ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ TÒa thánh đỊnh tưỜng hội thánh chơn lý thiêN ĐẠo chơn truyềN



tải về 1.52 Mb.
trang7/13
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích1.52 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   13

Cao-Thiên-Đàn (Kiên-giang)

Đêm 15 tháng Tư năm Quí-Dậu (1933).

NGỌC báu Thầy dành để sẵn nơi,

HOÀNG phong Thiên chức phải trò chơi,

ĐẠI đồng thế giới Thầy chưa định,

ĐẾ lịnh khuyên ai chớ dể ngươi.

Nghe Thầy dạy:

91.- Thầy trước nói Đạo tròn thoạt méo,

Bởi các con chẳng khéo mà ra.

Tiếng đồn Chơn-Lý bay xa,

Các con nỡ để loài tà lộn xen.

Các con Đạo học thấp hèn,

Lại thêm đãi-sĩ chiêu-hiền cũng không.

92.- Kìa Chiêu-Thánh Thầy phong tạng mặt,

Được phong rồi tự đắc tự kiêu,

Nào hay kiêu ngạo bấy nhiêu,

Đều là thuốc độc tinh yêu nhuộm vào.

Dầu cho Tiên Phật phẩm nào,

Có lòng tự thị phải nhào chơn-ngươn.

93.- Ma quỉ dụng giọng đờn tiếng quyển,

Xuôi giục người nhiều chuyện hoang đàng.

Nhỏ to thầm tính mưu gian,

Quến người trí thức mê man tinh thần.

Các con mau tỉnh lần lần,

Có ngày may được xá-ân của Thầy.

94.- Trăng gặp lúc vừng mây che khuất,

Người phải tua nỗ lực tu hành.

Tu cho mục đích đành rành,

Tu đừng lập vị, lập danh, lập quyền.

Tu cho quỉ phục Thần kiên,

Tu đừng lo lập chùa-chiền hại dân.

95.- Thầy chuyển Đạo lẫy lừng bốn biển,

Thầy có đâu triếu mến chùa to.

Con nào muốn lập cơ đồ,

Bịa danh huyễn hoặc đừng hô danh Thầy.

Rìu trăng chẳng dụng đốn cây,

Rìu trăng dụng để đốn tay gian hùng.

96.- Thầy nhắn nhủ khắp cùng con dại,

Ai dạy làm việc phải thì nghe,

Chớ ham hiệp lũ vây bè,

Trăm điều cẩn thận kiên dè lắm con.

Đừng nghe tiếng ngọt lời ngon,

Khinh khi luật nước hao mòn thần linh.

97.- Loài quỉ mị làm chinh Đại-Đạo,

Bịa danh Thầy hại báo chúng-sanh.

Trung-Ương Thầy đã định rành,

Tiếng bay tỏ rạng danh lành chép ghi.

Từ nay chánh giống Tam-Kỳ,

Trung-Ương là chỗ Thầy qui Đạo-Tràng.

98.- Tiền, Trung, Hậu, Tam-giang kỳ quái,

Vốn mưu tà dẫn sái Đạo cao.

Tịnh-Vân đạo đức dường bao,

Rẽ phân thủ-túc dạ nào đành yên,

Làm cho sanh chúng đảo huyền,

Danh nêu Hắc-tịch, bản biên A-Tỳ.

99.- Mau sám hối Từ-Bi xá tội,

Để lâu ngày khó rỗi cho tiêu,

Nhọc lòng công quả bấy nhiêu,

Ham danh một phút Thiên-Điều khó dung.

Thấy con Thầy cũng động lòng,

Động lòng Thầy phải não nùng khuyên con.

100.- Tình liên lạc xử tròn một mực,

Qui Trung-Ương hiệp nhứt như xưa.

Đừng cho quỉ lận ma lừa,

Nhơn sanh đồ thán tội đừa tại con.

Đừng cho Đại Đạo hao mòn,

Ngày đêm nhứt nguyện nước non thái bình.

101.- Tu thì phải giữ gìn Tâm-Đạo,

Tu đừng cho quả báo luân hồi.

Minh mông thiên võng khôi khôi,

Chớ khinh mà mắc, mắc rồi khó ra.

Đạo nào Đạo lại rẽ ba,

Đạo là có một phải hòa mới nên.

102.- Mưu chước quỉ có bền đâu được,

Khuấy các con đục nước béo cò.

Than ôi! Con dại lầm to,

Miệng chậu kiến bò, nói chuyện thiên-văn.

Thương con Thầy dạy ân cần,

Khá tỉnh lần lần mới gọi chơn tu.

103.- Đèn Chơn-Lý phá mù sanh chúng,

Sao các con chẳng dụng rọi đường.

Rọi trong phế phủ cang trường,

Rọi ngoài luân lý cang thường cho xong.

Rọi cho thức tỉnh giống dòng,

Rọi gần cho rõ đặng phòng rọi xa.

104.- Ớ trẻ dại! Nghe Cha than thở,

Bỏ những điều lầm lỡ xưa nay,

Phải lo vén ngút rẽ mây,

Tạnh êm sóng gió kịp ngày qui nguyên.

Phải lo nhơn nghĩa vẹn tuyền,

Đừng cho xao dợn mới yên Nguơn-Thần.

105.- Sẵn lương-tri làm căn làm cội,

Bỏ lương-tri học hỏi đâu xa.

Lương-tri vốn thiệt Thầy nhà,

Lương-tri báu lạ của Cha sẵn truyền.

Cạn lời Thầy độ hữu-duyên,

Chuyển-Mê Khải-Ngộ kẻo phiền lòng Cha.…

Thầy chào các con.

—————————d&c—————————


Cao-Thiên-Đàn (Kiên-Giang)

Đêm 29 tháng Tư năm Quí-Dậu (1933).
(TƯỜNG KHÁNH chấp bút.)

NGỌC bút châu phê sẵn mấy hàng,

HOÀNG phong mở rộng cảnh Kiên-Giang,

ĐẠI hùng, đại lực Minh-Chơn-Lý,

ĐẾ đức dồi vào khắp bốn phang.

Thầy mừng các con. Các con bình thân, nghe Thầy dạy:


134.- Bên Nữ phái dặn dò khuyên nhủ,

Những việc xưa lỗi cũ Thầy quên.

Từ đây đường cả thẳng lên,

Thầy còn dạy chọn nhiều tên bản đề.

Kiên-Giang sắc chỉ đã phê,

Cội nguồn Chơn-Lý mựa hề đổi thay.

135.- Nầy Nam-phái, nghe Thầy cử đặt,

Ngọc bản xưa chọn mặt đành rành.

Vì sao tính quất lo quanh,

Khiến cho Chơn-Lý rong xanh phủ thềm.

Các con đành đoạn yêm lìm,

Các con đành đoạn chẳng kềm chế nhau.

136.- Khuyên các trẻ một màu một ý,

Hòa hiệp nhau tâm trí cho phù.

Đồng lo vẹt ngút mây mù,

Chớ cho uổng phí công phu bấy chầy.

Trăng trong gió mát hây hây,

Nầy công, nầy quả, nầy Thầy, nầy con.

137.- Thầy tâm chí hao mòn biết mấy,

Các con đành phải quấy thiệt hơn.

Thầy đau đớn dạ từ cơn,

Khúc khiêu can gián khuyên lơn phân trần.

Quỉ ma nay Sở mai Tần,

Miễn con Chơn-Lý nắm chân theo Thầy.

138.- Thầy đã dạy rẽ mây vén ngút,

Thầy trước phân chạm ngọc khảm vàng.

Thầy đà rọi đuốc chỉ đàng,

Tại con yếu dạ mỏng gan quên lời.

Tại con tu giỡn, tu chơi,

Tu quyền, tu thế, tu đời, tu quen.

139.- Ai cũng nói Cha hiền con thảo,

Cha như Thầy, con thảo nào đâu?

Kiên-Giang Chơn-Lý mở đầu,

Kiêng-Giang Chơn-Lý cơ cầu hơn ai.

Thôi không tiếng một lời hai,

Lể gai tiếng ví, dụng gai lệ thường.

140.- Thấy các trẻ lương khương tấn-thoái,

Nghi ngờ vì giọng rỗi tiếng kèn,

Tin chi cái thói đê hèn,

Tin chi cái lối tắt đèn là ma.

Khuyên con một dạ thật thà,

Mấy khi Chơn-Lý đôi ba con đường?

141.- Thầy mở lớp học đường sơ giảng,

Giảng cho con một đoạn Đạo Trời,

Đạo Trời có một không đôi,

Đạo là sự sống cứu người thế gian.

Đạo không đợi cãi đợi bàn,

Đạo là giải cứu cái màn NGƯỜI TA.

142.- Trời có một thì TA có một,

Có TA rồi nên cột có NGƯỜI,

NGƯỜI nên, TA được thảnh thơi,

TA NGƯỜI chung hiệp một Trời nào ba;

TA NGƯỜI nếu rẽ nhau ra,

TA NGƯỜI chia rẽ, quỉ ma chen vào.

143.- Bỏ “Cái Ta” thì nào có quỉ,

Còn “Cái Người” cũng bị cái ma,

Quỉ ma cũng tại NGƯỜI TA,

TA, NGƯỜI chung một, quỉ ma tàn hình.

Đừng rằng TA trọng NGƯỜI khinh,

Khinh thanh, trọng trược, tại mình rẽ chia.

144.- Thầy sơ giảng một tia Chơn-Lý.

Con đêm ngày suy kỹ nghiệm cang.

Phân minh tà chánh rõ ràng,

Nghiệm tường mới hết nghi nan Đạo Đài.

CAO-ĐÀI có một không hai,

Đài cao nêu vọi nhắm sai nghi lầm.

145.- Thầy thường dạy Đạo-Tâm phải quyết,

Nay giảng thêm cho biết Đạo Trời,

Khuyên con bền chí chớ lơi,

Thì Thầy vui dạ nhiều lời dạy thêm.

Trường-trai khổ hạnh ngày đêm,

Hóa chơn thành ngụy, luật nghiêm đặt bày.

146.- Nghe lời dạy khá thay tâm tánh,

Phải chuyên cần đường chánh mà theo.

Kìa loài ma quỉ trổ dèo,

Phật Trời ngoài miệng, tinh yêu trong lòng.

Giả Thầy móc của, lường công,

Con ôi! Đạo vốn sắc-không muôn đời.

147.- Giảng Chơn-Lý một lời chẳng vị,

Đạo Quang-Minh ích kỷ phải hư.

Đạo là Đại-nguyện Đại-từ,

Đạo không mưu kế chuyện ngư, ngao, cò.

Đạo chung khắp kẻ Hớn Hồ,

Đạo nào dạy lập cơ đồ, cơ giang./-

—————————d&c—————————

CHUYỂN MÊ KHẢI NGỘ

(Số 9)
Cao-Thiên-Đàn (Rạch-Giá)



Đêm 18 tháng 6 năm Quí-Dậu (1933).

KHƯƠNG từ lãnh mạng hiệp chư Hiền,

THÁI-Cực-Đồ dùng báu tự-nhiên,

CÔNG-dụng công-tâm trừ quỉ mỵ,

GIÁNG Đàn chấn-chỉnh cuộc An-Thiên.

Lão chào Chư Chức-sắc Lưỡng-phái. Tịnh Đàn tiếp-giá Đức-Chí-Tôn.


NGỌC là vật báu của Trời sanh,

HOÀNG-Bút châu phê chữ đã rành,

ĐẠI-Cuộc An-Thiên rồi Kỷ-Niệm,

ĐẾ-Ân truyền xá kẻ làm lành.

Thầy mừng các con. Nghe Thầy dạy:


204.- Nầy các trẻ có duyên tìm Đạo,

Chữ lời Thầy dạy bảo, chớ sai:

Minh-mông biển rộng, sông dài,

Trời che, Đất chở chẳng hai con đường.

Anh em hòa thuận, nhịn nhường,

Đừng lòng ích-kỷ Sâm-Sương rã-rời.

205.- Kể từ thuở Đất Trời gầy dựng,

Sanh loài người chí nhẩn tới nay;

Nhiều phen giáng-thế chỉ bày,

Tùy theo thời-cuộc, cũng Thầy mà thôi;

Rằng tuy khác biển cách vời,

Hễ ở trong Trời thì một “Mẹ Cha”.

206.- Tuy khác tiếng, khác da, khác giống,

Nhưng cũng đồng sự sống với nhau,

Dưới chơn cho tới trên đầu,

Tay chơn máu thịt chỗ nào khác đâu?

Ớ con! Khắp cả Hoàn Cầu!

Trước đều một rún, một nhau, một nhà.

207.- Từ Vô-Thỉ, Lịnh Cha đã dạy,

Dạy các con đến cõi trần-gian;

Mở mang khắp cả Hồng-Hoang,

Giúp thay Bàn-Cổ, Tam-Hoàng lập công;

Công thành qui-vị thưởng phong,

Đừng cho đến đỗi bụi hồng vương mang.

208.- Cung “Bạch-Ngọc” hai ban lựa nhón,

Chọn con nào chưa trọn Chơn-Nguơn,

Ban cho nhứt Điểm Linh Quang,

Giáng trần công-quả hoàn-toàn Bổn-Lai;

Lập xong danh phận Tam-Tài,

Trở về hớn-hở lâu dài Ngọc-Kinh.

209.- Chốn “Ngọc-Kinh” còn gìn nhiều bực,

Đặng chăm nom đốc-suất công-trình;

Giúp công hóa hóa sinh sinh,

Phong Vân Vũ Lộ Đẩu Tinh huyền hoàn;

Âm-Dương hàn-thử tuần-huờn,

Cầm giếng-mối Chánh “Càn” cang giúp Thầy.

210.- Nối Nhơn-Hoàng đổi thay Thánh-Ý,

Mến hồng-trần quên nghĩ Ngọc-Kinh;

Tánh phàm chen lộn vào mình,

Thất-tình lục-dục biến thành quỉ-vương:

Cửa nhà, nấu nướng, điểm trang,

Trau dồi xác thịt, quên đàng thiêng-liêng.


I.

211.- Muốn cho trẻ có duyên trở lại,

Thầy phải sai ba phái “NHỨT-KỲ”:

Di-Đà, Thái-Thượng, Phục-Hy,

Giáng-trần phổ-độ duy-trì Đạo Cha:

Thái-Thượng sửa tánh phàm-tà,

Phục-Hy hoạch quái, Di-Đà giác mê.

212.- Thầy cũng dạy đề-huề Tiên Thánh,

Trước cùng sau lãnh gánh giáng phàm;

Đông Tây Nam Bắc gia tâm,

Năm Châu em dại ráng tầm cho ra;

Dắt về cho tạng mặt Cha,

Đại-phong an hưởng Thánh-Tòa Ngọc-Kinh.

213.- Còn những kẻ chưa thình Tâm Tánh,

Lưu phàm trần khổ hạnh Tu Thân,

Nước non bồi bổ tinh-thần,

Nguơn-Chơn un-đúc, bổn-căn trau-dồi;

Đạo thông sẽ trở về Trời,

Cùng Cha sum-hiệp đời đời an vui.

214.- Mười hai trẻ được hồi Nguơn-Vị,

Dư hằng hà chẳng kể Chánh Chơn;

Một lòng xu-hướng quỉ-vương,

Khinh-khi, nhạo báng sự Nhơn-Đức Trời;

Mê sa ma quỉ lả lơi,

Bỏ điều “Minh-Thệ”, trổ mòi Bàng-Môn.

215.- Oai Trời định diệt phồn yêu mị,

Giáng thiên tai, hồng thủy thao thao;

Thay Thầy sửa trị phong-trào,

Nối Nghiêu có Thuấn lãnh trao Chơn-Truyền.

Thương đời Tiên, Thánh liền liền,

Giáng phàm tế-độ luân-phiên dạy đời.

216.- Dư ngàn năm đến đời Thương Trụ,

Tà loạn chơn rất phụ lòng Thầy;

Thánh-Nhơn cho giáng Kỳ-Tây,

Đao binh kiếp số diệt bầy tinh yêu.

Sa-Tăng tội ác khó tiêu,

Bắt về giam đợi Thiên-Điều xử-phân.

217.- Thương Cơ-Phát ân-cần diệt bạo,

Phú ngôi Trời dạy Đạo hóa dân;

Phú cho mười bực Hiền-Thần,

Lãnh truyền Đại-Đạo xa gần thế-gian;

Truyền lần đến cõi Nam-Bang,

Cháu con Hồng-Lạc vén màn “Chỉ Nam”.

218.- Nhà Cơ-Phát tám trăm năm có,

Truyền Đạo Trời vô số Huyền-Công;

Hềm còn yêu chuộng Thần-Thông,

Hóa lòng vọng tưởng, chẳng phòng yêu-ngôn;

Lần lần sa lạc “Bàng-Môn”,

Thần Tiên, ma quỉ chẳng còn biện-phân.

II.

219.- Nhìn thấy trẻ dương-trần Thầy ngán,

Chẳng rằng chi còn đáng con Thầy;

Biết sao cho được giải khuây,

NHỊ-KỲ PHỔ-ĐỘ Thầy rày phải sai;

Bởi thương các trẻ miệt-mài,

Trần-gian ảo-mộng lại hoài Chơn-Nguơn.

220.- Hóa Bốn Phách chẳng sờn lao-khổ,

Trắng, vàng, đen phổ-độ cả ba:

Ấn kia trước có Di-Đà,

Nay cho tái-thế Thích-Ca giáng phàm;

Thái-Thượng hóa kiếp Lão-Đam,

Truyền Kinh Đạo-Đức nơi Hàm-Cốc-Quan,

221.- Luận dạy việc kinh bang tế thế,

Bởi sanh-dân bỏ phế luân-thường;

Kế Châu cho giáng Tố-Vương,

Ân-cần lập kỷ trần cương dạy đời,

Hiếu, Trung cội gốc con người,

Trọn điều Nhơn-Đạo tùy thời Tu Thân;

222.- Nơi Tây-Bộ nhiều lần Đạo mở,

Quỉ-vương thường phá vỡ Đạo nhà,

Phải sai con Một của Cha,

Máu hồng chuộc tội cả và thế-gian.

Bộ Châu nào mới mở-mang,

Cũng đều sai Thánh đến ban Tin Lành.

223.- Muốn biết trẻ nhiệt thành nguồn cội,

Cho Sa-Tăng đoái tội lập công;

Con nào thiệt dạ thính tùng,

Cõi Trời dành để vô cùng sự vui;

Con nào gian ác chẳng thôi,

Chiếu lời minh-thệ “Ngũ-Lôi” hành hình.

224.- Dư một lúc hơn nghìn năm rưỡi,

Biết bao phen Vận-Hội trở-xây;

Phật, Tiên lắm lúc châu mày,

Thánh, Thần nhiều buổi chầu Thầy lụy rơi;

Rằng con chẳng những y lời,

Bàng-Môn Tả-Đạo coi Trời như không.

225.- Kẻ chẳng kể Luật công Thiên-Lý,

Kẻ thì theo tà mị, dị đoan;

Xiết bao kiếp số tai-nàn,

Hớn qua, Tống lại, Minh sang, Thanh rồi;

Cãi Trời thì bị luật Trời,

Trời nào có dạy cướp ngôi tranh quyền.

225.- Con đã dại, Thầy yên sao được,

Kiếp Ngũ-Lôi kế duợt gần đây;

Nếu con tránh được buổi nầy,

Mới được chầu Thầy Cực-Lạc tiêu-diêu;

Nếu con ma quỉ tinh yêu,

Ngũ-Lôi hỏa kiếp diệt tiêu Linh-Hồn.

III.

227.- Muốn cho con được tròn tỉnh ngộ,

Đệ TAM-KỲ Phổ-Độ phải ban;

Xét coi cả cõi Dinh-Hoàng,

Có Châu Nam-Thiệm Hồng-Bàng khá khen:

Một lòng Đạo-Đức tập rèn,

Ít mê vật-chất đê hèn như đâu.

228.- Tuy chưa rõ Nhiệm Mầu Đạo-Đức,

Song có lòng kỉnh Phật, thờ Trời;

Lịnh sai Tiên, Thánh khắp nơi,

Giúp người lầm lạc phục hồi bổn-sơ;

Phổ thông dụng Báu Huyền-Cơ,

Khải thông Đại-Đạo trên bờ Nam-Bang.

229.- Thay Tam-Giáo lập bàn Tam-Trấn,

Tùy theo thời độ-dẫn chúng-sanh;

Độ cho bỏ dữ về lành,

Bỏ điều tà vạy, đừng canh-cải Trời;

Tam-Kỳ Ân-Xá các nơi,

Hễ biết nghe lời thì được qui nguyên.

230.- Phế Ngọc-Kinh, Nam-Thiên giá-hạnh,

Thầy bổn-thân thấy cảnh đau lòng:

Các con rắn rắn, rồng rồng,

Coi lời Tam-Trấn như không, chẳng màng;

Lại thêm bày lớp dị đoan,

Mê sa ma quỉ tội tràn vạ lây.

231.- Thương các trẻ Thầy day cán bút,

Cao-Thiên-Đàn gạn đục lóng trong;

Khuyên con bỏ tánh cuồng ngông,

Giàu lòng Bác-Ái, mạnh lòng Từ-Bi;

Đường Ngay con cứ con đi,

Ráng tìm đến chỗ Thầy qui mà vào.

232.- Lập Trung-Ương Thầy trao gánh nặng,

Dạy các con dứt hẳn phàm tâm;

Đừng lòng chia rẽ mà lầm,

Đừng lòng dại dột mà cầm rằng khôn;

Xét coi nội Quả Càn-Khôn,

Có ai qua được Chí-Tôn là Thầy.

233.- Thầy thương xót một bầy con dại,

Kiếp “Ngũ-Lôi” hiện tại đương giàn;

Thầy thương, Thầy dạy, Thầy than,

Mong cho con chớ ngổ-ngang lời Thầy;

Ví bằng kiếp số đến ngày,

Ăn-năn đã muộn, kêu Thầy uổng công./-
CA, Thầy khen con có chí học Đạo, song Đạo rất mắc-mỏ, mỗi người hiểu một ý, vì thế cho nên Đạo phải chậm trễ. Từ nay nhẩn sau, Đạo còn tấn-hóa thì Thầy lại dạy cao hơn một ít; ráng tìm mà hiểu. Thầy khuyên con nhơn dịp rảnh rang, đến hòn núi nào dựa mé biển, dòm lên Trời coi sự tấn-hóa của cõi không-trung, dòm xuống thấp coi tấn tuồng cỏ cây sóng nước, con sẽ rõ Đạo Thầy.

Thầy không phải có một Tòa-Thánh. Thầy có đến bốn cái Tòa-Thánh: ba cái vô-hình, và một cái hữu-hình. Con rán tìm mà hiểu, cái quả Địa-Cầu nầy là Trung-Ương, vì khí Trời bao nó, còn nó ở chính giữa.

Quỉ-vương có ba Tòa-Thánh vô hình và nhiều Tòa-Thánh hữu hình của người đã lập cho nó và săn-sóc trật-tự cho nó. Con ráng tìm cho thấu.

NGUỢT Thầy khen con biết căn-cội mà tìm. Bấy lâu nay Thầy cho con thung-dung để lo trọn bổn-phận phần đời, nay đã đến kỳ trách-nhậm con nghe thi Thầy đặng hành phận-sự:



Trời Phật chính là có một TA,

Phải phân cho kỹ, kẻo lầm ma,

Thời-kỳ trách-nhậm con nâng gánh,

Giáo-hữu Thầy phong tại Ngọc-Tòa. -Thăng-

—————————d&c—————————


Cao-Thiên-Đàn (Rạch-Giá),

Đêm 19 tháng 6 năm Quí-Dậu (1933).

NGỌC-thể kim-thân báu tự-nhiên,

HOÀNG-ngôn thường dạy chữ đoàn-viên,

ĐẠI-minh đại-giác do Chơn-Lý,

ĐẾ-lịnh khuyên người phục bổn-nguyên.

Thầy chào các con. Nghe thi:

234.- Lò Tạo-Hóa mấy Ông thợ tạo,

Ai tạo chi quả-báo luân-hồi;

Đã rằng Thiên võng khôi khôi,

Sơ nhi bất lậu mắc rồi khó ra.

Tiên phàm Phật Thánh tà ma,



Chưởng qua thì phải đắt qua tại mình.

235.- Con muốn được trường-sinh bất-tử,

Chữ trường-sinh giải thử Cha nghe.

Khuyên con học phải kiên dè,

Đừng theo “Tả-Đạo” khó về ngôi xưa.

Giải cho con hiểu đặng chừa,

Hiểu rồi mới biết đặng ngừa “Bàn-Môn”.

236.- Con phải nhớ Linh-Hồn hượt bát,

Vốn là ngôi Bổn-Giác Thầy ban;

Bởi con chưa được hoàn toàn,

Thầy cho xuống tại phàm-gian trau dồi;

Dứt xong phàm tục được rồi,

Vô-Vi hiệp nhứt về ngôi Thánh-Tòa.

237.- Xuống phàm-thế phải ra công nhọc,

Lãnh riêng phần săn sóc chúng-sanh,

Lãnh phần chấp-chưởng Quyền-Hoành,

Cầm cân phạt dữ thưởng lành thế TA.

Cầm quyền Chơn-Lý Giái Ba,

Chí chơn chí chánh vô-tà vô-tư.

238.- E con dại nên hư chẳng rõ,

Mà sái đường lạc ngõ Lý-Chơn.

Một phần chuyên dạy nghĩa nhơn,

Giảng phân Đạo-Đức, luân-thường bổn-nguyên;

Trung-Dung bất diệt bất thiêng,

Tu điều đức hạnh ròng chuyên Đạo Trời.

239.- Lo lũ trẻ ham chơi lười biếng,

Vì lo ăn, chưa đến chưa no;

Một phần trách nhậm rất to,

Gia đình giáo dục phú cho nghiêm từ;

Rèn lòng triêu tịch tư tư,



Động, ngôn, thị, thính tảo trừ tà tâm.

240.- Tứ-Đại-Giả hiệp thành nhứt thể,

Vì trược thanh nặng nhẹ chẳng đồng;

Các con có đứa cuồng ngông,

Cũng còn có đứa vẫn thông-minh nhiều;

Anh em sau trước dắt dìu,

Rèn lòng son sắt, bỏ điều tà tây.

241.- Kìa ba sáu ngàn ngày như nhán,

Còn trông chi, còn nán đợi chi?

Đường ngay sao chẳng bước đi?

Đường tà để bước, ôi thì, ối thôi!

Kìa kìa cái bánh “Luân-Hồi”,

Lăn qua lộn lại mấy đời thoát ra?

242.- Bánh luân-xa thoát ra chẳng khỏi,

Thì Linh-Hồn sao gọi trường-sanh;

Muốn cho gọi được trường-sanh,

Trường-sanh vốn thiệt bất-sanh đó mà.

Bất-sanh mới được gần TA,

Gần TA mới được thoát ra “Luân-Hồi”.

243.- Bánh luân-xa lăn rồi lại trả,

Mà ai rằng tấn-hóa nỗi chi?

Nếu không cách-vật trí-tri,

“Luân-Hồi” nhiều kiếp, ngu si càng nhiều.

Biết đường tánh mạng mà theo,

Trương bườm Chơn-Lý một lèo mấy ai?

244.- Con chữ dạ chớ sai lời dạy,

Sáu loài ma dục quấy coi chừng.

“Luân-Hồi” xa nọ nhiều ngăn,

Mà ngăn lục dục hơn phân nữa rồi.

Nếu sa vào bánh “Luân-Hồi”,

Thì mong chi nữa phục hồi Bổn-Ngươn.

245.- Trị Nhơn-Tâm còn hơn trị hổ,

Thất-tình thường bởi nó mà sanh.

Ham chi phú quí lợi danh,

Khoe khoang sự nọ, nói hành sự kia.

Dẫu cho muôn kiếp chẳng lìa,

Lộn đi lộn lại, cũng về “Bàn-Môn”.

246.- Thầy chỉ tắt cho con được hiểu,

Tấn-hóa là chỉ-yếu phải tu.

Tu cho phân biệt trí, ngu;

Tu đường Đạo-Đức, tiếng rù đừng tin.

Đạo, đời hai cuộc phân rành,

Đừng tin-tưởng quấy, phải thành-thật tâm.

247.- Đừng ham muốn âm thầm phép lạ,

Đừng chuyên lo truyền bá dị-đoan,

Đừng ao ước việc mơ màng,

Đừng tin-tưởng việc hoang-đàng quỉ ma,

Đừng lo những việc cao xa,

Đừng lo ích kỷ: lợi ta, hại người.

248.- Phải tin-cậy một Trời Độc-Nhứt,

Phải ân cần tuyệt dứt phàm tâm.

Phải giồi đức hạnh cao thâm,

Phải cho Bác-ái, phải tầm Lý-Chơn,

Phải suy xét kỹ mọi đường,

Phải lo an-phận thủ-thường là hay.

249.- Con khá nhớ lời Thầy đã nói,

Ấy là đường thoát khỏi “Luân-Hồi”.

Đức-tin, công-quả vẹn rồi,

Tự nhiên con được phản-hồi Ngọc-Kinh.

Ấy là con được trường-sinh,

Trường-sinh bất-diệt bất-sinh thiên-tề.

250.- Con ở thế mản mê phép lạ,

Nên bị điều dối trá phỉnh phờ,

Tay kia đã kẹt hom lờ,

Hết đợi, hết chờ đặng gỡ tay ra.

Con hư lây xấu đến Cha,

Con dữ, ắt là Cha Mẹ phải mang.

251.- Thầy càng dạy, con càng ngang ngạnh,

Kiếm thế thần đặng tránh cho xa.

Con ôi! Tai nạn khó qua,

Nếu con chẳng kíp, thoát ra của “Bàng”.

Thần-thông dầu có muôn vàn,

Thiên-Điều đâu thứ tôi-loàn mà mong.

252.- Con muốn được thoát vòng tục lụy,

Phải tập rèn Chơn-Lý cho rành.

Không thông rán học rán hành,

Không thông khuyên chớ cải-canh, kê-cà.

Không thông khuyên chớ bỏ qua,

Không thông thì phải ráng ra công tìm.

253.- Đường Chơn-Lý kim-kim cổ-cổ,

Mà ai nào đánh đổ hào ly?

Con ôi! Tâm động Thần bi,

Trúc-cơ diện-bích ích gì đó con?

Nếu con Tâm Tánh chẳng Tồn,

Tự nhiên hạo khí hao mòn uổng công.

254.- Muốn thành Phật, giàu lòng Bác-ái,

Chúng sanh đều chủng loại cùng nhau;

Phải lo Đạo-Đức cho giàu,

Đừng lo ích kỷ mượn màu Từ-Bi.

Khuyên con chớ tánh tham si,

Chớ làm rồng cọp vân vi rộn ràng.

255.- Người ở thế muôn vàn tân khổ,

Lo sao cho phổ-độ chúng-sanh;

Của trần phải sạch sành sanh,

Sạch rồi chớ khá khoe danh với đời;

Của Trời thì giúp cho Trời,

Giúp Trời vì bởi mình tôi của Trời.

256.- Ở trần thế nghỉ ngơi chẳng được,

Cõi Giái-Ba là cuộc chiến trường:

Lợi danh, Đạo-Đức tranh thương,

Quỉ-vương, Phật-Tổ hai đường chống nhau.

Mà ai Chơn-Lý rõ sâu,

Thì được về chầu Bạch-Ngọc cao Ngôi.

257.- Đừng tưởng vấy Luân-Hồi tấn-hóa,

Luân-hồi là Nhân-Quả đó thôi.

Nếu ai nặng quả của đời,

Thì bị “Luân-Hồi” vay trả, trả vay.

Nếu ai công-quả với Thầy,

Mãn kỳ trách nhậm là ngày siêu thăng.

258.- Mấy ai được một lần trọn phải,

Cũng sanh đi, sanh lại nhiều phen;

Luân-hồi nào có gọi tên,

Thoát thai giáng thế, thiêng liêng luật Trời.

Giữ sao đừng vấy bợn đời,

Tránh khỏi Luân-Hồi là gọi Trường-sanh.

259.- Việc Tu-hành mối manh đã chỉ,

Con ráng tìm Chơn-Lý mà phăng.

Sao con nhứt nhựt mỗi tân,

Nhựt tân nhứt nhựt tự tân cho mình.

Khuyên con gìn dạ sắt đinh,

Chánh tà, Chơn ngụy phải minh cho rành.

260.- Đường Chơn-Lý chúng-sanh chưa thạo,

Cứ quẩn quanh quả báo “Luân-Hồi”.

Cho nên Tả-Đạo dối Trời,

Hư hư thiệt thiệt mê người khá thương.

Ngày nay Chơn-Lý bày tường,

Khuyên con tỉnh mộng bương bương trở về.

261.- Muốn học Đạo đừng mê mới được,

Mê muội làm bạc-nhược tinh-thần,

Làm cho hủ hại bổn-căn,

Làm cho dứt hẳn Lương-năng tánh Trời,

Làm cho hồn-phách rã rời,

Làm cho cách trở Ta-Người xa nhau.

262.- Khuyên con trẻ mau mau tỉnh giấc,

Mới gọi rằng đáng mặt làm con.

Nước non dầu có hao mòn,

Trời còn, Chơn-Lý vẫn còn tự-nhiên.

Ngày nay con được hữu-duyên,

Nên Thầy mở rộng “Khiếu-Huyền” cho con.

263.- Điểm-Linh-Quang thường còn chẳng mất,

Muốn thành Tiên, thành Phật phải “Tin”.

Quỉ ma yêu quái cũng mình,

Có lòng dục-vọng khó nhìn “Chơn-Thân”.

Con ngươi đen trắng chưa phân,

Mà mong điểm-đạo truyền-thần cho ai? -THĂNG-

—————————d&c—————————





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương