
CA: ĐÔNG-SƯ KIÊN: TÂY-SƯ

NHƠN: NAM-SƯ CHIẾU: BẮC-SƯ
Bốn con phải tùy bổn phận nơi Hiệp-Thiên-Đài, hoặc nơi Cửu-Trùng-Đài mà giúp Trung-Ương.

Bốn con phải coi bổn phận mình làm trọng.

Hãy nhớ câu: “Dân sanh ư tam sự chi như nhứt”.

Vì vậy nên Đức-Chí-Tôn lập NGŨ-HÀNH THIÊN-SƯ-TÒA cho vững vàng nền Đạo, bao giờ Ngũ-Hành Thiên-Sư-Tòa được vững vàng, thì cái quyền NHỨT-TÔN ở phàm gian phải ở nơi TAM-TÔN. Bao giờ dân sanh biết trọng TAM-TÔN, thì khi ấy mới mong có quyền ĐỘC-TÔN.

Vì vậy nên ĐỨC-CHÍ-TÔN lập Đạo-Tràng là cốt để dạy cho rõ gốc TAM-TÔN.

Chư đệ-tử nơi Định-Tường, nghe Bổn-Sư dạy mà tự xét mình:



Đường Chơn-Lý Định-Tường chẳng nể,

Sanh vọng-tâm chia rẽ đệ huynh,

Sớm trưa lo việc chống kình,

Chẳng lo bồi đắp danh-thinh Cao-Đài.

Đạo cao trọng, mấy ai thấu Đạo,

Trời Từ-Bi, lại thạo dối Trời.

Mảng lo ích kỷ gạt đời,

Mà quên Thiên-Mạng của Trời phú trao.

Thương sanh chúng Thầy nào tự trọng,

Hạ mình lo giải Vọng Nhơn-Tình,

Chọn nơi làm gốc Dân-sinh,

Trung-Ương bền chặt giữ gìn Đạo-Chơn.

Nhưng hiềm nỗi: tiếng đờn kém giọng,

Dạ Từ-Bi Thầy phóng Thiên-ân.

Giao CA quyền được Sớ dâng,

Định-Tường Ân-xá người cần Lý-Chơn.

Thọ Thiên-ân mựa sờn tấc dạ,

Kể từ nay sắt đá giúp Thầy.

Trung-Ương lui tới sum vầy,

Vuông tròn bổn phận cho dày quả-công.

Trời tuy thưa, mảy lông chẳng sót,

Thiệt với Trời kẻo lọt biển trần.

Dối Trời đâu khỏi mắt Thần,

Dối Trời là hại Chơn-Thân của mình.

Khuyên các trẻ giữ gìn Đạo-Lý,

Đạo, Lý rành, CHƠN-LÝ mới xong.

LÝ-CHƠN Tâm-Tánh, giồi xong,

Thiệt hành một LÝ, vượt vòng phàm phu.

Phải nhớ chữ: Bạch-cu quá khích,

Phải gìn câu: Triêu-Tịch Tư Tư.

Con ôi! Mấy đứa nhàn cư,

Làm sao gặp được CHƠN-SƯ BÍ TRUYỀN.

Y sớ dưng Thầy liền hạ bút,

Phong các con thưởng chút Hồng-ân,

Từ đây trật tự ráng phân,

TỰ-DO, BÌNH-ĐẲNG, lần lần bỏ đi.

Đừng miệng đọc Từ-Bi, Bác-Ái,

Mà lòng lo MẶT, TRÁI, phỉnh người.

Các con Nam Nữ nghe lời:

CON TRỜI THÌ PHẢI SỢ TRỜI, nghe con? (Thăng)

—————————d&c—————————
NGỌC sắc Thầy treo giữa Ngọc-Đình,

HOÀNG ngôn thưởng phạt rất phân minh,

ĐẠI Ân Tứ-Thánh đồng dâng biểu,

ĐẾ bản nêu rành Bạch-Ngọc-Kinh.

Các con hãy định-tâm nghe Thầy xướng danh:


331.- Bạch-Ngọc-Kinh điển linh Thầy rọi,

Hiệp-Thiên-Đài ánh giọi Thần-Phan,

Trung-Thiên Điển giáng Thánh-Đàn,

Kiền-Khôn thế-giới ba ngàn bao la;

Tiêu-thiều nhạc trỗi thi CA,

Bắc Nam xướng họa một nhà chung vui,



Chung vui rộng mở cuộc ngày nay,

Chơn-Lý bay xa hớn hở mày,

Ước được Năm Châu đồng một dạ,

Mới là xinh đẹp tiếng con Thầy.

332.- Tiếng con Thầy cỏ cây nở mặt,

Vọi Kiên-Giang cao ngất Định-Tường,

Khuôn linh gầy dựng Trung-Ương,

Phơi gan sắt đá, dọn đường gai chông;

Rọi gương Chơn-Lý trùng PHÙNG,

Muốn cho trọn được Đại-Đồng Đệ-Huynh,

Đệ-Huynh tuy thấy khác màu da,

Thầy đã tường-phân vốn ruột-rà,

Ví dẫu đờn Nam mà nhịp Bắc,

Nhưng tuồng khéo sắp được bình-hòa.

333.- Được bình-hòa gần xa tương ứng,

Mũi núi xanh đúc vững một tòa,

Trời cao ai gọi rằng xa,

Bá, Tòng đôi ngọn Đông qua dờn dờn.

Riu đưa đầm ấm gió NHƠN.

Đâu nao tuyết bủa, chi sờn gió xao.

Gió xao, tuyết bủa, núi càng xinh,

Tú khí nồng nàn Đạo-khí sinh

Trăm cội xơ-rơ, Tòng Bá vững,

Đón ngăn gió bụi tấm phong-bình.

334.- Tấm phong-bình thinh thinh sẵn đúc,

Khí âm-dương nhặt-thúc ven tai,

Bóng ai thấp-thoảng hiên ngoài?

Nhắc câu Tam tỉnh, gọi bài Mười khuyên;

Chí thành nhẫn nại tâm KIÊN,

Báu Trời un đúc thiêng-liêng sẵn người.

Sẵn người ứng chực báu Trời dành,

Tánh, Mạng song Tu chớ cãi-canh,

Gương trước mắt soi hình với bóng,

Một điều sai-trại hại trăm lành.

335.- Hại trăm lành tại canh tại cải,

Báu Tam-Kỳ vầy dại, vậy khôn,

Trôn kim nếu chỉ chẳng lòn,

Mà mong sửa méo vá tròn sao xong,

Nửa cân, tám LƯỢNG đèo bòng,

Gióng dây thưởng phạt Hóa-công rán ngừa.

Ráng ngừa mắt Thánh với gương Thần,

Tạo-Hóa bao giờ sái mực cân;

Trọn tốt trọn lành ai có chỉ,

Chi bằng phải phải lại phân phân.

336.- Phải phân phân đừng cần dục-vọng,

Sửa cơ Trời lại lộng phàm tâm.

Cơ Trời thính tại vô-âm,

Lộng cơ Trời lại cơ-cầm rằng ngoan;

Dứt lòng ích-kỷ dưỡng AN,

Tịnh tâm mới được trông hoàn ngôi xưa.

Ngôi xưa đâu để nhiễm hồng trần,

Gió cuốn mưa lồng mới rộn xăng.

Cay, đắng, chát, chua, Thân-Nghiệp tạo,

Thanh nhàn mau dục lửa tham sân

337.- Lửa tham sân tưng bừng mây cuốn,

Khẩu nghiệp làm hại uổng công-phu,

Ảo-bào mộng-ảnh phù-du,

Trần duyên nhân-quả bao mù thế gian,

Đã không thức tỉnh linh QUANG,

Vui say nghiệp chướng, mê man Luân-hồi.

Luân-hồi quả báo Phật thường răn,

Con Phật mà mang hết nói rằng!

Phổ-độ đã khuyên đừng dối thế,

Mắt Thần như chớp lại như giăng.

338.- Chớp lại giăng chẳng rằng chẳng nói,

Mà đố ai giấu khỏi phân hào,

Công-bình ngọn bút Thiên-Tào,

Ngay-gian chơn-ngụy giấu sao qua Trời,

Dần, Thân, TỴ, Hợi tơi bời,

Bán-Thiên Mẹo, Dậu khuấy đời trẻ con.

Trẻ con chưa thạo các tuồng chơi,

Hụp, lặn nào hay chọc khuấy Trời,

Ngọn gió vừa rao xanh nám mặt,

Dị-đoan vía-dại một trò cười.

339.- Một trò cười tiếng đời người nhắc,

Đạo đâu làm mê hoặc chúng sanh,

Đạo là Bác-Ái, Công-Bình,

Đạo là Phổ-Độ ba nghìn thế-gian,

Chưa Đông tìm cách NGỰ hàn,

Chớ chờ Đông đến rồi than rét già.

Rét già mới rõ Luật Công-Bình,

Hồi tưởng người nào mải tuổi xanh,

Tích cốc phòng cơ toan sớm liệu,

Khuyên đời trân-trọng cái danh-thinh.

340.- Cái danh-thinh giữ gìn cho lắm,

Lời Thầy răn như tẩm Cam-Lồ,

Đạo là Thanh, Tịnh, Hư, Vô,

Âm Dương, phản phúc Hà-Đồ, Lạc-Thơ,

Chớ tin BẢN lạ mơ mơ,

Ngăn đường Chơn-Lý dựng cờ văn minh.

Văn-minh gốc chuộng tại tinh-thần,

Linh Tánh Thầy ban đứa mỗi cân.

Chọn đất, chọn người, tùy thứ giống,

Chớ rằng đây Hạ đó rằng Xuân.

341.- Đó rằng Xuân, đây rằng Đông-Chí,

Đông-Chí thì Dương-khí nhứt sanh,

Đã ban cho sẵn tánh lành,

Bỏ lành theo dữ, tại mình hỏi ai?

Chẳng tuân CHIẾU chỉ Thiên-Đài,

Để cười nhị-thụ hóa sai Chơn-truyền.

Chơn truyền thọ thọ tại duy duy,

Thánh-Ý đừng lầm nẻo Tứ-Phi,

Chơn-Lý rẽ chia vì dục-vọng,

Hồi tâm mau dứt cuộc tham si.

342.- Cuộc tham si dứt đi mới được,

Khuyên ai đừng dụng chước Thiên-cơ,

Trung-Thu chớ gọi trăng lờ,

Trước sau tại một nước cờ hư nên,

Tập roi mà THIỆU lại quên,

Quan-Âm, Long-Thế, lạc quyền Trung-Ương.

Trung-Ương Chơn-Lý dựng đầu tay,

Thức-tỉnh người mê giấc mộng say,

Lằng đục tơ tằm no miệng kiến,

Già lời quên nghĩ trả là vay.

343.- Trả là vay gác tay nghĩ tột,

Cũng một nhành trái ngọt, trái chua,

Đạo không dạy việc tranh đua,

Đạo dạy giúp-vùa năm giống một Cha,

Khôn lanh sao bằng THIỆT thà,

Chung hiệp một nhà cứu sống thế gian.

Thế-gian cũng một cửa nhà chung,

Ai nỡ chia ra đứa một vùng?

Đã gọi đứa khôn thầy đứa dại,

Vụng mà gọi khéo nói sao cùng.

344.- Nói sao cùng không không, sắc sắc,

Có Chánh-Tâm mới dứt loài tà,

Phật tuy số gọi hằng hà,

Trần-gian yêu-quái biết là mấy môn.

Đành vùi cát bụi PHẤN son,

Đảo điên trật tự, hao mòn thân-danh.

Thân-danh quí báu giữ cho bền,

Có cái danh nầy mới có tên,

Có tuổi, có tên, danh phải có,

Danh là rường cột, Đạo là nền.

345.- Đạo là nền đừng quên mối Đạo,

Có Đạo rồi mới tạo thế-gian.

Tin chi cái Đạo mơ màng,

Học chuyện tuần-hoàn sái Đạo dễ yên,

Đạo khuyên chánh TRỰC tự nhiên,

Không thông-hiểu Đạo, chưa duyên hiện thời.

Hiện thời mối Đạo tợ tơ vò,

Xau xé nhau vì sự ấm no,

Quen nghiệp bán Trời đành phá Đạo,

Đạo nào có dạy việc mồ-hồ.

346.- Việc mồ-hồ nhố nhăng chán ngán,

Kế tinh ma mù quáng tối tâm.

Cơ thâm thì họa cũng thâm,

Cháy mày vì lửa bắt ngầm dầu trong;

Tràn lây nhành liễu cội TÒNG,

Phí công vun quén, nhọc lòng sâm soi.

Sâm soi, nào phải một đôi năm,

Họa phước vô môn tiếng chẳng lầm.

Bẻ nạng chống Trời, ngao tát biển,

Khuyên người hỏi lại cái lương-tâm.

347.- Cái lương-tâm phải cầm cho vững,

Mới thiệt rằng là đúng trượng-phu,

Hãy xem cái bóng Bạch-Cu,

Nào là xe ngựa lọng dù mà chi?

Biết rồi thì chớ hoài NGHI,

Tiền đồ làm trọng, thị phi chớ lầm.

Chớ lầm lạc lối, uổng công-trình,

Đường cả đồng đi dẫn chúng-sinh,

Ái, Ố, Tham, Si, tình thế-tục,

Luân-hồi ai có thế thay mình?

348.- Thế thay mình như hình với bóng,

Thì phải cần Đức trọng Đạo cao,

Dứt song cái sóng phong trào,

Tín thành, tín ngưỡng, chớ xao lãng hoài,

Một đường, thẳng bước Tiên ĐÀI,

Áo xiêm rạng vẻ Bồng-Lai chực chầu.

Chực chầu Tánh, Mạng chữ Thiên-Đình,

Phán đoán loài người phẩm trọng khinh,

Lưỡi sẵn có răng cần cẩn thận,

Khuyên ai chớ vội tánh phê bình.

349.- Tánh phê bình vô minh xúi dục,

Bởi nơi ngòi tam độc mà ra,

Đất bằng bỗng nổi phong ba,

Tại đâu chia rẽ NGƯỜI, TA, TA, NGƯỜI ?

Ráng lo phân GIẢNG Lý Trời,

Đừng lòng ích kỷ, bị lời sàm-ngôn.

Sàm-ngôn ru-rỉ dỉ bên tai,

Thảnh-thót đờn ca giọng đủ bài,

Thương bạn ráng lo khuyên dứt bạn,

Chánh Kim-Nam-Chỉ chẳng hề sai.

350.- Chẳng hề sai lòng hoài có một,

Mới gọi rằng rường cột Tam-Kỳ,

Cớ sao tiếng dặn chẳng ghi?

Trung-Ương là chỗ Thầy qui Đạo-Tràng,

Gióng cần sông Vị ngỡ ngàng,

Lưỡi thêm uốn ngạnh móc ràng Chỉ-Nam.

Chỉ-Nam chỉ rõ lượng Từ-Bi,

Chỉ nghiệp nhơn sanh nặng thể chì.

Gươm Huệ ướm trao cho rõ mặt,

Giúp cơn ngư dước buổi diên phi.

351.- Buổi diên-phi Hóa-Nhi cố cập.

Đường Lý-Chơn bồi đắp đã lâu.

Khen cho chung thỉ một màu,

Càng nhìn Thánh-Huấn càng sâu lại càng.

Nghiệm tường mới rõ tâm CANG,

Muốn thử đá vàng nổi lửa thét coi.

Thét coi thiệt giả kẻo chưa tường,

Ma quỉ hêu đòi gẫm khá thương,

Tiên Phật ngao du đâu có được,

Cú kêu dữ miệng, có ai nhường.

352.- Có ai nhường bước đường tấn hóa,

Rõ cơ Trời mau khá gia tâm,

Giăng tay rước bạn tri âm,

Cao sơn, lưu thủy, khúc cầm Hữu-thanh.

Vầy vui đủ bạn công KHANH,

Tứ-dân, tứ-thú, dựng thành Đạo cao.

Đạo cao cùng chẳng tại nơi mình,

Khuyên trẻ trau dồi cái tánh linh,

Cứu vớt chúng sanh cơn sóng khỏa,

Vững thuyền tế-độ buổi nghiêng chinh.

353.- Buổi nghiêng chinh lòng gìn Bác-Ái,

Tìm Lý-Chơn chẳng ngại công lao,

Cứu nguy thành lửa, cá ao,

Trước sao, sau vậy, chớ xao cang trường,

Công dày, sức vững, chí CƯỜNG,

Đừng chia phe phái, cứ đường Trung-Dung.

Trung-Dung Đạo Lý giữ đừng sai,

Bền bỉ từ xưa hỏi mấy ai?

Kính, Cẩn, Trang, Nghiêm, dè dặt lắm,

Nhứt Tâm, nhứt Đức mới rằng trai.

354.- Mới rằng trai đủ tài tế-độ,

Ngấm râu mày chớ hổ rằng trai,

Gìn lòng chớ chút lầm sai,

Dứt lòng Kiêu, Lẩn, được dài huệ ơn.

Sao cho trong sạch bổn-NGUƠN,

Nhớ lời dạy bảo thiệt hơn phân-trần.

Phân-trần với trẻ đã đôi phen,

Cái tánh kiêu-căng rất đỗi hèn,

Ma chướng ráng chừa, đừng bịn-rịn,

Mới mong gặp-gỡ cựu nhơn-duyên.

355.- Cựu nhơn-duyên sanh tiền khắng-khít,

Lòng chí-thành chẳng mích, chẳng phai,

Mối lằng miệng thế biếm bài,

Đá vàng một dạ, mặc ai xẻ sừng.

Công-phu, hiệu-quả, minh TRƯNG,

Đài Linh vuông tấc ngàn từng suốt thông.

Suốt thông Đạo cả bởi Trung-Dung,

Bền bỉ đừng cho uổng phí công,

Sẵn giống, sẵn phân, người cũng sẵn,

Thiêng-liêng cội cả ráng vun trồng.

356.- Ráng vun trồng cho sung cội đước,

Hãy nhớ câu hữu phước hữu phần,

Dứt xong được tánh phàm trần,

Tách xa Bắc-Ngụy, chẳng gần Đông-Ngô,

Vững vàng được bước tiền-ĐỒ,

Đừng tin son vẽ, phấn tô tượng màu.

Tượng màu Bác-Ái, dạng Từ-Bi,

Phỉnh kẻ mờ mê lập cánh vi,

Khuyên trẻ biện phân đường mối chánh,

Vàng mười chớ để lộn đồng xi.

357.- Lộn đồng xi để nghi sanh-chúng,

Đừng cho ai rẻ rúng Tam-Kỳ,

Biện phân cho rõ thau chì,

Phải tường thị thị phi phi một vài,

Trung-Ương lui tới anh-TÀI,

Giữ một tâm hoài hiền đãi sĩ chiêu.

Chiêu hiền đãi sĩ trọng anh hào,

Người một ta mười Đạo mới cao,

Khổ hạnh là đầu muôn cội cả,

Muốn nêu danh vọng dạ đừng nao.

358.- Dạ đừng nao mới cao phẩm hạnh,

Chữ, lời Thầy nhẫn nhịn làm đầu,

Một lời nhịn, giá mười câu,

Xét thương cho kẻ cơ cầu hiểm nham.

Tránh phường triêu tứ mộ TAM,

Đuôi ong nọc đỉa, máu tham chẳng cùng.

Chẳng cùng xét được dạ con buôn,

Phủi sạch ngoài tai chớ để buồn,

Đạo vốn không không, không sắc tướng,

Chúng-sanh càng mỏng mảnh hơn chuồn.

359.- Mảnh hơn chuồn thêm luồng dông dội,

Độ sanh-linh phải bội công-phu,

Chí công vén ngút vẹt mù,

Chỉ đường Chơn-Lý, nẻo Tu cho người.

Gỗ săng khéo CẨN thêm tươi,

Bâng bâng văn-chất, con người mới nên.

Mới nên đáng mặt đứa con Thầy,

Lúc thúc nuôi mình hổ cỏ cây.

Chơn-Lý bủa tràn nâng Võ-Trụ,

Đừng cho thầm thẹn tiếng râu mày.

360.- Tiếng râu mày đổi thay thời thế,

Chí hùng anh lại để trò cười,

Màn đời đã rộng con ngươi,

Mê say khói mộng báu Trời đem thiêu,

Thần Tiên khoái lạc tiêu DIÊU,

Lấp tai khổ ách, sẵn liều trường-sanh.

Trường-sanh muốn được lắm công phu,

Độ kẻ phàm cho dứt cái ngu,

Ngu sắc, ngu tài, ngu trật-tự,

Ngu danh, ngu lợi, mảng mê mù.

361.- Mảng mê mù vó cu lạc bước,

Nay nhằm đường ngư dước diên phi,

Dò lần hai chữ Học-Nhi,

Học-Nhi thì phải giải thi cung Thiềm,

Thông điều vãng cổ lai KIM,

Nhớ câu Đạo vốn phẳng yêm như tờ.

Như tờ giấy trải chẳng hề xao,

Dạy bạn đừng ham cách lộn nhào,

Bình-Đẳng ấy là điều Trật-Tự,

Quên bề Trật-Tự khó trèo cao.

362.- Khó trèo cao nổi trào ưu thắng,

Bởi Tiên ban đã sẵn tên đề,

Trần-duyên nay đã não nề,

Tiên-duyên tu tỉnh, mựa hề cải canh.

Chung linh TÚ khí khắp nghìn,

Chớ cho uổng phí công-trình tiền-thân.

Tiền-thân khổ hạnh có ngày nay,

Nay cũng dày công mới gặp Thầy,

Thẳng bước chớ cho ngừng nghỉ gót,

Mình nên bạn cũng được thơm lây.
Thầy lượm-lặt được Ba mươi hai (32) đứa Đại Thiên-Phong ấy. Tuy có đứa đã ngoại Đạo rồi, song Thầy còn kêu nó một lần chót nữa, đặng đến khi Thầy phán đoán Đại-Đồng Thế-gian, chúng nó không còn trách Thầy được.

Còn nhiều đứa đã được đứng nơi Bản Vàng rồi, song công-quả còn ít, hoặc thọ phong chưa được mấy ngày, nên Thầy chưa xướng danh. Mấy đứa ấy phải ráng, chớ bơ thờ hoặc là bán-đồ-nhi-phế mà rất uổng.

Lẽ thì Thầy phải xướng danh phái Nữ, song bên Nữ-phái những đứa ỷ có công lớn, đều có tội, vì phạm Luật Hiệp-Thiên-Đài. Có đứa thì tư-vị kẻ phạm luật, hoặc có đứa vì nhẹ dạ thì cũng đều có tội.

Thầy ước sao cho chúng nó ăn năn, sám hối.

Bên phái Nam cũng có nhiều đứa nhẹ dạ, chư Thần lấy làm hổ ngươi mà thấy chúng nó.

—————————d&c—————————


Thầy các con, các con Tịnh-Tâm nghe Thầy dạy tiếp:
363.- ĐƯỢC thơm lây cả bầy con dại,

Đừng ai làm phá hoại danh Thầy,

HIỆP-THIÊN Luật Cả Cao-Dày,

Đừng ai khoe giỏi nói hay cãi Trời;

Các con Nam Nữ nơi nơi,

Hễ rằng biết Đạo nghe lời mới nên.

364.- Mối Chơn-Lý cậy KIÊN gỡ rối,

Đứa vọng-tâm quá vội tự-kiêu,

Mượn danh tuân luật Qui-Điều,

Song lòng dối trá trăm chiều gớm ghê,

Thầm toan kết đảng kết phe,

Ma quỉ một bè vinh mặt rằng khôn.

365.- Tại các trẻ muốn chôn tánh mạng,

Ắt phải vương tai nạn phi thường,

Thầy đâu có dạ chẳng thương,

Thương sao cho được tai ương nó gầy,

Thầy thương nên mới tỏ bày,

Khuyên con Nam Nữ từ rày phải tuân.

366.- Cửa Hiệp-Thiên ngàn từng chớn chở,

Cửu-Trùng-Đài khuyên chớ Vọng-Đàm.

Xanh nào lấn được xanh chàm,

Muốn thông Đại-Đạo Nhứt Tam phải rành.

Mồ-hồ lăng-liếu mối-manh,

Mà mong thống-nhứt Nguơn Hanh mối-giềng.

367.- Phải nghiệm xét Hậu Tiên Thiên-Vận,

Đặng suy cùng vô tận, vô biên.

Đạo tìm những trẻ hữu duyên,

Ai vô duyên chớ xưng Tiên, gọi Thần.

Đạo là phẳng-lặng, trang-bằng,

Đạo không thử-thách, nhố-nhăng cãi Trời.

368.- Khuyên các trẻ nghe lời Thầy dặn,

Đừng để lòng cừu hận tham si.

Dứt dây ma níu, quỉ trì,

Tìm đường Chơn-Lý mà qui cho rành.

Đừng nghe kẻ cải người canh,

Vui nghe một phút tội hành lao lung.

369.- Biết sao nói cho cùng với trẻ,

Bởi Vọng-Tâm quên kể lời Thầy.

Đạo tuy ở khắp Đông Tây,

Mà ngôi Độc-Nhứt là Thầy đó con.

Thầy đâu có dạ Tự-Tôn,

Song ngôi CHÍ-BỬU, CHÍ-TÔN là THẦY.

370.- Ứa nước mắt thương bầy con dại,

Có lỗi thì ráng cải ráng chừa.

Thẳng dây mực nẻ đường cưa,

Đau lòng tại gỗ sớ thưa thịt tỳ.

Nhớ ngày KỶ-NIỆM TU-MY,

Con nào tội ác khó qui vào trường.

471.- Lập Trung-Ương nghĩa-phương dạy trẻ,

Nhắc các con tiên Lễ, hậu Văn,

Anh em khắng khít muôn phần,

Dưới trên hòa thuận, khuyên đừng trắng đen.

Nước trong nhờ có lóng phèn,

Người nên nhờ có bạn hiền sớm khuya.

—————————d&c—————————




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương