ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ TÒa thánh đỊnh tưỜng hội thánh chơn lý thiêN ĐẠo chơn truyềN



tải về 1.52 Mb.
trang5/13
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích1.52 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13

CHÉP 10 BÀI KINH KÍNH MỪNG.
1.- Kinh kính lạy Đức Chí Tôn.

2.- Kinh kính lạy Đức Diêu-Trì.

3.- Kinh kính lạy Đức Phật-Tổ Như-Lai.

4.- Kinh kính lạy Đức Đạo-Tổ Lão-Quân.

5.- Kinh kính lạy Đức Văn-Tuyên Khổng-Thánh.

6.- Kinh kính lạy Đức Da-Tô Giáo-Chủ.

7.- Kinh kính lạy Đức Quan-Âm.

8.- Kinh kính lạy Đức Lý-Giáo-Tông.

9.- Kinh kính lạy Quan-Thánh Đế-Quân.

10.- Kinh kính mừng Nữ Phước Thần.

—————————d&c—————————
Cao-Thiên-Đàn, mồng 2 tháng 7 Canh-Ngũ.

QUAN thủ Nam Thiên môn,

VÂN hàm độc chiếm Tôn,

TRƯỜNG niên triều Ngọc-Đế,

CHỨNG Đạo biến Kiền-Khôn.

Ta vưng lịnh Đức-Chí-Tôn chứng Đàn cho Thể-Liên Tiên-Nữ giáng bút dạy Kinh Nhựt-Thời làm Lễ Đức-Chí-Tôn, Đức-Thánh-Mẫu và chư Đại-Nhơn Tam-Giáo.

Thượng ỷ chứng minh.

THỂ phách linh minh vốn ở Trời,

LIÊN tu tâm tánh mựa rằng chơi,

TIÊN hương Phật quấc do mình tạo,

NỮ tịch dành cho bạn Nữ khôi.
KINH KÍNH LẠY ĐỨC-CHÍ-TÔN:

1.- Lạy Thầy Chúa-Tể Kiền Khôn,

Mở lòng bác ái thương với cùng,

Con đà lạc Tổ, xiêu Tông,

Đem đường dẫn lối nhờ trông có Thầy.

2.- Tam-Kỳ vừa gặp hội nầy,

Tan sương vén ngút rẽ mây trong Trời.

Cõi tần bể khổ, Thầy ôi!

Cầu Kinh hôm sớm, cứu người trầm luân.

3.- Thầy ôi! Con dại vô ngằn,

Cầu xin lượng cả khoan hoằng bao dung,

Từ đây con nguyện Chí-Công,

Kiên tâm dốc chí một lòng không sai.

4.- Nhờ xin lượng cả đoái hoài,

Cho người ủng hộ, hôm mai tập tành.

Lòng thành thấu đến Cao Xanh,

Ngửa xin lượng cả chứng minh lời cầu:

5.- Vô ưu, vô lự, vô câu,

Tu tâm dưỡng tánh, trước sau cho tròn.

Lạy Thầy Chúa-Tể Kiền Khôn,

Mở lòng bác ái thương với cùng.

—————————d&c—————————


THỂ tắc Chơn-Âm tánh Bổn-Dương,

LIÊN tri độc chiếm mảng thanh hương,

TIÊN nga ngọc thủ thi trân trọng,

NỮ vị Trung-Cung tánh tự chương.
KINH KÍNH LẠY ĐỨC DIÊU-TRÌ:
1.- Lạy Mẹ Đại-Từ Đại-Bi,

Xin thương con dại ngu si phàm trần.

Cho người đam khỏi mê tân,

Đặng cho con dại nguơn thần mở mang.

2.- Con đà sái bước lạc đàng,

Muôn ngàn tội lỗi chứa chan dẫy đầy.

Mẹ thương xin Mẹ làm khuây,

Tha cho con dại thơ ngây lỗi lầm.

3.- Từ đây con nguyện chí tâm,

Cải tà qui chánh lo chăm theo Thầy.

Gió trong vén ngút rẽ mây,

Lạy xin Đức Mẹ đoái bầy con thơ.

4.- Đừng cho xiêu lạc vất vơ,

Xin cho biết bến biết bờ xanh xanh.

Lòng con rót cạn chử-thành,

Lạy nhờ Đức Mẹ xin nhìn chăm nom.

5.- Cho người hôm sớm thăm lom,

Cho người dạy dỗ hôm mai kịp thì.

Lạy Mẹ Đại-Từ Đại-Bi,

Xin thương con dại ngu si phàm trần.

—————————d&c—————————

Kiên giang, le 17 Octobre 1932.
THỂ Đức như gương chiếu cõi Trời,

LIÊN châu năm sắc rạng nơi nơi,

TIÊN phàm khuyên chớ đua bay giỏi,

NỮ kỷ Nam cang ráng trọn lời.
THẬP THỦ LIÊN HUỜN

I.

Đạo Thầy huyền diệu thấu sao cùng,

Thức tỉnh người mê cõi Á-Đông.

Mở dạy Trung-Nguyên ngôi Thái-Kiệt,

Rải gieo Nam-Việt giống Thần-Nông.

Ngoài trong đen trắng, năm ba số,

Phải trái vàng xanh, một ít vòng.

Đậm lợt mỏng dày cao với thấp,

Hiểu chăng hoặc có khác Non-Bồng.



II.

Non-Bồng ai khiến đến thày lay,

Biết đó sao chưa biết đặng đây.

Tiểu-muội núp gương cam phận Túy,

Đại-bàng phơi cánh ngóng Trời Tây.

Đừng rằng cảnh Phật vui chuông trống,

Mà đón lòng người lướt gió mây.

Nầy thấy nầy chưa nầy ướm hỏi,

Trầm luân mài miệt cuộc no say.

III.

No say quên lửng nhứt phi tam,

Thập bát nguyên-nhân nhị cửu hàm.

Trần tĩnh trần sa oai Phục-Hổ,

Điển trừ yêu nghiệt báu Già-Lam.

Đạo cao khuyên gắng công ma niết,

Học quản tua gìn chữ khiết tham.

Người hỡi người ôi người khá tỉnh,

Chớ kìa kẻ Bắc lại người Nam.

IV.

Người Nam kẻ Bắc lại sum vầy,

Khuyên chớ trầm trồ sự dở hay,

Hùm được thêm oai nhờ sức gió,

Rồng nên vẻ đẹp bởi chiều mây.

Vô biên vô lượng đành không dễ,

Bất kỵ bất cầu mới thiệt hay.

Chín chín nạn dư vừa thấy Phật,

Thấy rồi rõ Phật ở mình đây.

V.

Mình đây nhiều kiếp biết tu hành,

Biết được mau lo độ chúng sanh.

Nhơn quả trả vay tuồng sóng lượn,

Công danh thành bại bức mây tranh.

Cờ cao túng nước mau xoay thế,

Nhà rộng Trời khuya kịp điểm canh.

Áo bã hài gai chuông tỉnh mộng,

Tài tình khuyên trẻ mựa cành nanh.

VI.

Cành nanh quá lắm ích chi dâu,

Tự cổ đồn bia tiếng bể dâu

Liên lạc vướng nhành mưu chước nhện

Oai phuông tuông nọc thế thần sâu

Đã đành người báu so Trời Đất

Thì để danh lành sánh trước sau.

Sáu chữ Di-Đà nguồn cội cả, (*)

Học cho thông suốt mới cơ mầu

---------------------------------------------------

(*): sáu chữ “Lạy Thầy Chúa-Tể Kiền-Khôn” thế cho Lục tự Di-Đà.

VII.

Cơ mầu Thầy mở dạy miền Nam,

Hào kiệt khuyên mau lánh khớp vàm.

Gióng trống Giác-Mê qua bĩ ngạn,

Rung chuông Khải-Ngộ đến Lôi-Âm.

Hư-vô kiến-tánh noi Cao-Giáo,

Thanh-tịnh tu-tâm học Lão-Đam,

Kìa bến nọ bờ đây Lạc-thổ,

Màu nào xanh được lấn hơn chàm.

VIII.

Hơn chàm được thấy có Tam-Thanh,

Mà được cùng không cũng tại mình.

Đạo lý cao kiên lo chạy cứu,

Công trình trung tín nỡ ngồi khoanh.

Minh mông sóng khổ đua chìm đắm,

Chợp rợp đường tu thiếu học hành.

Dầu cạn đèn khêu người ngây giấc,

Chưa hay Trời đã quá năm canh.

IX.

Năm canh chuông mõ chẳng ngơi tay,

Khuyên nhủ anh em dậy rửa mày.

Long-Hổ điển-quang vầy hiệp đó,

Thần Tiên xá-lợi sẵn sàng đây.

Ngàn năm một kiếp nên bồi bổ,

Mười tám năm đều chịu trở day.

Khôn dại đua tranh chi nước bọt,

Thôi thôi ráo tiếng giả làm khuây.

X.

Làm khuây đặng có nghĩ trong lòng,

Hà-Lạc Đồ-Thơ số tứ tung,

Bắc-Đẩu chốt then sao chói rạng,

Tây-Phương hình dạng cõi hư-không.

Vô-vi ấy Đạo phi chơn tướng,

Hữu-dụng cho người chiếm hóa công.

Khuyên rửa tánh phàm noi Thánh-huấn,

Đạo Thầy huyền diệu thấu sao cùng …/-
—————————d&c—————————
Cao-Thiên-Đàn Kiên giang,

đêm 20 tháng 7 năm 1930.

tuân ý chỉ phán nhơn gian,

THÁI Thượng Tam Thanh tấu Thánh-nhan,

BẠCH chỉ kim ngôn hồng tự điểm,

Thể-Liên Tiên-Nữ giáng Đài Đàn.

Thượng ỷ chứng Đàn cho Thể Liên Tiên Nữ dạy Đạo.


PHÁT MINH

1.- Nầy năm mười chín trăm ba,

Giáng cơ để vận nom na ít lời.

Rán khuyên phụ-nữ trong đời,

Chớ rằng thấp thỏi mà cười mà khinh.

2.- Người người đều sẵn tánh lành,

Phật Trời ban phú cho mình ban sơ

Bởi hay lắc lẻo hỏng hờ,

Lầm đường lạc bến, sa cơ suy vời.

3.- Muốn cho đam lại tánh Trời,

Hãy tua gìn giữ nghe lời Chị khuyên.

Tiên, phàm tuy có hai tên,

Muốn cho thoát tục thành Tiên khó gì!

4.- Hãy lo hôm sớm tu trì,

Giồi mài Bổn-Tánh, qui y Linh-Hồn.

Phật Trời Đạo-thể Chí-Tôn,

Lòng người nham hiểm ba vuông bảy tròn.

5.- Đua chen trí xảo tài khôn,

Lâu ngày Bổn-Tánh hư mòn Chơn-nguyên.

Dầu cho cửu chuyển Thần Tiên,

Không trau Chơn-Tánh, tự nhiên lụy mình.

6.- Huống chi phận gái hậu sinh,

Quên đường đạo đức, nên hình thể chi?

Các em vụng tính hẹp suy,

Thấy đời rằn rực cứ đi theo đời.

7.- Ham ăn, ham nói, ham cười,

Ham bề vật-chất, ham mùi phù-vân.

Sao không suy xét cân phân:

Mấy đời cõi tạm cho bằng quê xưa.

8.- Hồng-trần phơi nắng tắm mưa,

Sao bằng Tiê-cảnh không trưa không chiều.

Hồng-trần khổ hạnh trăm điều,

Sao bằng Tiên-cảnh tiêu diêu thanh nhàn.

9.- Hồng-trần là chốn lửa than,

Bọt nước sôi tràn, thấy đó mất đây.

Ai ai chẳng hiểu lệ nầy,

Thác rồi nắm được trong tay vật gì?

10.- Đua chen khôn dại thị phi,

Tắt hơi nín thở còn chi đâu là?

Sao bằng giữ mực thật thà,

Rảnh rang xác thịt, ta bà hồn linh.

11.- Cang-thường Đạo-thể trọn lành,

Phật Trời qui luật chí thành phương vâng.

Hồng-trần trọn nghĩa, trọn nhân,

Hồn-linh mới bước đến tầng mây cao.

12.- Thiện tâm chẳng dạ lảng xao,

Thiên đường mới được ra vào thung dung.

Một lòng một dạ thỉ chung,

Sống thơm danh giá, thác phong rỡ ràng.

13.- Hãy xem Thần Thánh muôn ngàn,

Đều người nghĩa khí, trung cang mới thành.

Gái mà tiết-liệt trung-trinh,

Gái mà tiết hạnh, Thiên đình bia tên.

14.- Cung Diêu, cung Quế, cung Sen,

Hàng luôn Tiên nữ, dãy liền Tiên nga,

Rèm châu, vách ngọc, cột ngà,

Thủy tinh bao phủ, sáng lòa như gương.

15.- Nguời đời yêu chuộng thủy xoàn,

Nào hay đồ dụng đài trang Tiên tòa.

Người đời yêu chuộng vinh hoa,

Nào hay bị cái dây ma khớp vàm.

16.- Chớ rằng tại ở cõi phàm,

Phải lo phu phỉ cho kham với đời.

Cõi phàm mà thấu Đạo Trời,

Kìa trang Tiên Thánh cũng người phàm-gian.

17.- Giàu sang sánh với cơ hàn,

Giàu sang còn để bước đàng chơn tu.

Đố ai phân biệt trí ngu,

Mây bao bịch phủ, sương mù mịch giăng.

18.- Người ngu mối Đạo biết phăng,

Người khôn chừng thấy ăn năn muộn rồi.

Thấy vầy nên Chị ngùi ngùi,

Thương em, Chị phải tới lui giảng bài.

19.- Tam-Kỳ sẵn mối Đạo Thầy,

Khá tua ráng sức cho dày công-phu.

Thì giờ thấm-thoát bóng cu,

Một ngày qua khỏi, ngàn thu không tìm.

20.- Nữ-sanh là phận các em,

Không lòng sốt sắng, càng thêm lạc lầm.

Chị xin Đức Mẹ chế châm,

Cho Chị giáng bút, Thánh âm phân trần.

21.- Mẹ cho, Chị xiết nỗi mừng,

Nên Chị vội vã, ân cần đến đây.

Phái Nam đã đủ chơn tay,

Phái Nữ đến rày, xem thiếu chị em.

22.- Nghĩ coi tự cổ chí kim,

Làm thân con gái mỏng mềm sút-thua.

Hêu đòi cờ bạc hốt dùa,

Nết xấu ráng chừa, đặng giữ thân danh.

23.- Quê môn phận gái đã đành;

Đến việc tu hành lại cũng rút co.

Đường ngay ít kẻ đắn-đo,

Đường gai nẻo gốc lần mò lủi đi.

24.- Phật Trời thương xót xiết chi,

Đã bày ngũ giới, tam qui rẽ ròi.

Ngặt lòng tín ngưỡng lôi thôi,

Có việc cầu Trời khẩn Phật tứ tung.

25.- Từ đây khuyên khá rèn lòng,

Nghe lời Chị bảo, chí công tập tành.

Công phu, công quả, công trình,

Phân rành chương thứ, phân minh tỏ tường.

Thể Liên Tiên Nữ.

—————————d&c—————————
V

MINH LÝ HỘI
Kinh “Tu Chơn Thiệp Khuyết” và “Chánh Tà Yếu Lý” in ra rải rác cùng lục tỉnh cho chức-sắc Tam-Kỳ xem và cũng có gởi về trên Tòa Thánh Tây-ninh nhưng mấy anh lớn không nhìn nhận, nói rằng không phải cơ bút của Thầy viết ra.

Bởi vậy, Ban Cai Quản Thánh Thất Mỹ-tho có thơ mời các chủ Thánh Thất và mấy anh lớn Tây-ninh tựu về Mỹ-tho ngày 15 tháng 4 năm Tân-Vì (31 Mai 1931) đặng bàn tính về vụ Đạo chinh nghiêng.

Tòa Thánh Tây-ninh có phái ông Nguyễn Ngọc Tương xuống, còn chức sắc các nơi tựu về cũng đặng vài trăm người, năm mười ông lên diễn đàn đánh đổ mấy anh lớn Tây-ninh và trưng bằng cớ rõ ràng nên xin trong hội bắt thăm không hiệp tác với Tòa Thánh Tây-ninh nữa.

Còn ông Tương thay mặt cho Tòa Thánh Tây-ninh có dự hội, mà cũng không nói tiếng gì, rồi trở về Tây-ninh.

Đức Chí Tôn có giáng Đàn dạy như sau nầy:
Mỹ Tho, đêm 14 tháng 4 Tân-Vì.

Ngọc-Hoàng Thượng-Đế Hội-Giáo Nam-Phương

Thầy mừng các con, ngày hôm nay Thầy rất buồn.

THI:

NGỌC trắng rồi lem chẳng biết cầm,

HOÀNG thiên đâu phụ kẻ từ tâm,

THƯỢNG lưu chí khí lòng nhơn đại,

ĐẾ Đạo Thầy khuyên chớ trách lầm.
Khóc!!!

Dầu đã cạn nên đèn phải tắt,

Khuyên các con dìu dắt nương nhau;

Có câu: thiện ác đáo đầu,

Vương mang tai họa chịu sầu ngàn thu.

Lời hồng thệ dốc tu sửa lỗi,

Đứng phía trên nắm mối sợi dây;

Làm cho con nghiệt cả bầy,

Trách ai đem Đạo của Thầy đi chôn.

Danh Đại-Đạo tiếng đồn dội khắp,

Cả thế gian Đông, Bắc, Tây, Nam;

Hồng-trần phú quí còn ham,

Thiên-Đường cũng muốn lên làm Phật Tiên

Thầy chẳng nỡ lấy quyền dạy Đạo,

Dụng từ-bi khuyên bảo các con …

—————————d&c—————————


VI

ĐẠO SẮP CHUYỂN VỀ KIÊN GIANG
Qua tháng 6, ngày 17 năm Tân-Vì (1931) Thầy lập An Thiên Đại Hội kỳ nhứt tại Rạch-giá có đòi các Thánh Thất tựu nghe Thầy dạy:

Kiên giang, đêm 18 tháng 6 Tân-Vì (1931).
KHƯƠNG kỳ bỉnh chấp cuộc Thiên nhiên,

THÁI nhứt sanh sanh kiếp vẹn tuyền,

CÔNG phẫn dốc thâu nền Đại Đạo,

MỪNG thay thấy rộng cảnh Long-Kiên.

Miền Lưỡng Giang sông Rồng cạn lối,

Trước vì TRUNG giả dối phỉnh người,

Tưởng rằng Đại-Đạo trò chơi,

Đặt điều huyễn hoặc, bày lời vô căn.

TRANG xảo ngữ xưng Thần xưng Thánh.

Mối tơ xe bất chánh bất lương,

Hay đâu Thiên Địa tuần hườn,

Ai xe dây nghiệt thì vương lưới Trời.

THƠ cả mật bày lời hoặc chúng,

Cửu-Trùng-Đài náo động lòng dân.

Chẳng kiên Thiên Địa quỉ Thần,

Dụng tên Trời Phật đặng phần trò con.

Đại-Từ-Phụ Thánh-ngôn dẹp cất,

Lý Giáo-Tông Tân-luật sửa dời,

Chẳng tuân có Đất có Trời,

Tưởng rằng phấn thổ hưởng đời trong tay.

Cơn kiếp chót Thầy bày Đại-Đạo,

Dụng Tam-Kỳ dạy bảo nhơn sanh,

Dạy người lánh dữ làm lành,

Phò loan tiếng tạm đành rành TẮC DIÊU.

Khen hai gã liêu điêu thế mọn,

Thấy nhiều tiền thỏn mỏn đường ngay,

Dối người dám dối tới Thầy,

Độc quyền lợi dụng trong tay mình hoài.

Danh Đại-Đạo ai ai cũng khiếp,

Đứa tiểu-nhơn kiếp kiếp trầm luân,

Lão đây sẵn luật Phong-Thần,

Sẵn dành một cán Đả-Thần biết chưa?

An-Thiên Hội sớm trưa dựng mối,

Dụng Lưỡng Giang đặng nối Long-Kiên.

Ngũ Hành Thất Đẩu gầy nên,

Tam Giang Cửu khúc nối liền giăng giăng.

Thập-Bát-Hán, Thiên-ân chiêu tập,

Thập-Nhị-Thiên, Hoàng cấp biểu danh,

Lão đây sẵn lịnh đành rành,

Khuyên người bỏ dữ làm lành an thân.

Lời đinh sắt Lão phân đã cạn,

Bọn quỉ-vương hết nán trông mong,

Dầu cho mình đá da đồng,

Đả-Thần-Tiên xuống thì không còn hồn.

—————————d&c—————————
NGỌC sáng nhờ tay thợ khéo giồi,

HOÀNG cung mở rộng khắp nơi nơi,

ĐẠI thừa trí thức vầy sum hiệp,

ĐẾ khuyết từ đây người phải người.
Các con! Hãy lãnh trách nhậm theo đây:

CA, vốn là An-Thiên La-Hán phái, cuộc lập An-Thiên Đại-Hội, trách nhậm nơi con, hầu trừ quỉ vương phá rối Đại Đạo.



Cửu-Hà-Khúc
Thầy đã bủa Ngũ-Hành-Tòa

Thất-Đẩu-Cuộc


sẵn cho các con làm vi cánh.

Lập An-Thiên Đại-Hội: Cửu-Hà-Khúc là Tam-Giang Thủy, Long-Hồ Tam-Bình Thủy, Tam-Xuyên Thủy.

a) Tam-Giang Thủy là: Tiền-Giang, Hậu-Giang đã có Phùng lãnh; Kiên-Giang (đã có người Thầy định).

Long-Hồ Tam-Bình Thủy (Thầy sẽ định).

b) Thất-Đẩu-Cuộc: non Cấm làm nền,

c) Ngũ-Hành-Tòa: Tam-Tôn làm gốc.

Nghe kệ:

Cuộc Thầy bủa An-Thiên Đại-Hội.

CA vững lòng chớ vội phiền ai,



Muốn nên danh cả chí trai,

Bền gan sắt đá chớ hoài công phu.

– LƯỢNG, con vốn là Chiêu-Thánh La-Hán phái. Thầy thử con một lúc, Thầy mừng con biết nghe. Con phải biết rằng: phái Chiêu-Thánh công-phu rất nặng vì phải lo chiêu-dụ những bực Hiền Thánh giáng phàm, nay đều là người trí-thức cả. Công-phu con là đó.

Con nghỉ khỏe một năm nay, tới thời kỳ của con; con chớ vội thối chí: xưa Hàng-Long, Vi-Hộ, Phục-Hổ hăng xung đột nhau, nhờ có Kim-Tiên La-Hán can gián, nên mới lập được thành Thập-Bát Đại-Giác La-Hán.

Thầy khuyên bỏ tánh xưa, vì trách nhậm con kỳ nầy rất lớn lao.



Kệ:

Lượng nên đại lượng đại khoan hồng,

Tâm chí người người dốc lập công,

Kiên nhẫn vịnh theo người Đạo Đức,

An-Thiên vững đặt hội Kỳ-Phùng.

QUANG, con là Tịnh-Vân La-Hán phái. Con là người của Kim-Tiên La-Hán cậy đi trước nên con phải điều đình cho Thập-Bát Đại-Giác La-Hán thuận hòa, hầu lập An-Thiên Đại-Hội. Xưa con lỗi bước vì không có Chơn-Sư, nay có Thầy dẫn lối con ráng chí công.


Kệ:

QUANG, con hỡi biết hay chưa,

Lỗi bước càng xa chẳng phải vừa.

Đường cả có Thầy nay dẫn lối,

Đừng cho trễ nải buổi thêm trưa.

QUANG, con trao lịnh cho AN.

AN vốn là Tính-Phong La-Hán phái.

Cả Cửu-Hà-Khúc, Thầy giao cho AN trọng nhậm truyền Thánh-Ý hầu giúp Ngũ-Hành-Tòa và Thất-Đẩu-Cuộc đặng lập An-Thiên Đại-Hội.

Thầy đã chỉ cho AN nhiều nơi đây. Thầy giao trách nhậm cho khỏi lưỡi mối miệng lằng, thì AN mới khỏi cho.

Kệ:

AN, con nầy ớ ớ con AN,

Lửa đỏ càng thêm sức tuổi vàng,

Cay đắng mặn nồng chua lại chát,

Muốn nên Tiên Phật trước gian nan.

NHƠN, vì Thấy mắc luyện thần cho AN và ĐÂY nên Thầy cho Đồng-Tử Kiên-Giang nghỉ 3 tháng.


Kệ:

Đừng tưởng đâu đâu chẳng có Thầy,

Thầy cùng Âu, Mỹ khắp Đông, Tây,

Tây Ninh chớ mượn danh Thầy quá,

Quá thế nên ra đến đỗi nầy.

Vì Lý Thái Bạch mắc lo giúp Điển qua cho K… (nơi Âu-Mỹ) nên Thầy ra lịnh cho Khương-Thượng lãnh chức Giáo-Tông và Hải-Triều Thánh-Nhơn làm Phó Giáo-Tông, chẳng bao lâu Thể-Liên sẽ ban hành Kinh Kính Mừng cho hai Vị ấy.

—————————d&c—————————
HỘI CƠ BÚT

Ba ông Pháp Sư AN, ĐÂY, NGA lối tháng hai năm Nhâm-Thân (1932) hội cơ bút về Kiên-Giang đặng tập đồng tử, vì thấy cặp phò loan Chơn-Tâm và Tường-Khánh có diệu bút, nên mấy Ngài mượn cơ bút Kiên-Giang mà dùng, nên sái điển, hư, nên phải tạo cây bút khác, song trầm ba tháng thì ngày Đại-Hội An-Thiên kỳ nhì đã qua rồi.

Mấy ông lại bày Bạch-Y-Đạo, bày lễ Nhâm-Thân (vô nghĩa) rồi dắt nhau lên núi Cấm tập cơ bút 4-5 tháng, gởi thi bài về Mỹ-Tho mới in ra mấy cuốn “Chuyển-Mê” từ số 1, 2, 3, 4, 5 mấy quyển nầy không đúng Chơn-Lý, nên sau có Hiệp-Thiên-Đài dạy tiêu hủy.

—————————d&c—————————


XII.

BAN CHỈNH ĐẠO BẾN TRE
Tới đây ông Quyền Giáo-Tông Thượng-TRUNG-Nhựt qui tiên, ông Quyền Thượng-Đầu-Sư Nguyễn-Ngọc-Tương muốn giành Quyền Giáo-Tông tại Tây-Ninh mà không thuận với ông Hộ-Pháp Tắc, nên Ngài phải về Bến-Tre với ông Quyền Ngọc-Đầu-Sư Trang ở tại Thánh-Thất An-Hội, vì Ngài có đứng bộ đất cho 70 cái Thánh-Thất ấy, rủ các chức sắc theo Ngài mà tùng Bến-Tre, đoạn mới bày việc bỏ thăm tuyển cử Giáo-Tông, tự nhiên Ngài thắng số rất nhiều, nên cho mình là Giáo-Tông thế cho ông Thượng-TRUNG-Nhựt.

Người cứ tịnh hoài, chớ không có dùng cơ bút và Hiệp-Thiên-Đài dạy tu theo Tân-luật và Pháp Chánh truyền của Tây-Ninh.

Ngài còn muốn về Tây-Ninh, khi ông Ngọc-Trang-Thanh liễu đạo Ngài dạy đem linh cữu về Tòa-Thánh Tây-Ninh mà an táng, nhưng ông Tắc không cho chôn…
TƯƠNG chuối nước đâu gần cảnh Phật,

TRUNG nịnh gian khờ-khật tánh phàm;



Lợi quyền còn nặng túi tham,

Thiên đàng đâu để lên làm Phật Tiên.

(18-6-Tân Vì 1931).

-----------------------------------------------

(Coi án ông Tắc trong cuốn Đuốc Chơn Lý 33 trương 56. Coi án ông Tương trong cuốn Đuốc Chơn Lý 33 trương ).


—————————d&c—————————

B.

ĐỆ NHỊ TIỂU THỜI
HỌA ĐỒ CỰU TÒA THÁNH TRUNG-ƯƠNG (MỸ THO)
I.

BÀN THỜ:


A.- Thiên-Nhãn.

b.- Bài vị Tứ-Thánh:

– Đức Thích-Ca Mâu-Ni

– Đức Lão-Tử

– Đức Khổng-Phu-Tử

– Đức Jésus Christ

c.- Bài vị Tam-Trấn:

– Đức Quan-Âm

– Đức Lý-Thái-Bạch

– Đức Quan-Thánh

d.- Đức Khương-Thái-Công

e– f.- 2 bàn thờ chư Phật, chư Tiên, Chư Thánh, chư Thần.

B.- Cửu-Trùng-Đài.

C.- Hiệp-Thiên-Đài.

D.- Bát-Quái-Đài.

—————————d&c—————————


II.

NGHI TIẾT

Bước qua đệ Nhị Tiểu-Thời, sự thờ phượng sắp đặt như sau nầy:

Trên thờ Thiên-Nhãn có chơn mày, lông nheo; trong trái tim màu đỏ.

Cấp thứ nhứt: có bốn bài vị Tứ-Thánh:

– Đức Thích-Ca Mâu-Ni

– Đức Lão-Tử

– Đức Khổng-Phu-Tử

– Đức Jésus Christ.

Cấp thứ nhì: có ba bài vị Tam-Trấn:

– Đức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát

– Đức Lý-Thái-Bạch

– Đức Quan-Thánh.

Cấp thứ ba: có bài vị Đức Khương-Thái-Công.

Triệt hai bàn thờ bên tả, bên hữu.

Triệt bàn thờ của Hộ-Pháp, vì Thầy không dùng điển của Hộ-Pháp nữa.

Và có thêm một cửa giữa.

Còn sắc phục của Thiên-Phong: mão y như cũ và sửa lại theo Trung-Thiên, có thêm cái cũn, áo trắng viền đỏ-vàng-xanh theo phái.

Lập một cái Hiệp-Thiên-Đài một từng lầu, và một cái Bát-Quái-Đài ở phía trước.

Còn đọc Kinh thì dùng 10 bài “Kinh Kính Mừng”, Kinh chữ quốc-âm Thầy cho tại Cao-Thiên-Đàn (Rạch-Giá).

—————————d&c—————————


III.
LẬP TÒA THÁNH TRUNG ƯƠNG (MỸ THO)
THÁNH HUẤN GIÁC MÊ (SỐ 6)
Định-Tường, đêm 18 tháng 7 Nhâm-Thân (1932).

NGỌC chiếu hào quang giọi đủ màu,

HOÀNG ngôn khen tặng kẻ cung dâu,

THƯỢNG hòa hạ lục vui chi bẵng,

ĐẾ Đạo danh nêu rạng Ngũ-Châu.

Thầy chào các con, Thầy cho các con bình thân. Các con, hằng lâu Thầy không rảnh để dạy các con một bài Đạo. Thầy cho các con một bài ráng tìm hiểu sẽ biết được mùi Đạo. Các con phải nhớ rằng: CHƠN-LÝ là ĐẠO mà ĐẠO là CHƠN-LÝ, vậy nghe thi:


Hai chữ Vô-Vi mối Đạo Thầy,

Bốn mùa thay đổi cứ vần xây,

Chim bay cá lội hoa đua nở,

Ai thấy thợ nào có để tay.

Để tay sao gọi được Vô-Vi,

Các trẻ lầm nghe nghĩ cũng kỳ,

Rộn rực lăng xăng tuồng dối trá,
Rằng đua công quả chốn trường thi.

Trường thi ai lập ở nơi nao,

Nào thấy đâu là cái bản rao,

Hễ có bản rao là vật chất,

Khuyên đời khá tỉnh giấc chiêm bao.

Tỉnh giấc chiêm bao ớ trẻ bầy,

Đừng tìm non núi hoặc cung mây,

Cao-Đài vốn ở lòng con đó,


Bỏ tánh tham si sẽ gặp Thầy.

Gặp Thầy, cùng chẳng tại nơi lòng,

Bã lợi mồi danh lóng sạch trong.

Thấu rõ thế-gian muôn tượng đó,

Nó đều không có cũng không không.

Không không, có có, có chi đâu,

Có đó, rồi không thật rất mầu.

Muốn có, có cho, không cũng được,

Có không hỏi thử chỗ cao sâu.
Cao sâu phút chút bỗng trang bằng,

Thể Đạo dường như nước với trăng.

Một lại Ba, rồi Ba lại Một,

Khuyên đời định tỉnh chớ lo xằng.

Lo xằng thêm hại, các con ôi!

Tang hải xưa nay cuộc lở bồi,

Đạo chẳng bảo lo, lo trái Đạo,

Ai mà trái Đạo ắt hư rồi.


Hư rồi khó dựng nói càng thương,

Khuyên nhủ nhơn sanh tỉnh mộng trường,

Sóng gió ấy là nguồn mạch nước,

Gió êm sóng lặng nước như thường.

Nước lặng như thường chẳng đổi day,

Tự nhiên xây vận thể đêm ngày

Gìn lòng giữ trọn CHƠN-NHƯ-TÁNH,

Hai chữ Vô-Vi mối đạo Thầy.


Các con nghe Thầy dạy:

11.- Lập QUỐC ĐẠO thiên tân vạn khổ,

Dạy các con phổ độ chúng sanh.

Các con mảng tại cầu danh,

Lớn làm nhỏ học tranh giành thấp cao.

Miệng Ngô mà bụng ở Tào,

Dựng phe kết đảng ngăn rào lấp sông.

12.- Khen các trẻ chẳng lòng hổ thẹn,

Nỡ dạ nào quên tiếng Thầy khuyên.

Kể từ Thầy lập An-Thiên,

Biết bao nhiêu nỗi than phiền với con.

Rằng: khuyên lớn nhỏ lo tròn

Giúp Thầy chuyển Đạo sắt son trọn niềm

13.- Thương con dại nghĩ thêm tím ruột,

Cứu cơn nguy Thầy buộc dĩ hơi,

Cạn sâu thêm tỏ đôi lời,

Khuyên đừng tật đố rã rời nhau ra.

Trăm điều nên xét gần xa,

Cũng đều máu mủ thịt da của Thầy.

14.- Lời hằng ví: một cây tròi trọi,

Làm sao cho nên mỗi hòn non,

Giữa sông bỗng nổi lên cồn,

Nhờ nhiều hột cát đắp dồn mới cao.

Đông mầy thì Tây có tao,

Giúp lời giúp sức việc nào chẳng nên.

15.- Trăm việc phải chí bền mới được,

Một bước cho một bước vững vàng.

Đừng tin những tiếng hoang đàng,

Đừng tin những tiếng dịu dàng quỉ ma,

Đừng mê những việc cao xa,

Đừng mê những việc dối Ta dối Trời.

16.- Khuyên các trẻ nghe lời Thầy dạy,

Đừng ham lo bay nhảy phi thường.

TU CHƠN THIỆP KHYẾT chỉ tường,

CHÁNH TÀ YẾU LÝ mọi đường biện phân.

Đạo Thầy như nước trong ngần,

Đạo không xao dợn phân vân rộn ràng.

17.- Đạo Thầy ở khắp tràn võ trụ,

Đạo Thầy lo khuyên nhủ nhơn sanh,

Khuyên người bỏ dữ theo lành,

Chẳng khuyên ở núi, ở gành, ở hang.

Chẳng khuyên theo thói dị đoan,

Chẳng khuyên hiệp lũ vầy đoàn dối dân.

ù

(CA, PHÙNG, NHƠN ,LƯỢNG)



17.- Bốn con lãnh chung phần trọng chức,

Bốn con không hiệp nhứt cùng nhau,

Bốn con rời rã Thầy đau,

Bốn con bốn ý Đạo mau tan tành.

Hiện nay quỉ kế rấp ranh,

Hiệp nhau xẻ múng chia manh Đạo Thầy.

19.- Thầy chẳng nỡ để bầy con dại,

Bị quỉ vương làm hại phá hoài,

Thương AN ỷ sức cậy tài,

Chẳng tuân Thánh-Huấn một hai tách mình.

Chữ rằng sinh sự sự sinh,

Làm hư Đẩu-Cuộc Thất-Tinh Long-Đồ.

20.- ĐÂY cũng tánh mờ hồ nên vội,

Trăm điều lo hả hối cho mau.

Than ôi! Chẳng xét vàng thau,

Bạ đâu nghe đó biết đau sự rồi.

Khen ai chẳng xét Thiên thời,

Thầy đà cạn tiếng nhắn lời cho NHƠN.

21.- PHÙNG, con nỡ lòng hờn việc cũ,

Lời Thầy khuyên con giữ con xem.

Nên hư con để yêm lìm,

Chẳng cầu ai biết, chẳng thèm ai hay.

Sao con chẳng xét đó đây,

Đầu mình phải đủ chơn tay mới thành.

22.- NHƠN tua giữ thinh danh làm trọng,

Thầy tin con nên dụng đã lâu.

Từ đây bỏ tánh cơ cầu,

Trăm điều nên xét trên đầu có TA.

Các điều lỗi trước Thầy tha,

Nhớ lời sáu bốn (64) hiệp hòa thì nên.

23.- CA dốc chí dựng nền Chơn-Lý,

Rán coi chừng lũ quỉ kề hông,

Nửa tin mà nửa nên phòng,

Trời xa ma cận thật lòng hiểm nham.

Hiếm người triêu tứ mộ tam,

Lòng ma miệng Phật dốc đam lạc đường.

24.- LƯỢNG chắc dạ Thầy thương chi xiết,

Biết có Thầy nên quyết theo Thầy,

Thầy khuyên biết Đạo càng hay,

Hiệp tâm chung trí sum vầy mới cao.

Đạo thương khắp cả đồng bào,

Miệng lằng lưỡi mối chuốt bào đừng tin.

25.- Khuyên bốn trẻ giữ gìn lời dạy,

Đồng cùng nhau sửa vạy ra ngay.

Con ôi! Nam, Bắc, Đông, Tây,

Quỉ vương hiệp sức đêm ngày phá TA.

Nếu con tâm trí chẳng hòa,

Làm sao Đạo Cả của Cha cho thành.

26.- Thất-Đẩu-Cuộc tình hình đã hoại,

Vì AN, ĐÂY làm sái lịnh Thầy,

Chẳng cần đợi lịnh đợi ngày,

Vừa nghe bàn định chớp tay làm càng.

Con ôi! Quỉ kế đa đoan,

Lộn chen chút điển thấy tan hoang rồi.

27.- Ối thôi thôi! Việc rồi chẳng nói,

Nay Thầy lo việc mới giúp con,

Khuyên con lòng sắt dạ son,

Giúp Thầy chuyển Đạo cho tròn thỉ chung.

Nầy con CA, LƯỢNG, NHƠN, PHÙNG

Bốn con đồng ý chung cùng nhau chăng?

28.- Hành Đại Đạo đừng cân sang trọng,

Cũng đừng lo nhà rộng chòi tranh.

Cân là: cân sự học hành,

So laø: so caùi chí thaønh ñoäng Thieân,

Cân là cân kiếp Thiêng-liêng

So người quĩ cụ Thần kiêng anh tài

29.- Trước dẫu có một hai vít tích

Khuyên con đừng chít mích nhau chi

Từ đây đường cả chung đi

Hiệp Tâm chung trí đừng nghi chuyện rồi

Cây xanh nhờ có nhiều chồi

Đạo nên nhờ có Thầy Trời giúp cho

30.- Một lời chót hỏi dò cho cạn

Ngọ thời mai thượng trạng Thầy xem

Khuyên con lớn nhỏ trọn niềm

Bốn tên một sớ phong niêm hẳn hòi

Bằng ai lòng một ý đôi

Có Thầy phú án Ngũ Lôi xét giùm




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương