ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ TÒa thánh đỊnh tưỜng hội thánh chơn lý thiêN ĐẠo chơn truyềN



tải về 1.52 Mb.
trang8/13
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích1.52 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13

CHUYỂN MÊ KHẢI NGỘ

(Quyển cuối không có số, xuất bản năm 1934)


Sa Giang, ngày 21 tháng 9 âl (1933)

CHƯỞNG qua vụ đắc qua,

GIÁO Đạo kỳ truyền Đạo,

THIÊN mạng viết phi thường,

TÔN nghiêm thùy khả đảo.

Bần-Đạo chào chư Đệ-tử, chỉnh Đàn tiếp Đức-Chí-Tôn.


NGỌC đình sắc tứ luật Điều-qui,

HOÀNG lịnh sa thừa kẻ tự-khi,

ĐẠI kiếp đại thành kỳ tám chục,

ĐẾ ân rộng mở cảnh Vô-Vi.

Thầy chào các con. Các con bình thân nghe Thầy:


264.- Các con chuộng CAO-ĐÀI danh hiệu,

Mà không lo thấu hiểu Đạo mầu.

Ngàn khuyên muôn dạy đã lâu,

Lòng con bôi lọ một câu chưa rành,

Nói năng dường sãi niệm Kinh,

Gạn lòng lại thử ngọn nhành u ơ.

265.- Thầy thấy trẻ bơ vơ rất hổ,

Hổ nỗi con chưa rõ ĐẠO CHA.

ĐẠO CHA chánh trực vô tà,

Lời CHA đã dạy thiết tha từ nào.

Con mê giấc mộng ảo bào,

Lãng lơ Đạo Cả, ngọt ngào mồi ngon.

266.- Đứa mảng tính dại khôn, khôn dại;

Đứa say mê ân ái, ái ân.

Đành quên Đạo Cả tinh thần,

Đành vùi cát bụi Chơn-thân của mình.

Dầu cho hay biết tin lành,

Biết rồi cũng phủi, cứ gìn ý riêng.

267.- Tu nghe đọc “Mười khuyên” lỗ miệng,

Tu nghe cầu “Ngũ nguyện” đầu môi,

Tu vầy, Thầy gẫm than ôi!

Tu vầy sao thoát Luân-hồi đó con?

Tu vầy danh giá đâu còn,

Tu vầy Đạo Cả ai tôn, ai vì?

268.- Tu phải biết TAM-KỲ mở Đạo,

Vì các con ngơ ngáo thiện duyên.

Mê mang giấc mộng nhãn tiền,

Luân-trầm khổ-hải liên miên chẳng rời.

Khoe mình cậy thế gạt người,

Nghiệp-chướng rối đời, Trời thảm Đất than.

269.- Sao chẳng sét oan oan tội dữ,

Sao chẳng lo Trung-Thứ làm đầu.

Trái oan, oan trái, cơ cầu,

Trả vay, vay trả, mảy thu chẳng lầm.

Xưa nay những đứa cơ thâm,

Thiên-Điều báo ứng khỉnh khầm đâu sai.

270.- Thầy thuơng xót muôn loài sanh chúng,

Thường khuyên rằng: một rún, một nhao;

Trách con đành dạ lãng xao,

Trách con chẳng kể đồng bào là chi,

Trách con mảng tánh tham si,

Trách con đồng, kẽm, thau, chì chẳng phân.

271.- Loạn phép nước Thánh Thần đâu chứng,

Luật tự nhiên cảm ứng hẳn hòi.

Khuyên con thấy đứa trổ mòi,

Khá trừ chớ để hóa giòi trong xương.

Đạo Thầy chánh chánh đường đường,

Đạo dạy cang-thường, luân-lý, nghĩa nhơn.

272.- Đạo chỉ rõ Thiên-chơn thanh tịnh,

Đạo dạy rành bổn tánh linh thông;

Đạo-nguyên vốn thiệt hư-không,

Đạo-lý nghiệm cùng cách-vật trí-tri.

Đạo-tâm đã gọi duy vi,

Đạo ngăn cấm việc thị-phi lăng-loàn.

273.- Đạo khuyên giữ bình an trật tự,

Đạo nào cho chống cự mạng Trời,

Đạo không dạy việc rối đời,

Đạo dạy con người: “Dĩ hiếu vi tiên”.

Đạo lo công quả mãn viên,

Đạo gốc chí-thiền bất lụy tu du.

274.- Các con sẵn trượng-phu tâm tánh,

Khá mau lo xa lánh mê đồ.

Trời Nghiêu, cổ phúc hàm bô,

Đạo-duyên thiện-niệm qui-mô sẵn sàng.

Tức tâm tức Phật một đàng,

Lập công tiêu nghiệt, dưỡng an tinh thần.

275.- Thấy nhiều trẻ siêng năng cầu Đạo,

Tưởng Đạo Thầy ở dạo núi non,

Hoặc là ở bãi, ở hòn,

Bạ đâu tin đó, nghe đồn cứ đi.

Chẳng cần cạn nghĩ kỹ suy,

Đói ăn bánh vẽ, ích gì mà mơ.

276.- Có trẻ tưởng Đạo-thơ là chắc,

Cứ lần mò, lượm lặc Đơn-Kinh,

Chẳng lo phổ-độ chúng-sinh,

Lo trông Hổ-giáng, lo rình Long-thăng.

Khác nào bịnh liệt trở trăng,

Mà tra tánh dược, bịnh căn sao lành?

277.- Cũng hiếm trẻ lập công sáo ngữ,

Dày công-phu nuốt chữ tam sao.

Khen cho hạnh khổ công lao,

Mà rồi công-quả lạc vào “Bàn-Môn”.

Dẫu cho tiếng nổi như cồn,

Khác nào bông giấy điểm son ích gì?

278.- Chỉ cho trẻ đường đi phổ-độ,

Ấy là đường cứu khổ tiêu tai.

Đừng cho sanh-chúng bi-ai,

Đừng cho sanh-chúng vướng chày tứ-phi.

Rèn lòng cẩn thận tứ tri,

Một lòng son sắt qui-y theo Thầy.

279.- THẦY thường dạy đừng bày chuyện lạ,

THẦY thường răn đừng tá danh “Thầy”.

THẦY thương trẻ dại thơ ngây,

THẦY dìu dắt trẻ đường ngay công bằng.

THẦY đâu dạy việc lố lăng,

THẦY đâu dạy võ, dạy văn, dạy phù.

280.- THẦY dạy trẻ việc tu phải xét,

THẦY dạy con phân biệt Chánh Tà.

THẦY đâu dạy việc tinh ma,

THẦY đâu dạy việc bất hòa dưới trên.

THẦY khuyên việc phải, việc nên.

THẦY đâu dạy trẻ học tên phong thần.

281.- Các con ráng cân phân cho kỹ,

Con phải tìm Đạo Lý mà theo.

Đừng mê những việc hiểm nghèo.

Đừng nghe những tiếng trớ trêu phỉnh phờ.

Trăng trong, mây phủ, trăng lờ,

Con phải biết bờ, biết bến mới hay.

282.- Đạo Thầy dạy càng ngày càng tới,

Bởi các con chưa mới lấy mình.

Lời Thầy đã dạy đinh ninh,

Con tua Tam-Tỉnh, hớ hinh đặng nào.

Con mong mỏi được Đạo cao,

Chánh-tâm thành-ý, chớ xao lãng lòng.

283.- Ráng chí công dứt vòng Dục-vọng,

Đừng để cho tâm động mà hư.

Kìa xem những bực Như-Như,

Thần, Tiên, Phật, Thánh trước trừ lục căn.

Nhứt-Thành cho đặng trang bằng,

Tự nhiên con gặp Nguơn-Thân Tánh Trời.

284.- Con phải nhớ những lời dạy trước,

Kiếp Ngũ-Lôi kế dượt gần đây.

Con nào tỉnh tỉnh, say say,

Kiếp đọa căn đày, đừng trách móc ai.

Con nào mượn tiếng CAO-ĐÀI,

Phải biết rằng Trời giữ luật Vô-Tư.

285.- Còn những đứa “nhàn cư bất thiện”,

Sao quên câu “như kiến phế cang”,

Đã sanh trong cõi trần-hoàn,

An thường thủ phận, đừng toan hại đời.

Công dư nên giúp cho Trời,

Bằng không khuyên chớ: dối Người, gạt Ta.

286.- Một đời vốn có ba tấc thở,

Đừng để cho dở lỡ công trình;

Phải lo giúp sức Hiếu-sinh,

Phải lo cho được công thành danh thơm,

Phải lo xuôi nước thuận bườm,

Phải lo biết nghĩa áo cơm cội nguồn.

287.- Dùng gươm Huệ dứt luồng tai ách,

Mượn Cam-Lồ rửa sạch trái oan,

Dắt nhau đến bến Từ-Hàng,

Trương bườm Chơn-Lý tìm đàng Bổn-Lai.

Nhứt tâm đừng lựa nay mai,

Nhứt tâm mới gặp CAO-ĐÀI cảnh xưa.

288.- Thấy các trẻ mắc lừa mưu quỉ,

Quen giọng đờn quên nghĩ Chơn-Thân;

Vầy đoàn hiệp lũ lăng xăng,

Đồ danh trục lợi Nghi, Tần, hoành, tung;

Reo hò đạo đức ung dung,

Mà lòng nham hiểm nọc ong miệng lằng.

289.- Con phải giữ tấm thân là trọng,

Luật Cao-Xanh lộng lộng chẳng sai.

Con nào vào cửa Cao-Đài,

Thì đừng lòng một dạ hai bán Trời.

Con nào muốn được nên người,

Thì phải giữ lời Thầy dạy chớ nên.

290.- Thầy chực sẵn chiếc thuyền phổ-độ,

Đưa người qua biển khổ sông mê;

Còn ai nặng kiếp chẳng về,

Thì tay thuyền chủ khó bề đợi trông.

Con nào muốn sạch bụi hồng,

Thì phải ghi lòng tin cậy có Cha.

291.- Muốn cậy Cha phải ra công khó,

Phải Chí-thành lo độ kẻ mê.

Sao cho lớn nhỏ đề huề,

Sao cho trên dưới đừng nghe chuyện xằng;

Sao cho ngay thật ở ăn,

Sao cho tánh hạnh mười phân vẹn mười.

292.- Đừng để tiếng trò cười CHƠN-LÝ,

Đừng cho ai khinh bỉ TAM-KỲ.

Con ôi! Tạo-Hóa tiểu-nhi,

Ai tuân thì được, ai khi thì lầm.

Ai mà có chút giả tâm,

Mượn danh CHƠN-LÝ mưu thầm phải vương.

293.- Đuốc CHƠN-LÝ TRUNG-ƯƠNG sáng tỏ,

Người đi đường phải ngó mà theo;

Thuyền đi vững lái êm lèo,

Bộ đi tránh khỏi hiểm nghèo gai chông.

Ấy là đuốc CHỦ-NHƠN-ÔNG

Cả mưa chẳng tối, to dông không lờ.¢

—————————d&c—————————


NGỌC bàn lố lố trọn trong tay,

HOÀNG lịnh tùy thời cuộc trở day,

ĐẠI giác đại thừa chờ đại mạng,

ĐẾ ân tràn bủa khắp Đông Tây.

Thầy ban ơn cho các con; bình thân nghe Thầy:


294.- Các con chớ bơ thờ mối Đạo,

Đạo càng cao, quỉ ngạo càng nhiều;

Thích-Ca vững chí chẳng xiêu,

Da-Tô chắc dạ trăm chiều chẳng day.

Quỉ ma mưu kế khó tày,

Ai biết có THẦY, ma quỉ phải dang.

295.- Các con dốc tìm đàng CHƠN-LÝ,

Trước lo trừ tà mị nơi tâm:

Đừng cho nứt mụt trổ mầm,

Đừng cho tược nảy, rễ đâm, sanh chồi.

Có đâu đã chẳng phân bồi,

Lại còn để ý đặng xoi đặng ngờ.

296.- Ngăn lụt nước, đê bờ phải chắc;

Dựng Đạo nhà, lục tặc phải trừ.

Đừng cho thiệt thiệt hư hư,

Đừng cho đứa dốt làm Sư nhà Thiền.

Phải cho khắng khít Mười khuyên,

Phải cho bền vững Năm giềng trước sau.

297.- ĐUỐC CHƠN-LÝ là đầu muôn việc,

CHƠN-LÝ rành thì diệt tà tâm,

Con ôi! CHƠN-LÝ cao thâm,

Muốn tường CHƠN-LÝ phải tầm đầu dây.

Cung tường cao vọi ngút mây,

Phải dò mực thước tay THẦY bởi đâu.

298.- Mắt chưa thấy góc bầu Thế-giới,

Cả miệng hô hoán cải Kiền-Khôn.

Biết sao là méo là tròn,

Biết sao là Xác là Hồn nói nghe!

Khuyên con trăm việc dặt dè,

Thị-phi việc thế, chớ hề để tai.

299.- Muốn hành ĐẠO đừng sai chữ ĐỨC,

Hành Đạo cho thiệt mực một đường.

Noi trang TỨ-THÁNH làm gương

Nên gương Đạo-Đức chữ THƯƠNG làm đầu.

THƯƠNG thì nhẫn nhịn nhường nhau,

Nhường nhau mới được trước sau thuận-hòa.

300.- TỨ-ĐẠI-THÁNH bốn nhà hiệp MỘT,

Mới đủ làm rường cột CAO-ĐÀI.

ĐẠO, NHƠN-TÂM vẫn có hai,

Hóa NHƠN thành ĐẠO dồi mài cho TINH.

Đã TINH lại NHỨT mới xinh,

NHỨT rồi cần phải giữ gìn KHUYẾT-TRUNG.

301.- Mười sáu chữ giữ lòng bền chặt,

Vẳng đêm ngày như nhắc bên tai.

Chấp-Trung đừng để sót sai,

Thầy đà dạy hũy dạy hoài nhớ chăng?

Tu hành vốn tại số phần,

Còn coi kiếp trước mấy lần có Duyên.

302.- Con dẫu muốn thành Tiên, thành Phật,

Phật ở lòng chơn-thật mà ra.

Có duyên đặng kiếp người ta,

Nghe lời dạy dỗ bỏ ta thiệt mình.

Sao cho trọn kiếp trường-sinh,

Học qui-củ chánh, đừng kinh-kệ quàng.

303.- Con những mảng đa mang chữ Vọng,

Quên Đạo Người, lại trọng Thần Tiên;

Đạo Người Hiếu-đễ vi tiên,

Quên phần Hiếu-đễ, Thần Tiên ai màng;

Suốt thông Hiếu Đễ mới ngoan,

Lầm thông Hiếu Đễ hại càng xiết bao.

304.- Con thử nghĩ Đạo cao là mấy,

Đạo đâu dùng việc quấy phỉnh con.

Đạo lo sau trước vuông tròn,

Đạo đâu dạy việc chia môn rẽ vời.

Đạo không cả tiếng lấp lời,

Đạo dạy biết TRỜI, biết PHẬT, biết THÂN.

305.- Con chớ học nghĩa nhân ngoài miệng,

Con ráng xem Kinh Truyện Thánh Hiền;

Làm con không Thảo ai khen,

Làm em không Thuận như kèn không giăm;

Đồng-bào cốt nhục tình thâm,

Qua phần bậu bạn chớ cầm rằng chơi.

306.- Giềng bậu bạn nghiệm lời hơn thiệt,

Kẻo lầm tay xảo quyệt tinh ma;

Con ôi! Ích-hữu có ba,

Còn phần Tổn-hữu cũng là dư trăm;

Bạn nhơn, bạn nghĩa khó tầm,

Giống bạn âm thầm, khuyên dứt nó đi.

307.- THẦY hết dạ Từ-Bi với trẻ,

Sao các con chẳng nể lời THẦY?

Trớ trêu, khen trẻ gan thay,

Chẳng kiêng Núi vững, Đất dày, Trời cao.

Huỳnh-Lương là giấc chiêm bao,

Ráng học phong trào Ấp-Tổn Thuấn-Nghiêu.

308.- Sống tại thế chẳng nhiều bảy chục,

Lại còn vương họa phúc phi thường;

Thêm phần tật bịnh tai ương,

Sao không tích đức, bồi đường thiện căn?

Lo chi những việc nhố-nhăng,

Lo chi những việc ăn-năn muộn rồi.

309.- Cung Bạch-Ngọc vô hồi cảnh đẹp,

Khuyên các con khá dẹp phàm tâm.

Trời êm, gió tạnh, trăng rằm,

Xuôi chèo Bác-Nhã, khảy cầm Chơn-Như,

Tụng câu Tử-hiếu, Phụ-từ,

Ngâm bài Âm-chất đặng trừ thói mê.

310.- Lời chánh đáng ai hề thấy đếm,

Tiếng phỉnh phờ ngày đệm đêm rù.

Con ôi! “Thân thể phát phu”,

Muốn Tu thì phải thiệt Tu mới thành.

Sao cho Tiên tịch đề danh,

Tu đừng bày việc tranh giành đảng phe.

311.- Tu phải biết Trời che Đất chở,

Tu đừng cầu sóng vỡ nước tràn,

Tu đừng bàn việc cơ hàn,

Tu đừng bày việc Hóa-càng Tiểu-nhi,

Tu đừng bàn việc tiên-tri,

Tu thì cứ giữ Điều-Qui chớ rời.

312.- Tu phải biết cơ Trời tối trọng,

Tu phải trừ Dục-Vọng Tham Sân.

Con ôi! Ai phước có phần,

Ai Tu nấy được, ai cần nấy thân.

Ớ con khắp cả dưới trần!

Muôn kiếp mấy lần, mới gặp hội ni?

313.- Đừng ai tưởng Hóa-Nhi bé bé,

Cầm Hóa-Nhi dường thể trò chơi.

Nếm coi miệng sữa còn hôi,

Luận việc lở bồi, điền hải, tang thương!

Khuyên con mau tỉnh mộng trường,

Đừng học theo phường sóng gió nói ăn.

—————————d&c—————————

KHƯƠNG phất Hạnh-Huỳnh trấn Hiệp-Thiên,

THÁI bình mong chúc vạn dư niên,



CÔNG khai công Đạo truyền Công-lý,

GIÁNG giải khuyên đừng tánh đảo điên.
Lão chào chư Thiên-mạng.…

CA, Hiền-đệ lo sắp đặt xong sẽ tái cầu, sẽ có Đức Chưởng-Giáo đến dạy việc. (Thăng)

—————————d&c—————————
CHƯỞNG quản Thiên-Đài sắc tự nhiên,

GIÁO khai Đại-Đạo hiệp chư Hiền,

THIÊN vô nhị nhựt lời hằng ví,

TÔN chỉ Tam-Kỳ độ hữu duyên.

Bần-Đạo mừng chư Đệ-tử.

Ớ các Đệ-tử yêu dấu! Người có Hồn mới khôn, Đạo có Hồn mới thành, mà Người có ba Hồn, bởi ba Hồn không hiệp, nên Ta-Người mới chia rẽ. Muốn Ta-Người đừng chia rẽ, thì Thần-Hồn chớ cải-canh Anh-Hồn. Như thế mới được hiệp-nhứt với Linh-Hồn mà về nơi Bạch-Ngọc-Kinh với Thầy.

Vì vậy, nên Thầy lập Tòa-Thánh hữu-hình nơi Trung-Ương đặng hiệp-nhứt với các con cái của Thầy.

Hiệp-Thiên-Đài: là chỗ dìu dắt Thần-Hồn, phải tuân lịnh Linh-Hồn mà hiệp-nhứt, chính là chỗ Anh-Hồn chầu chực Linh-Hồn, đặng rõ phân phải quấy, hầu có dạy lại Thần-Hồn; đặng hiệp-nhứt với Linh-Hồn.Thầy vì chư Đệ-tử nên phế Ngọc-Kinh xuống ngôi Bổn-Giác, đặng làm Linh-Hồn cho chư Đệ-tử, lẽ thì chư Đệ-tử phải tuân lịnh Hiệp-Thiên-Đài mới phải, có đâu Cửu-Trùng-Đài là chỗ của Thần-Hồn, sao cứ cải-canh Anh-Hồn hoài như thế, mong chi cho hiệp được. Đã có dạy:

Hai Chưởng-Quản chí mau hiệp một”,

Hai Chưởng-Quản còn chưa hiệp, thì mong gì cho ai hiệp-nhứt? Vì Thần-Hồn Cửu-Trùng-Đài còn nặng xác phàm, hay xiêu lòng, nên Anh-Hồn Hiệp-Thiên-Đài khó thế dìu dắt được, vì vậy nên Đạo gập ghình đó.

Thầy lại phân Cửu-Trùng-Đài để trao lời cho Thần-Hồn, cho Thần-Hồn tuân lịnh Linh-Hồn, Linh-Hồn đã dạy các việc, Cửu-Trùng-Đài cứ ỷ sức phàm, làm cho náo động đến Thiên-Đình. Ngày nay là ngày thứ nhứt của Thầy sắp sẽ ngự đến Tòa-Thánh Trung-Ương mà vắng mặt Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài. Lỗi ấy tại nơi ai?



Nơi Hiệp-Thiên-Đài chăng?

Chư Đệ-tử

Nơi Cửu-Trùng-Đài chăng? hãy xét lấy!
Lẽ thì ngày hôm nay Thầy lại ban Ân-điển đặng ân-phong cho Nam-Nữ tín-đồ nơi Định-Tường. Song vì thiếu mặt Chưởng-Quản, nên chiếu theo Luật Hiệp-Thiên-Đài, Thầy không thể gia-phong, nhưng vì Định-Tường chưa có hưởng chút Ân-huệ nào của Thầy, nên Thầy dạy Bần-Đạo phá lệ gia-phong trong một kỳ nầy, gọi rằng “Ân-Xá Định-Tường”.

Luật “Ân-Xá” nầy chỉ có bực Tiểu-Thiên-Phong và Tín-đồ được hưởng mà thôi. Còn các bực Đại-Thiên-Phong và các nơi khác phải đợi có mặt Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài mới được. Còn Kiên-Giang, Sa-Giang và Tân-An tuy đã có sớ của Hiệp-Thiên-Đài xin gia-phong, song không phải là phong theo Luật “Ân-Xá” ngày hôm nay vậy.

CA, đệ-tử phải biên tên những Tín-đồ Lễ-Sanh sấp xuống đã có công và chịu nhiều phen mang tiếng nặng. Hạn Ngọ mai dưng cho Thầy. Phải lừa lọc kẻ Tâm-Đạo và chớ nên biên những kẻ ngoại-giáo. Lệ nầy phong Tín-đồ hoặc Chánh Phó Trị-Sự Tâm-Đạo làm Lễ-Sanh, còn Lễ-Sanh lên Giáo-Hữu. Những kẻ ngoài Định-Tường mà đã hết lòng gìn giữ Chơn-Lý cũng được hưởng lệ nầy.

KIÊN, Hiền-đệ có thấy ai đủ sắc-phục Thiên-Phong chăng? Chư Thần lấy làm hổ-ngươi mà thấy các anh em của Hiền-đệ làm tuồng kép vá. Hiền-đệ hãy lo điều-đình cho có vẻ oai nghi. (Thăng)

—————————d&c—————————

NGỌC thành cho trẻ mấy năm chầy,

HOÀNG Giá ngày nay mới hiệp đây,

ĐẠI-Hội Tu-My truyền kỷ niệm,

ĐẾ-Đình rộng mở cuộc rồng mây.

Thầy mừng các con.

Ớ các con yêu dấu! Hôm nay là hôm thứ nhứt của Thầy được gặp gỡ các con tại đây, ấy cũng lần thứ nhứt của Thầy được thấy các con. Vì nhiều cớ các con không muốn cho Thầy thấy mặt nơi Tòa-Thánh Trung-Ương của Thầy lập ra cho các con qui hướng. Thế nên Thầy phải nhọc lòng dìu dắt các con hội diện tại đây cho Thầy thấy, ấy là ngày thứ nhứt của Thầy được gặp các con nơi đây. Phải chi các con bỏ tánh tham si, dẹp lòng dục vọng, diệt tánh tư kỷ đi, thì Thầy đã gặp các con cũng nơi đây ngày nầy tháng nầy năm đã qua rồi, có đâu đợi đến ngày nầy tháng nầy năm nay. Thật lòng tư-kỷ của các con làm cho bê trễ Đại-Đạo biết là mấy muôn đời cho thành. Muốn cho Đạo mau thành, các con phải tuyệt dứt phàm tâm, một lòng noi theo Chơn-Lý, ngày nào được như vậy là ngày Đạo-Thành.

Một tiếng Thầy dạy, các con không nghe, một ngày Thầy định, các con không đếm, mà lòng vọng-tưởng các con lại dẫy đầy. Thật hiếm có một bầy con chí hiếu như các con vậy. Thầy để lòng khen cho! Các con ở gần gũi Thầy mà còn vậy thay, huống chi những đứa xa xuôi Thầy, chúng nó càng nghịch-lẩn biết mấy. Thầy rất đau lòng!

VỊ, Thầy đã giao trách-nhậm ngoại-giao cho con, sao con nỡ quên lời Thầy dặn con phải tùng theo Chỉ-Nam-Châm. Thầy đã răn sự bắt cá hai tay của con, sao con nỡ quên đi. Con muốn làm theo ý riêng của xác phàm con thì được, chớ con nỡ quên phẩm-giá thiêng-liêng của con sao? Con muốn làm theo thời-cuộc của con tưởng thì được, chớ con nỡ vùi chôn Đạo sao con?

Người Chỉ-Nam-Châm của con là ai?

Thầy dốc cứu con đem về nơi Ngọc-Kinh với Thầy, dạy con công-quả đặng chuộc tôi xưa. Sao con càng cao phẩm-vị chừng nào, lại càng chác khẩu-nghiệp chừng nấy. Thầy thương, Thầy khuyên, Thầy răn, Thầy dạy, chớ chẳng khi nào Thầy dụ dỗ, quến rù. Thầy dốc chí sửa quấy cho con, quấy sửa rồi mới biết phải mà theo.

Tự ý con, muốn nghe Thầy thì nghe, hay là muốn nương Chơn-Lý đặng độc lập như ai, thì chớ than van cùng Thầy khi Đại-Đồng thế-gian.

VỊ bạch:………………………(rất vô lễ).

VỊ,Con,


Ngọc-Kiên-Tinh trả lời cho……………………… con, con VỊ, con có nhớ bài luận-văn của Kiên chăng? Thầy đã thường nói với các con: “lần tới đâu Thầy sẽ dạy tới đó”ù, các con muốn đoạt việc bí-mật của Tạo-Hóa sao? Thầy lấy làm buồn lòng gặp con ngang ngạnh như con vậy. THẦY là CHƠN-LÝ, Thầy có bao giờ dạy việc không Đạo-Lý, không Đạo-Lý chớ tưởng rằng Chơn-Lý được. Đạo-Lý là sao? là phải giữ theo Nhân, Nghĩa, Đức, đứa con nào phi-nhân phi-nghĩa là……… mặc tình các con. (Thăng)

—————————d&c—————————


TUYẾT lý tầm mai dị,

VÂN trung kiến hữu nan,

ĐẠO Qui Bán-Cửu-Số,

liễu thử tâm tràng.

Mừng chư vị. Xin chư vị bình-thân!

Ngày nay Dương-trần mừng được có ngày Xuân. Dương-trần biết mừng ngày Xuân, song Dương-trần chẳng biết ngày Xuân nầy bởi đâu mà ra đặng mà mừng. Thương thay! Dương-trần chỉ biết sự mừng giây lát mà quên cái thảm ngày ngày kiếp kiếp.

Người dương-trần ấy là ai? Ấy cũng đều là người của ĐỨC-CHÍ-TÔN, cũng đều là con của ĐẠI-TỪ-PHỤ. Mà lạ thay, cũng đồng là người Dương-trần ấy, mà có người lại biết cái sự sống của mình bởi đâu mà có, cái sự mừng của mình ngày Xuân nầy bởi đâu mà ra. Người nào nếu nhớ tưởng đến mà ra công tìm kiếm cái gốc của sự mình sống, của sự mình mừng, thì người đời cho là “Điên”, vì chê rằng chẳng biết đua chen tranh lấn sự sống, sự mừng theo thói đời, đặng lưu truyền lại cho mình cái sự thảm khốc bi ai đời đời kiếp kiếp.

Bởi Dương-trần có hai hạng người như thế, nên ĐỨC-CHÍ-TÔN mở Đạo ngày nay đặng Phổ-Độ người Dương-trần.

Ai có thật tâm muốn tìm cái gốc của sự mình sống, mình vui, mình mừng, thì theo về với Đạo. Còn ai mảng đua chen sự sống, sự mừng, sự vui của Đời, đặng tranh giành cái sự ác nghiệp về sau thì chịu lấy, dầu có mượn danh của ĐỨC-CHÍ-TÔN cũng là vô ích.

Trong lúc Tam-Kỳ Phổ-Độ nầy, cũng có Tam-Tiểu Thời-Kỳ Phổ-Độ ở trong, nghĩa là:

1.- ĐỨC-CHÍ-TÔN lúc mới Khai-Đạo, thì mở Đại-Lượng Từ-Bi, đặng truyền rao sự Bác-Ái; dầu cho ai, ĐỨC-CHÍ-TÔN cũng thâu dụng. Ấy là Đệ Nhứt Tiểu Thời Kỳ đó.

2.- Ngay như bây giờ, Người thâu dụng đã được nhiều rồi, nên Người phải lọc lừa lại, đặng gạn bớt những kẻ nhờ danh Đạo mà còn phản Đạo, lập ngoại-giáo, phá Chơn-Lý, dầu bề trong, dầu bề ngoài đều bị sa-thải. Có sa-thải, mới lọc lừa được, mà sự sa-thải ấy rất nên mầu-nhiệm, dầu cho ai cũng chẳng rõ thấu. Chớ tưởng khi Trời được mà phải mắc lưới Trời.

Nhưng mà ĐỨC-CHÍ-TÔN cũng để cho đủ ngày giờ cho những kẻ vì lòng vật-dục, lo bề ích kỷ, vì tánh kiêu ngạo, tính việc khoe khoang, vì tranh đua vật chất mà quên lo tu dưỡng tinh thần.

Những người ấy, cũng bởi chẳng dằn được cái tánh tham, sân, si mà ra, nên cũng có kẻ rủi ro bị sa thải mà không hay, nên không chừa. Cũng có đứa đã biết, mà không chịu cải-hóa. Bởi vậy nên ĐỨC-CHÍ-TÔN phải để đủ ngày giờ đặng dạy bảo chỉ vẽ những người ấy thêm cho cặn-kẽ kỹ-lưỡng, đặng rõ mà theo về Chơn-Lý. Ấy là sự Công-Bình của Đạo. Ấy chính là Đệ Nhị Tiểu Thời Kỳ ngày nay đó.

Trong thời kỳ nầy, rất nên tranh giành rắc rối, muôn phần cay đắng cho Người nào ra cầm mối Đạo cho được vững vàng.

Bởi rất Công-Bình, nên Đệ Nhị Tiểu Thời Kỳ, ĐỨC-CHÍ-TÔN phải làm như vậy mà gạn đục lóng trong, cho rõ lòng ai đã được Nhứt-Tâm, đặng Người đem qua Đệ Tam Tiểu Thời Kỳ.

Những người đã được gọi Nhứt-Tâm trong thời kỳ nầy, còn sẽ bị gạn lại trong Đệ Tam Tiểu Thời Kỳ nữa; cũng như những người được gọi Nhứt-Tâm trong Đệ Nhứt Tiểu Thời Kỳ chớ tưởng rằng là chắc, mà còn phải gạn lại trong Đệ Nhị Tiểu Thời Kỳ vậy.

Thương thay! Lúc nầy có người đã gần chấm đậu, hoặc là đã chấm đậu trong Đệ Nhị Tiểu Thời Kỳ rồi, cũng còn phải bị gạn lại đặng sa thải chẳng biết bao nhiêu.

Nói đến đây Bần-Đạo rất đau lòng. Thương thay! Thương thay!

Trong Đệ Nhị Tiểu Thời Kỳ, ĐỨC-CHÍ-TÔN hiệp cùng TỨ-ĐẠI-THÁNH, định khai Đạo và thâu dụng người làm đầu cho toàn vẹn trọn đủ tài đức, phòng qua Nhâm-Thân (1932) sẽ chuyển Đạo qua Đệ Nhị Tiểu Thời Kỳ, chẳng dè những người ấy thấy mình đã được thâu dụng làm lớn rồi, lần lần canh-cải Thánh-Ý, chẳng bao lâu lại dụng phàm-tâm mà hành Đạo theo ý riêng.

Bởi vậy nên Kỷ-Tỵ (1929), ĐỨC-CHÍ-TÔN phải lập tức day cán bút đặng gìn giữ mối Đạo cho được vững. Song ĐỨC-CHÍ-TÔN cũng trông mong cho những người ấy hồi tâm. Mà thương thay! Càng ngày càng lộng, cả gan dám rước quỉ-ý vào tâm thêm hoài.

Vì vậy nên Tân-Vì (1931), ĐỨC-CHÍ-TÔN phải Minh-Chơn-Lý cho rõ phân Tà Chánh, trông cho nhơn-tâm thức tỉnh, kẻo sa vào lưới quỉ không hay, mà uổng công-trình.

Trải Tân-Vì (1931), sang Nhâm-Thân (1932), qua Quí-Dậu (1933), chẳng phải không đủ ngày giờ, mà thương thay, chỉ một số ít Người biết ăn năn, song những người hồi-tâm trong thời kỳ nầy đều kẻ nơi chót lưỡi, người ngoài đầu môi đó thôi.

Cười thay cho những người đã gọi là trí thức mà quên hẳn cả Gốc Nguồn. Tội nầy sánh với tội những người ở thời kỳ trước, lại càng bội tam bội tứ.

3.- Ngọc-Sắc đã phê rõ rằng: Mậu-Dần (1938) sẽ lập Đệ Tam Tiểu Thời Kỳ cho trọn Tam-Kỳ Phổ-Độ.

Tự ý nơi các vị Thiên-Phong, muốn giúp Trời hành Đạo đặng chuộc tội lỗi xưa, hay là học Đạo nơi chót lưỡi đầu môi, để cho ĐỨC-CHÍ-TÔN còn sẽ phải chuyển Đạo nơi khác.

Bần-Đạo lố một chút bí mật Thiên-cơ cho các Thiên-Phong biết, mặc ý các vị liệu định. (Thăng)

—————————d&c—————————




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương