ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ TÒa thánh đỊnh tưỜng hội thánh chơn lý thiêN ĐẠo chơn truyềN


NGỌC quang đạo mão ưởng y thường, HOÀNG



tải về 1.52 Mb.
trang4/13
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích1.52 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13

NGỌC quang đạo mão ưởng y thường,

HOÀNG-Điện trang-nghiêm dụng biểu-chương,

THƯỢNG đạt vĩ-nhơn vô hậu cố,

ĐẾ hoài chiếu giám nhĩ tâm trường.
Ấy là bức thơ cho Nguyễn-Tâm.

Đây là bức thơ cho Nguyễn-Vịnh:


NGỌC thố thu hào bút dĩ hao,

HOÀNG-Ân cố vọng nhĩ đồng-bào,

THƯỢNG thương phúc tải vô thinh xú,

ĐẾ bộ vân tiêu nhứt vỏ mao.
Ca, Ta cho ngươi một bài Kệ, cứ theo đó mà hành-động, lo chi Đạo không mở-mang theo Chơn-Lý.
“Khá khá song còn thiếu cánh vây,

Bài dài sao chẳng thốt cho hay,

Liềm trăng ánh dạng sao ba bóng,

Kinh địa trao lời rạng vẻ mây”.

—————————d&c—————————


Cao-Thiên-Đàn Rạch-Giá (Kiên-Giang),

12 giờ đêm mồng 7 tháng Giêng năm Tân-Vì (1931).

(Đồng-tử Tường-Khánh chấp-bút):


suy-xét rộng khắp Năm Châu,

BẠCH sắc kim-liên chứng Đạo Mầu,

GIÁO giảng chúng-sanh tầm Chánh-Giác,

TÔNG-Kinh diệu-phẩm nghĩa cao sâu.
Đồng-tử Chơn-Tâm vì còn nhỏ (16 tuổi), xứ lạ phần mệt mỏi, nên không thế nào chịu hứng Điển-Quang của TA. Bởi vậy, TA truyền Điển sang cho Tường-Khánh đặng cho tiếp bài phân-giải “Chánh-Tà Yếu-Lý” của TA cho trọn.

TA có cho bài thi ngụ-ngôn mà chúng nó không hiểu, các ngươi hãy kiếm mà giải.



“Khá khá song còn thiếu cánh vây,

Bài dài sao chẳng thốt cho hay,

Liềm trăng ánh dạng sao ba bóng,

Kinh địa trao lời rạng vẻ mây”.
TA cho nối bài phân-giải “Chánh-Tà Yếu-Lý”:
31.- Đừng làm cách đê hèn, khiếp nhược,

Mắt lim-dim giả chước truyền thần;

Mơ-màng bể ái nguồn ân,

Thay lê tráo lý, rộn-xăng vụng-về.

32.- Người muốn thoát bến mê bể khổ,

Trông cậy Thầy chỉ chỗ dẫn đường;

Thầy mừng hết dạ yêu thương,

Đèn soi đêm tối, lửa vàng đêm đông.

33.- Đâu mượn tiếng đem lòng xảo quyệt,

Giả danh Thầy chẳng biết tới ai;

Thầy nhìn con cả gái trai,

Côn trùng, điểu thú, căn cai cũng nhìn.

34.- Đạo bổn thể hư-linh bất mậu,

Vận Nguơn-Thần sung thấu Tam-Quang;

Giao thông trên dưới huyền hoàn,

Bốn phương, tám hướng dọc ngang không cùng.

35.- Khi phóng-xuất mãn sung võ-trụ,

Lúc bế-tàn thối ngụ nơi Tâm;

Ngươn-Thần thận độc phương châm,

Chơn đi giá mỏng, tay cầm lưu ly.

36.- Mắt chưa thấy hào ly Thiên-Đạo,

Tai chưa nghe báng trảo Thần phù;

Cống hò xê liếu rằng Tu,

Đứa đui lại dắt thằng mù đi đêm.

37.- Khinh phép Nước bày điềm mị-mộng,

Mượn danh Thầy muốn lộng quyền cao;

Đất bằng lại nổi ba-đào,

Chẳng thương xót đến đồng-bào, chúng-sanh.

38.- Nguồn Đạo mở trong-xanh như suối,

Luật Đạo ban phao nổi như cồn;

Trách ai đem Đạo đi chôn,

Đóng vai diễn lớp giống tuồng cải-lương.

39.- Người giữ phép dẫn đường vi phép,

Kẻ phi quan mở dịp giả quan;

Học đòi theo thể bóng chàng,

Mượn Thầy đặng lập một đoàn đi buôn.

40.- Đạo là Đạo như khuôn đã đúc,

Trời là Trời, tà khúc chẳng dung;

Dầu ai sai lạc đến cùng,

Cãi tà qui chánh còn trông ơn Thầy.

41.- Thầy Quảng-Đại, Cao-Dày sông biển,

Con lỗi-lầm, lười-biếng, dại-khờ;

Thương con nên chỉ Huyền-Cơ,

Cho con biết bến, biết bờ mà theo.

42.- Thần Đạo Học vừa gieo Tánh Mạng,

Luyện Linh-Hồn vượt khoảng từng mây;

Hồn con là Ngọc của Thầy,

Hồn con báu-lạ xưa-nay còn hoài.

43.- Thân-Thể với Hình-Hài vật-chất,

Có Giác-Hồn Ba Bực tùy thân:



Thần-Hồn khôn dại không chừng,

Theo màu thuốc nhuộm, theo lằn sóng đưa.

44.- Noi Chánh-Lý ngăn ngừa nẻo vạy,

Chính Anh-Hồn phải-quấy phân-minh;

Hễ người cốt-cách được thanh,

Thần-Hồn ít lúc cải-canh Anh-Hồn.

45.- Kẻ tiền-kiếp đeo còn nghiệp cốt,

Nặng-nhẹ mang những lốt thú cầm;

Thần-Hồn nhiều-ít giả-tâm,

Anh-Hồn khó nổi việc chăm-nom liền.

46.- Linh-Hồn vốn thiêng-liêng, huợt-bát,

Chính là ngôi Bổn-Giác Thầy ban;

Gìn cho trong sạch hoàn toàn,

Thần dày Đạo Đức, Linh càng phẩm cao.

47.- Giữ trong sạch, đừng hao Tinh, Khí,

Nguơn-Thần đừng đắm-lụy trần-ai;

Trong ngần, chẳng chút lợt phai,

Có ngày chơn bước đến đài Cao-Xanh.

48.- Phải ráng nhớ trong mình sẵn đủ

Tánh Linh Thầy ban phú từ xưa;

Trăm điều vật-dục phải chừa,

Đừng tham danh-lợi, chớ ưa sang-giàu.

49.- Chữ Chí Thiện là đầu trăm việc,

Lẽ chánh-tà phải quyết, chớ từ;

Thấy điều gian-trá thì trừ,

Đừng cho mình vấy tiếng hư theo người.

KỆ RẰNG:

Đạo Thầy Chánh Đại lại Quang Minh,

Đâu phải tuồng như kẻ thế-tình,

Khuyên khắp chúng-sanh mau tỉnh giấc,

Đài Cao cửa rộng mở thinh-thinh.

(Thăng)
—————————d&c—————————



THÁNH-HUẤN CỦA THÁNH-THẤT KIÊN-GIANG

NHỊ-THẬP-THỦ LIÊN-HUỜN
NGỌC ngà châu báu của Trời ban,

HOÀNG cảnh sao xem thấy nhộn nhàng,

THƯỢNG phẩm cung tuờng ai dễ thấu,

ĐẾ quyền đâu sái mảy trần-gian.

I.

Các con lớn nhỏ thấy càng thương,

Lắc lở gần đi muốn lạc đường,

Tin cậy lời ma sao sốt sắng,

Ước ao kinh Thánh lại lương khương,

Gương trong chớ để chi phơ phất,

Tơ trắng đừng cho chút vấn vương.

Một mảy lòng sai mau sửa lỗi,

Đừng cho trần khí nhiễm đàng tràng.



II.

Đàng tràng cao thượng mới vừa yên,

Còn muốn mang lời với Tán-Tiên

Pháp chuyển sanh điều may khỏi dữ,

Ma cơ viện cớ ắt không hiền.

Chanh ranh bánh trước đà lăn úp,

Chợp rợp xe sau dợm ngửa nghiêng,

Công việc muốn làm, làm chẳng hỏi,

Khen cho mãi mãi để Thầy phiền.

III.

Thầy phiền nào có ích chi đâu?

Vụng tính không ngừa việc trước sau

Thấy vậy chẳng răn thêm luốt lát,

Bởi thương ít phạt lại lau chau,

Từ đây qui luật thêm nghiêm nhặc,

Mãi tới chương trình cứ sửa trau

Chánh quả được thành cho giáng bút,

Cấm đừng kẻ khẩn lại người cầu

IV.

Khẩn cầu ai có chứng cho đâu,

Khéo sắm nề cho quỉ phá chay.

Ruộng sẵn, tiền dư, toan phí của,

Mưa sa, nước ngập, khó gieo cày.

Năm lừa, bảy lọc, vừa mừng đấy,

Một lỡ, hai lầm, gẫm xót thay

Có chút lòng thành tua gắng sức,

Chớ sa nẻo vạy, bỏ đường ngay.

V.

Đường ngay kỉnh Phật với thờ Trời,

Chớ thấy thương rồi lại dể ngươi

Một dạ thành tâm quên gắn vó (gắn bó)

Trăm điều ma quỉ dục tơi bời.

Gai chông án mặt tua ruồng bỏ,

Đạo đức gìn lòng mới thảnh thơi.

Có chí thì nên, lâu phải được,

Bồng-lai, Nhược-Thủy sức đua bơi.

VI.

Đua bơi chi cái thú yêu tà?

Nước trí non nhơn sẵn vốn TA

Kinh kệ sân vàng, vòng Thái-Ất,

Móc mưa bụi đỏ, báu Di-Đà.

Trăng trong gió mát nào eo hẹp,

Cội cả nguồn sâu chớ bỏ qua

Tam-giáo dạy ròng lòng tín ngưỡng,

Có đâu Phật Phật lại ma ma!

VII.

Phật ma, ma Phật chẻ lòng tin,

Yêu quái chiều theo sửa tánh tình.

Đạo-hạnh nếu không già pháp tướng,

Ngươn-thần hằng phải loạn danh thinh

Bồ-đoàn sớm tối tiêu tiền nghiệt,

Bữu-Tọa hôm mai giác hậu sinh.

Khờ dại đáng thương, thương mới dạy,

Đố ai lấp được mắt Thần minh.

VIII.

Thần minh bất vị thói gian hùng,

Lánh hé ngờ qua luật Chí-Công,

Ẩn bóng Tam-Kỳ, tuồng đạo đức,

Bịa danh Thượng-Đế, bộ thung dung.

Chữa mình mượn tiếng đời ân xá,

Phỉnh chúng lầm đường tội bất dung

Lộng lộng lưới thưa đâu dễ lọt,

Để cho đứa nịnh nhuộm màu trung?

IX.

Trung thành cang trực chẳng vơ quàng,

Mới được danh đồn tiếng dậy vang,

Mạch nước báu dân lòng sắt đá,

Cửa chùa mối Đạo dạ son vàng.

Tu-trì chỉ nẻo khuyên đem lối,

Công-quả tìm phương khá dẫn đàng.

Sau trước một lòng bồi cội phước,

Thi ân đùm bọc đứa cơ hàn.

X.

Cơ hàn vấn vít đứa hàn vi,

Đời có từ tâm phải nghĩ suy.

Bố thí nét son bia ngọc bản,

Quả công sớ trắng tấu đơn trì,

Dẫu rằng dưới thế không hay đó,

Chớ tưởng trên Trời chẳng biết chi,

Nền thấp phải bồi, bồi mới vững,

Ráng lo công quả Thất Tam-Kỳ.
—————————d&c—————————
Cao-Thiên-Đàn Kiên-Giang,

Đêm 28 tháng 7 Canh-Ngũ (20-9-1930).
TÂY cảnh gìn lòng độ chúng sinh,

PHƯƠNG nào cũng độ khắp U-Minh,

THÍCH môn huệ tánh dồi tâm tướng,

CA giáo hư-vô luyện tánh linh,

CHỨNG cấp huyền cơ ban Nữ phái,

MINH mông ngọc sắc hội tiên danh,

THỂ vân xá lợi đồng vui hưởng,

LIÊN các cung Quỳnh bước rộng thinh.

Thượng ỷ chứng đàn cho:



THỂ sắc không không hựu bất không,

LIÊN hoa vạn đóa hiện vu trung,

TIÊN đơn ký đắc Minh Tâm-Tánh,

NỮ nữ nam nam, tánh diệc đồng.
GIẢI THUYẾT ĐẠO PHẬT:
1.- Tây-Phương Giáo-Chủ Thích-Ca,

Giảng minh thuyết pháp Thiên-hoa Liên-Đài.

Hằng sa số Phật hôm mai,

Nhứt-tâm qui hướng Như-Lai phước điền.

2.- Có câu Phật độ hữu duyên,

Khuyên ai ráng giữ Bổn-nguyên của mình.

Nhơn sanh vạn vật tối linh,

Tiền nhơn hậu quả như hình rọi gương.

3.- Phật-Ca hạ giáng Tây-Phương,

Xả thân cầu Đạo, bởi thương loài người.

Thương vì sanh chúng giữa vời,

Sánh cùng Thiên-Địa, xứng ngôi Tam-tài.

4.- Lý ưng mạnh giỏi hoài hoài,

Có đâu già yếu, hôm mai tật nguyền.

Đến cơn bịnh khổ triền miên,

Thác rồi hết kiếp đảo điên trăm bề,

5.- SANH rồi lại BỊNH làm chi,

LÃO rồi lại TỬ, thảm thê vô cùng.

Nghĩ suy chi xiết não nùng,

Tuyết-Sơn tu luyện, dày công được thành.

6.- Quyết lòng độ khắp chúng sanh

Niết-bàn diệu quả, chứng minh Bồ-đề.

Rèn lòng nguyện lực Đại-Bi,

Vô thượng, chánh giác, kiếp thì viên minh.

7.- Đạo Phật càng gẫm càng kinh,

Bất sinh bất diệt, minh minh muôn ngàn.

Đại thiên thế giới mang mang,

Vô biên vô lượng, thanh nhàn trang nghiêm.

8.- Sắc không, không sắc, nan chiêm,

Vô ảnh, vô lượng, cổ kim diệu huyền.

Tầm lưu nhứt đán đắc nguyên,

Diệu trung chí diệu, hiển nhiên phi phàm.

9.- Bình tâm dưỡng tánh cho kham,

Tu lai cải vản, chớ ham vọng cầu.

Trong mình sẵn ngọc Minh-châu,

Trong mình sẵn Phật, phải đâu mà tìm.

10.- Trăng trong, gió lặng, nước êm,

Gay chéo Bác-nhã, khoát rèm Chơn-Như

Lần lần dọ bến không-hư,

Nọ bờ Cực-Lạc, kia bờ phi phi,

11.- Vượt qua Bát-chánh Đạo chi,

Trần sa vô bất liễu tri hiện tiền.

Trải sang vô sắc Trùng-thiên,

Linh sơn chứng quả, vô phiền vô ưu.

12.- Mấy ai rõ thấu Đạo mầu,

Thông hành, thể, dụng, nguyên, lưu Di-Đà

Dám rằng đạo Ấn, đạo Chà,

Khinh rằng quái đảng, gọi là dị đoan.

13.- Bắc, Nam cũng một con đàng,

Sợi tơ khéo nhuộm, xanh vàng tại tay.

Rừng xanh, đố biết mấy cây,

Đáy sông mấy lớp, cung mây mấy từng?

14.- Đất sao chỗ nổng, chỗ bằng,

Chỗ sâu, chỗ cạn, chỗ hoằng, chỗ cao?

Trên Trời, đố mấy ngôi sao,

Biển nọ Ai đào, núi nọ Ai xây?

15.- Loài người Ai tạo ra đây,

Thế gian Ai sắm, Ai bày thuở nao?

U ơ dường thể chiêm bao,

Đáy sông lặn nhào, mò vớt bóng trăng.

16.- Khoe khoe, nói nói, rằng rằng,

Sức người trí thức thắng phần Thiên-nhiên.

Lại chê báu vật mọn hèn,

Ca-sa, tích-trượng, hóa duyên vô cùng.

17.- Hiển-vi mà rọi trên không,

Khác nào nhắm mắt, lặn sông bòn vàng.

Thước đo mà hiểu Dinh-hoàn,

Khác nào bầy kiến mò đàng Tu-di.

18.- Con người chưa thấy sự gì,

Lường Trời, đong Đất, phân bì nhọc công.

Ngũ hành sanh khắc vừa thông,

Tưởng đâu đoạt hết Hóa-Công mấy lò.

19.- Ba ngàn thế giới Diêm-phù,

Mới vừa vừa biết, năm Châu mơ màng.

Còn ngoài ngoài nữa mênh mang,

Đại-Thiên thế giới, muôn ngàn Kiền-Khôn.

20.- Một mình Đức Phật Chí-Tôn,

Trong ngoài hiểu thấu chẳng còn sót chi.

Vị lai, quá khứ, hiện thì.

Giải phân kinh luật u vi rẽ ròi.

21.- Trần sa bể khổ, em ôi!

Phải độ mình rồi, đặng độ chúng sanh.

Đến ngày đắc quả Đạo thành,

Siêu thăng Thất tổ, độ thanh Cửu huyền.

22.- Muốn cho công quả vẹn tuyền,

Rửa xong nghiệp chướng, tập rèn chơn công.

Ngụy tà, phiền não không không,

Tam thân siêu chứng, lục thông có ngày.

23.- Ở ăn mực thẳng đường ngay,

Cang thường mựa chớ đổi thay tấm lòng.

Khắp trong Tam Giáo Đại Đồng,

Gái mà tiết hạnh, thỉ chung trọn đời.

24.- Xử xong cho trọn đạo người,

Nhơn duyên viên giác, Phật Trời chứng cho.

Có người gạt gẩm kẻ ngu,

Rằng thân phận gái, dẫu tu không thành:

25.- Một là thân phận hôi tanh,

Hai là vì bởi số sanh kiếp đày.

Ba vì lòng độc hiểm nguy,

Bốn là giống để làm tay chơn người.

26.- Năm là yếu đuối biếng lười,

Sáu là giống để nối giòng người dưng.

Bảy là thân phận chiếu chăn,

Tám là phận phải kẻ chăn, người cầm.

27.- Chín là dốt nát, tối tăm,

Mười là đa cảm, đa dâm, đa tình,

Dầu cho vững chí tu hành,

Là tu hậu kiếp nguyện thành nam-nhi.

28.- Nực cười cho kẻ ngu si,

Đặt điều lời nói không vì không kiêng.



Rõ ràng Kinh Luật có biên,

Hàm linh xuẩn động hữu duyên năng thành.

29.- Huống chi gái cũng chúng sanh,

Phật là Từ-Mẫu nỡ đành chẳng thương.

Giải cho em đặng tỏ tường,

Giải cho em biết rõ ràng kẻo nghi.

30.- Dầu cho nam-tử, nữ-nhi,

Ấy là sắc tướng của bề Hóa Công.

Phật là chuyên trọng Tánh tông,

Tánh tông vô tướng, vô dung, vô hình.

31.- Nguơn nguơn, hóa hóa, sinh sinh,

Bổn lai sẵn có nguơn-tinh, khí, thần.

Gọi là Tam-bảo chi thân,

Người tua trân trọng, muôn phần chớ rơi.

32.- Còn phần nam nữ vóc người,

Ấy là xác thịt của người phàm gian.

Tu cho đến cõi Niết-bàn,

Siêu phàm nhập Thánh, hoàn toàn Chơn-thân.

33.- Xác phàm gởi lại Hồng-trần,

Chơn-thân, Tam-bửu về phăng Liên-Đài.

Phật không phân biệt gái trai,

Hễ là đắc quả thì ai cũng đồng.

34.- Kìa như điểu, thú, côn trùng,

Chí tâm mộ Phật, thỉ chung cũng thành.

Giải cho em rõ ngọn nhành,

Ráng lo ăn học, tu hành cho nên.

35.- Còn nhiều nghĩa lý hiển nhiên,

Đoạn sau Chị sẽ giảng riêng từ phần.

Tu hành em ráng ân cần,

Có thân thì phải giữ thân làm đầu.

Thể Liên Tiên Nữ.
—————————d&c—————————


Cao-Thiên-Đàn Kiêng-Giang,

Ngày 22 Septembre 1930.

THÁI thỉ gầy nên cuộc Hóa-Công,

THƯỢNG thương ly hận luyện đơn cung;

ĐẠO Tiên hiển hích điềm linh-ứng,

TỔ Thánh roi truyền sự cảm thông,

CHỨNG kiến quang minh cần Phổ-Độ,

ĐÀN tràng giảng giải ý chơn tông;

THỂ gương bửu kính cho đời hiểu,

LIÊN tọa đài xây khắp Đại-Đồng.

Thượng ỷ Chứng Đàn cho:



THỂ đồng Thiên Địa diệu vô cùng,

LIÊN dẫn hương hề nguyệt dẫn phong;

TIÊN giác thệ tâm khai hậu giác,

NỮ ban tùng thứ bộ chơn-tông.
GIẢI THUYẾT ĐẠO LÃO:
1.- Kiền-Khôn thế giới một bầu,

Lão Quân Đạo-Tổ, cung Đâu giáo truyền.

Đạo nguyên Tiên, Hậu, nhị-thiên,

Làm đầu vạn Thánh quần Tiên trên Trời.

2.- Kể từ khai tịch dỉ lai,

Giáng sanh hóa Đạo, chẳng nài công phu.

Hư-không dường thể bóng thu,

Bí truyền Tánh, Mạng, song tu huyền hoàng.

3.- Người tu định nhiếp Âm-Dương,

Hình thân bảo dưỡng, bảo toàn linh minh.

Tuy vân tích khí thành hình,

Âm dương nhị khí, khinh thanh thượng phù.

4.- Trọng trược ngưng hóa Địa-Cầu,

Bắc Nam Thiên trục, Thiên xu chẳng dừng.

Ngày, đêm, nhựt, nguyệt, tinh, thần,

Sanh nhơn, sanh vật, lần lần mở mang.

5.- Gọi là một cõi Thế-gian,

Ngoài đây còn có ba ngàn minh mông.

Đạo thông Thiên-địa vô cùng,

Diệu truyền yếu chỉ Hóa-Công dạy đời.

6.- Chỉnh xem ý vị của Trời,

Lặng trang êm phẳng, không hơi, không rằng.

Chơn-không, Thủy, Hỏa, đôi vừng,

Chuyển luân nhựt nguyệt, lưu tuần ngày đêm.

7.- Hằng sa tinh tú thuộc Kim,

Như châu như ngọc để ghim nửa lừng.

Gió dông thay đổi Hồng-quân,

Ấy là Chơn-mộc choán phần không-trung.

8.- Chuyển gầm sấm sét đùng đùng,

Ấy là Chơn-thổ vẫy vùng thiên oai.

Ngũ hành ấy thuộc phần Trời

Còn phần dưới Đất, thì người đều thông.

9.- Con người sanh ở giữa vòng,

Đủ Trời đủ Đất, ở trong thân mình.

Ngũ hành còn phải chia rành,

Âm Dương Thiên Địa, hình danh thể nào.

10.- Y-gia đã có công cao,

Chia hai tạng phủ, trỏ vào âm dương.

Dùng công Tạo-Hóa đặng lường,

Những đồ vật chất thuộc nguồn chơn-âm,

11.- Hiên, Kỳ(*), mối Đạo cao thâm,

Người chưa hiểu thấu, nên lầm nên sai.

Ngũ hành phải biết có hai:

Có hình thuộc Đất, ở Trời thì không.

12.- Nhơn-thân là Tiểu-Kiền-Khôn,

Khinh thanh, trọng trược, hiệp thành hóa sanh.

Tạng, phủ là âm ngũ hành,

Còn dương ngũ khí, lưu hành châu thân.

13.- Học Đạo càng phải biện phân,

Giữ gìn bất đổ, bất văn mới mầu.

Phóng tâm, âu phải ráng thâu,

Thân tâm định tánh, đặng cầu Thiên-chơn.

14.- Tai nghe hóa giận, hóa thương,

Ấy là thiên-thủy dẫn đường nơi trong.

Bắt mùi hoặc thích hoặc không,

Thiên-kim nơi mũi, hơi lồng thấu tim.

15.- Miếng ngon hoặc nhớ hoặc thèm,

Lưỡi là Thiên-hỏa chiếp đem vào lòng.

Sắc nào ưu đẹp muốn trong,

Ấy là Thiên-mộc, tại tròng con ngươi.

16.- Vật-dục che lấp lòng Trời

Ấy là Thiên-thổ, ý người ham mê.

Nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, ráng dè,

Đều quan tâm ý, thiệt là chơn tu.

17.- Ngũ hành, thiên địa mù mù,

Mà mình sẵn đủ, lựa cầu đâu xa!

Âm dương, nhị khí của TA,

Đục trong phân biệt, điều hòa Chơn-Như.

------------------------------------------------

(*): Hiên là Hiên-Viên Huỳnh Đế; Kỳ là Kỳ-Bá là Tổ Thầy thuốc Bắc.

18.- Gìn lòng thanh-tịnh, không hư,

Lòng đừng xao dợn, đặng trừ bợn nhơ.

Lòng đừng vọng tưởng ước mơ,

Ý tua định tóm, chơn-cơ hoàn toàn.

19.- Hãy xem võ trụ Dinh-Hoàn,

Đều đồ hư mục, chớ màng chớ mê.

Tục rằng: sống gởi, thác về,

Thần Tiên bất lão, có hề chi đâu!

20.- Dẹp xong ngũ tặc làm đầu,

Quan tâm quan vật, rồi sau tập tành,

Tam-quang rọi thấu nguơn-thần,

Tam-thân hiệp nhứt Chơn-nhơn công thành.

21.- Ấy là đến bực Trường sanh,

Còn muốn thân hình bạch nhựt siêu thăng:

Phải lo bồi đắp bổn căn,

Thiên kim diệu lý sẽ phân có ngày.

22.- Nhứt tâm tín ngưỡng tới Thầy,

Lời rằng: “tao đố không thầy, mầy nên”.

Các em sốt sắng cho bền,

Muốn cho nhà cửa vách phên vững vàng:

23.- Phải lo nền đắp cho an,

Có Kinh Cảm-ứng chỉ đàng tu thân.

Mới đây “Thiệp-Khuyết Tu-Chơn”

Của Thầy ban bố, công ơn vô ngằn.

24.- Có phước nên mới có phần,

Có đâu nghe được lời trân trọng nầy.

Huỳnh-đình, tu luyện đêm ngày,

Tu tâm dưỡng tánh, sánh tày Hóa-Công.

25.- Kiếp đời, cá chậu chim lồng,

Trăm điều giả dối, có thung dung gì!

Trời kia mà giả mới kỳ,

Kìa mây khi nổi, khi bay mấy hồi.

26.- Đất sao chỗ lở chỗ bồi,

Cũng là giả cuộc, có đời chi đâu!

Người đời lúc mạnh lúc đau,

Hoặc còn hoặc chết, chiêm bao làm tuồng.

27.- Vì chưng ngũ tặc loạn chơn,

Tâm thần chẳng tịnh nên vương lưới trần.

Âm Dương, Đạo Đức sáng trưng,

Dùng gương vô-kiệt, luyện thần hư-vô.

28.- Phải phân tà chánh lưỡng đồ,

Bàn-môn tả-đạo, ai khờ phải mang.

Nghĩ coi cũng một con đàng,

Nó chia Nam Bắc, rộn ràng lăng xăng

29.- Điền Ly, bổ Khảm tưng bừng,

Thiêu-đơn, luyện-hống, nhố nhăn mơ hồ;

Đường ngay em cứ bước vô,

Lâu ngày tà-giáo làm trò gì nên!

30.- Ráng nghe lời Chị dạy khuyên,

Có ngày cũng được bạn Tiên cung Trời

Pháp-ngôn sơ dẫn ít lời,

Huyền gia bửu pháp, nhiều lời dạy sau.

Thể Liên Tiên Nữ.

—————————d&c—————————





Cao-Thiên-Đàn Kiêng-Giang, đêm 7 tháng 1 Tân-Vì.

CHÍ đức hóa thương sanh,

THÁNH mô tập đại thành;

VĂN chương nhi võ hiển,

TUYÊN Đạo định san kinh;

CHỨNG thử tam tùng giáo,

THỂ trình ngũ sắc quang,

LIÊN hoa chơn thắng cảnh,

ĐÀN sỉ tánh tâm minh.

Thượng ỷ Chứng Đàn cho Thể Liên Tiên Nữ.


THỂ dụng hoàn toàn doãn khuyết trung,

LIÊN tư khiết bạch tự nhiên dung,

TIÊN thiên đạo hiệp tam nhi nhứt

NỮ khảm nam ly đoạt hóa công.

Bần-Đạo chào chư Đạo-hữu.


GIẢI THUYẾT ĐẠO NHO:
1.- Thánh Kinh Trung-Hiếu làm đầu,

Dầu Nam dầu Nữ phải trau trọn niềm.

Trải xem sách vở cổ kim,

Ngàn Kinh muôn Điển dạy kềm thảo ngay.

2.- Trời cao biển thẳm Đất dày,

Nho gia vững đặt chẳng lay chẳng sờn.

Dạy người luân lý cang thường,

Dạy người trung tín nghĩa nhơn vuông tròn;

3.- Dạy cho biết phép biết khuôn,

Lễ nghi đạo đức cội nguồn dân sanh.

Trung-Dung hai chữ chí thành,

Phát minh Thiên Địa, lưu hành căn cơ.

4.- Dịch Kinh chép để sờ sờ,

Hà-đồ lại với Lạc-thơ rõ ràng.

Thánh nhơn nghiên cứu âm-dương,

Ngũ hành sanh khắc tuần hườn châu nhi.

5.- Đạo thông từ lúc Phục-Hy,

Lần qua Đại-Võ đến kỳ Văn-Vương.

Châu-Công, Khổng-Thánh tiếp nương,

Lập thành Mối Cả, mở mang con người.

6.- Từ sanh có Đất có Trời,

Có người mới đủ sánh ngôi Tam-Tài.

Âm dương một lý mà hai,

Như người một giống gái trai hai hình.

7.- Trời thì sanh có năm Hành,

Người thì năm Đức sẵn in vào lòng.

Suy ra cho tột cho cùng,

Thiên nhơn nhứt Lý quán thông chẳng rời.

8.- Nghĩ rồi mới rõ Đạo Trời,

Rõ rồi nên phải bày lời dạy khuyên.

Xưa nay những bực Thánh Hiền,

Thay Trời dạy Đạo sách biên muôn vàn:

9.- Dạy cho khắng khít Tam Cang,

Dạy cho gắn chặt Ngũ Thường Nhơn Luân.

Thi, Thơ, Lễ, Nhạc, Điển Phần,

Hiến chương Văn Võ noi chừng Thuấn Nghiêu.

10- Tam thiên tam bá đủ điều,

Dùng gương tiên giác dắt dìu hậu lai.

Dạy đời chẳng sót một bài,

Tề gia trị quốc chẳng sai phân hào.

11.- Nho-gia rộng lớn xiết bao,

An dân an quốc công cao muôn đời.

Những điều cư xử làm người,

Chẳng sót một lời Ngài nỡ bỏ qua.

12.- Đến phần Triết-học cao xa,

Sánh cùng Phật Lão cũng là mỉa mai.

Kẻ sau học hỏi sơ sài,

Chia phe, chia phái, biếm bài khen chê.

13.- Chưa thông ý vị Trọng-Ni.

Mà chê Đạo khác thuộc về dị đoan.

Chẳng dè Tam-giáo Thánh nhân,

Truyền trao Mối Cả phải nương theo thời.

14.- Nói rằng Phật Lão hại đời,

Chẳng dòm Khổng-giáo biếm người bội sư.

Đạo nào cũng tại người hư,

Đạo nào cũng giữ khư khư tánh Trời.

15.- Bổn sơ khuyên chớ đổi dời,

Chí ư chí thiện trọn đời đừng sai.

Ngọc trong nhờ có sức mài,

Người muốn nên tài thời phải chí tâm.

16.- Tấc vàng tấc bóng quang âm,

Ba dư mựa chớ tưởng cầm rằng chơi.

Muốn cho đứng đợt với đời,

Nhơn hòa, Địa lợi, Thiên thời phải thông.

17.- Muốn rành thể dụng Hóa Công,

Âm dương động tịnh chấp trung điều hòa.

Mọi người noi giữ giềng ba,

Gìn câu tha thiết, trát ma chớ rời.

18.- Nhơn Tâm nguy lắm em ôi!

Gìn lòng thận-độc giữ lời u vi.

Quan-phòng hai chữ Trí Tri,

Chánh Tâm, Thành Ý, vô khi Không-Điền.

19.- Hi Hiền, hi Thánh, hi Thiên,

Do mình trì chí tự nhiên được thành.

Có câu Thiên Địa hiếu sanh,

Họa dâm phước thiện tại mình mà ra,

20.- Khuyên đời khá bỏ thói tà,

Tồn tâm dưỡng tánh, ta bà hư thân.

Khắp trong Tam-giáo Thánh Nhân,

Người Tiên, người Phật, Thánh Thần giống nhau:

21.- Dạy điều ngay thảo làm đầu,

Làm lành lánh dữ trước sau một niềm.

Bình tâm chánh nghĩ mà xem,

Đạo, Nho, Thích-Giáo thù hiềm bởi đâu?

22.- Chẳng qua tại kẻ làm đầu,

Xảo ngôn dỉ tự loạn châu no mình.

Có câu Thiên Địa lưu linh,

Vô thinh, vô xú, vô hình, vô danh.

23.- Mang mang thiên lý lưu hành,

Vô ý, vô tất, nguơn hành trinh kiên.

Trung- Dung bất diệt bất thiên,

Quang tiền dũ hậu danh truyền thiên thu.

24.- Trạch dân trí chúa thân tu,

Dương danh hậu thế qui mô vô cùng.

Thánh ngôn thiên tải kỳ phùng,

Các em mựa chớ tấc lòng đơn sai.

25.- Ngày đêm hôm sớm khuya mai,

Sắt kia có thuở mình mài nên kim.

Thể Liên Tiên Nữ.

—————————d&c—————————






Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương