ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ TÒa thánh đỊnh tưỜng hội thánh chơn lý thiêN ĐẠo chơn truyềN


Tây-Ninh, ngày 5 tháng 4 năm 1928



tải về 1.52 Mb.
trang3/13
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích1.52 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13

Tây-Ninh, ngày 5 tháng 4 năm 1928.

“TRUNG, THƠ… Đạo chẳng kíp thì chầy sẽ thành ra một mối hàng mà mỗi người trong Đạo sau khi giành giựt cắn xé nhau thì chia phân tan tành manh múng, để một trò cười về sau đó, ấy là tại nơi đâu? Người hành Đạo sẽ chẳng đủ sức chế cải, kẻ tự cao, luống chiều vì cầu danh nghịch tư cách đối cách đối đãi với thế tình, gây ác cảm mà tạo thành thù oán.

Hai đứa phải biết chỗ yếu nhược của Đạo nơi đó mà kiếm phương tìm chước lập công hòa-hiệp nhơn ý mà điều đình sửa cải nền Đạo cho chóng, làm sao cho mối đạo hữu các con đều ngó về Tòa-Thánh mà xưng ân huệ của mỗi con có trách nhậm xứng đáng, làm sao cho dứt mối hiềm thù riêng của mỗi đứa, hiệp đồng trí mà làm cho người ngoài dòm vào chẳng khinh nhạo mối Đạo quí quá và thảy sùng bái cử chỉ cao thượng của các con. Chừng ấy các con không mạnh cũng ra mạnh, không đông cũng nên đông, mà việc phổ độ nhơn sanh chẳng còn điều chi trắc trở.

Đạo trễ một ngày thì hại cho nhơn sanh một ngày, mà mỗi đứa đều gây ác cảm, mà làm cho mối Đạo thành ra bánh vẽ, thì chừng nào Đạo trọn thành nơi đây? Chừng nào Đạo chuyển cho ngoại quốc? Trong còn mơ màng như người say chưa tỉnh, thì ngoài thế nào được đem mà gieo lần ra. Các con nên biết xưa những chi mà trái cả nhơn tâm thì khó bền khó vững. Chánh-sách cọng hòa êm tịnh là chánh sách của các con đặng dùng lập Đạo mà thôi. Kiêu hãnh, thái thậm, vào muốn có người trình, ra muốn có kẻ cúi, khoát nạt đè ép, biết mình mà chẳng năng biết người, hay ỷ sức mà chẳng lo xem thời thế, chẳng chế phục nhơn tâm, chẳng biết dụng khiêm từ mà đãi khách, làm những nết của Vương-Bá xưa dùng mà tan tành võ-trụ đó. Nầy các con muốn lập một Đạo chẳng khác chi lập một nước; phận sự lại còn khó khăn hơn nữa, liệu mà sửa cải, liệu mà điều đình, mới có thế chống ngăn với sự tàn bại sắp đến, cho nên Đạo chẳng xa? Nhưng hai con muốn được ra công kềm chế mà làm cho Đạo được vững, người được hòa, tâm được hiệp, ngoài được mạnh, trong được thung dung, giống quí mầu, thì công ấy chẳng chi sánh được”.

—————————d&c—————————
Tây-ninh, ngày 26 tháng 7 năm 1928.

Đức Lý Giáo-Tông giáng dạy như sau nầy:

“Từ Lão lãnh trách nhậm Giáo-Tông kể ra thì chưa đặng một mảy chi kết quả cho Đạo, mà lại còn mang lời nầy tiếng nọ. Vậy Lão xin nhường ngôi Giáo-Tông lại cho Đạo.

Hiền hữu Thượng-Trung-Nhựt với Lão chẳng xa lạ chi, vậy Lão xin hỏi một điều: nếu Đạo một may nghiêng ngửa thì danh giá của Hiền-hữu và của Lão đây ra thế nào?

Hiền-hữu đừng quá khiêm, dầu ngu thế nào cũng biết Đạo mà làm chớ, gọi là: u-ám không rõ Đạo-Lý. Đã hai năm mà gọi rằng chưa rõ; vậy Lão hỏi chư Đạo-hữu đây, có biết Chơn-Lý của Đạo là gì chăng? Lão muốn cho Hiền-hữu Thái-CA-Thanh làm một Chương-Trình Lập-hiến (Chương-Trình Cửu-Viện) mà đệ lên cho Hội-Thánh nghị-định hành Đạo cho hoàn tất. Còn Thượng-hiền-hữu lo tịnh-dưỡng tâm-thần đặng chờ địa-vị xứng đáng. Hiền-hữu phải ráng chỉnh-đốn trong Đạo cho hết lộn xộn về những việc bề ngoài của thế-tình, đừng để mang điều quái-dị thì có khi nhục đến danh Đạo… Cứ chiều lòng công-chúng thì nên mỗi việc. Lão thường dặn phải chung trí mà làm, thì không ai nói đặng”./-

—————————_Tây-ninh,_ngày_8_tháng_5_năm_1930.'>—————————d&c—————————
Tây-ninh, ngày 8 tháng 5 năm 1930.

Thầy, các con,

Thầy thấy phần nhiều, tu cũng muốn tu, mà thế-tục cũng không muốn chừa bỏ, thế-tục là nét dìu dắt cho mất ánh Thiêng-Liêng; phải lấy nghị-lực cang-tâm kềm chế cái dục-vọng mới là chẳng uổng công-phu hành Đạo cho. Áo dà cũng muốn mặc, giày Đạo cũng muốn mang, muốn đứng trước cả nhơn sanh, để cho họ biết mình là hướng Đạo, đường Tiên cũng lấp lửng, nguồn Thánh cũng lộn vào, thấy bạc rơi chẳng bỏ, lợi múng cũng chẳng chừa, mượn danh Đạo tạo danh mình, vô Thánh-điện mà hơi tà còn phưởng phất. Muốn cho nhà thiệt cao, áo thiệt tốt, đội lốt cọp dọa cáo bầy, bụng trống lổng túi thâu đầy, toan làm thầy lũ dại.

Ôi, lốt Đạo, lốt Đạo…

Thầy buồn cho trẻ dại chẳng biết làm sao mà đem Thánh-Giáo vào tay chúng nó đặng, Thầy nhớ xưa kẻ mộ Đạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhục mình, giày gai áo bã, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giạu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy cũng không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình được. Chớ có đâu lấy của lẫn nhau, mượn quyền xô Đức, kẻ chơn-thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm rúm mảng hơi tà, lạy đùa nói rằng thờ Chánh-Giáo.

Thầy hỏi: vậy chớ ai chứng cho?

Các chức-sắc đều Lập Hiến Cửu viện đều lui lần lần về nhà hết; sau nữa Đức Lý Đại Tiên giáng đàn cho một bài Tiên tri rằng: Tổ Đình Tây Vức (Tòa-Thánh Tây-ninh) sẽ là một ổ quỉ.

—————————d&c—————————



IV.

THẦY DAY CÁN BÚT VỀ CAO THIÊN ĐÀN

(RẠCH GIÁ)

Vì nhơn sanh đồ thán nên Thầy day cán bút về Cao-Thiên-Đàn (Rạch-giá), số người nhập môn tại Tây-ninh có phân nửa triệu người, kẻ đi hầu Đàn Đại Lễ có chừng 9-10 ngàn người; tại Thánh-Thất Mỹ-tho mới Lạc-thành Tết năm Thìn (1928), số nhập môn có 50.000 người, đi hầu Đàn có chừng 2-3 ngàn người, theo gần kịp Thánh-Thất Vũng-Liêm của bà Lâm-Thị-Thanh, là một Thánh-Thất đông hơn hết.

Năm Ngọ (1930), Thầy day cán bút về Cao-Thiên-Đàn (Rạch-giá), có cho ra cuốn kinh “Tu-Chơn Thiệp-Khuyết”:

NGỌC Lịnh ban-hành khải Cửu-Cung,

HOÀNG Môn Xuân sắc tượng ung-dung,

THƯỢNG hành Hạ-hiệu đô công-quả,

ĐẾ Đạo hoằng khai chiếm thượng phong.

1.- Cung Bạch-Ngọc ngự-lâm bửu tọa,

Thọ chư Thần triều-hạ đã yên;

Thân thân giá hạnh Nam-Thiên,

Trước xem Tam-Giáo cháu Tiên, con Rồng.

2.- Đã đôi kiếp dày công, nhọc sức,

Dạy chúng-sanh kỉnh Phật thờ Trời;

Thương thay cũng tại số người,

Ngạo lời Thánh-Huấn, kỉnh lời quỉ-vương.

3.- Lòng chẳng kể cang-thường là Đạo,

Dạ hằng lo hung-bạo làm đầu;

Thấy vầy, Thầy phải nghĩ sâu,

Tam-Kỳ Phổ-Độ Nam Châu phen nầy.

4.- Lời Thầy phán, rẽ mây vén ngút,

Kinh Thầy ban, chạm ngọc khảm vàng;

Khác nào rọi đuốc chỉ đàng,

Khuyên con tạc dạ, ghi xương chớ rời.

5.- Sách chép chữ: khôi khôi thiên-võng,

Đời ghi câu: lộng lộng lưới giăng;

Nhặt thưa, mau chậm, cân-phân,

Mựa rằng sơ-sót, mắt Thần không sai.

6.- Thầy đã dạy nhiều bài vàng-đá,

Con nỡ đành chẳng dạ sắt-đinh;

Con hư, Thầy phụ chẳng đành,

Con nên, Thầy được phỉ tình ước-ao.

7.- Đời hằng nói: Trời cao có mắt,

Sách thường biên: Thái nhứt vô hình;

Minh-mông, đồ-sộ, rộng-thinh,

Mà soi-xét đủ tình-hình thế-gian.

8.- Đây giáng bút ít hàng vắn-tắt,

Đặng trao lời vuông-tấc nhiệm-mầu;

Chớ rằng: chẳng tiếng cao-sâu,

Khuyên thường chử dạ, mựa hầu sai-ngoa.

9.- Ơn cúc-dục: công cha, nghĩa mẹ,

Đức sanh-thành: nuôi bé, dạy khôn;

Tục rằng: cây cội nước nguồn,

Cây xanh nhờ có nước luôn tư mùa.

10.- Cùng bạn-tác: không dua, không nịnh,

Với anh em: đừng phỉnh, đừng phờ;

Thấy người quyền quí đừng mơ,

Gặp người hoạn nạn chớ lơ-lảng lòng.

11.- Đạo quân-tử, vợ chồng gây mối,

Mối cang-thường, dòng-dõi trổ nên;

Một lòng, một dạ vững-bền,

Sớm khuya dạy-bảo, nhủ-khuyên ngọt-ngào.

12.- Tình máu-mủ, đồng-bào cốt-nhục,

Cũng rún nhau, một cục xắn-chia;

Đừng toan chước quỉ phân-lìa,

Ở cho hòa-nhã tiếng bia danh đồn.

13.- Đạo thần-tử, lo tròn phận-sự,

Nghĩa tôi-con, nắm giữ thân-danh;

Sao cho công-toại, danh-thành,

Sao cho muôn thuở sử xanh tên đề.

14.- Cân Tạo-Hóa nhiều bề mắc-mỏ,

Máy Kiền-Khôn hiếm chỗ cam-go;

Nước đời sâu chống, cạn dò,

Đừng chơi biển thẳm, chớ mò lạch khơi.

15.- Thần, Tiên đã bày lời trung-chánh,

Thánh, Hiền còn thêm gánh nghĩa-nhơn;

Thương đời chẳng biết công ơn,

Chê bai thấp thỏi, chờn vờn cầu cao.

16.- Muốn đặng Ngọc, thì vào non thẳm,

Muốn tìm Vàng, phải ngấm biển sâu;

Muốn cho phú-quí, công-hầu,

Thì tua gắng chí dãi-dầu tuyết sương.

17.- Ai cũng muốn Tây-Phương lạy Phật,

Sao không lo Thánh-Thất chầu Thầy;

Vì con Thầy mới đến đây,

Cạn phân lợi-hại, tỏ-bày thiệt-hơn.

18.- Phải: tích đức, tu-nhơn làm trước,

Lo: tu-thân, tác phước cho cần;

Trên đầu có Thánh, có Thần,

Có Trời, có Phật cầm cân chẳng lầm.

19.- Đừng tưởng chỗ tối-tâm chẳng thấy,

Chớ tưởng điều phải-quấy không soi;

Có câu: “khuynh-phúc, tài-bồi”

Nước sông rông kém, máy Trời vần-xây.

20.- Vầng Nhựt-Nguyệt đêm-ngày soi-xét,

Lẽ Âm-Dương hàn-nhiệt giao-thông;

Có câu: “Thiên-Địa chí-công”,

Họa dâm, phước thiện, mảy lông chẳng chừa.

21.- Đừng tưởng lấy vải thưa che Thánh,

Chớ tưởng dùng sức mạnh qua Trời;

Đáng thương, mà cũng đáng cười,

Vì lòng kiêu-ngạo dể-ngươi Cao-Dày.

22.- Lòng bất-nhẫn thêm bày ít đoạn,

Dạ Từ-Bi phụ giảng vài bài;

Khuyên con tạc dạ chớ sai,

Khuyên con chớ thấy dông-dài bỏ qua.

23.- Nên xa tránh dâm-tà, sắc-dục,

Hư thân danh, điếm-nhục Tổ-Tông;

Hại nầy, thiệt hại vô cùng,

Phật, Trời chẳng chút thứ-dung tội nầy.

24.- Ví kiếp trước, dẫy-đầy Âm-chất,

Sa mê dâm, Phước-Đức tiêu-mòn;

Hại mình, hại vợ, hại con,

Hại luôn sự-nghiệp, hại dồn đời sau.

25.- Chước quỉ-quái, lòng sâu dạ độc,

Kế tinh-yêu, đục nước béo cò:

Lập mưu thả lưới, giăng dò,

Hại người lương-thiện, ấm no thân mình.

26.- Người cậy thế khôn-lanh, xảo-trá,

Trời dành phương nhơn-quả, trả vay;

Phủi tay chẳng kíp thì chầy,

Reo cười chưa thỏa, xin mày không cơm.

27.- Đành búng-rảy ngày đơm, tháng giỗ,

Nỡ phụ-phàng chim Tổ, người Tông;

Ỷ mình đủ cánh, đủ lông,

Quên ơn cha mẹ, phủi công ông bà.

28.- Tội bất-hiếu, phui-pha đâu có,

Chữ vô-tư, tỏ-rõ phải không;

Kiếm đao, địa-ngục song song,

Đem vào trước dạy, vỡ lòng phanh gan.

29.- Chủ lường-gạt, buôn gian bán lận,

Tớ gian-tham, lời chận lỗ thêm;

Miếng-môi chuốt ngót cho êm,

Lường công tiếc việc, dao ghim đầy lòng.

30.- Phường sâu-độc, toan phòng ngọt mật,

Tánh cưu-mang, nhử bắt giết ruồi;

Mưu sâu gẫm lại, than ôi!

Hồi đầu báo ứng, kêu Trời muộn thay!

31.- Ngày chí tối, phô-bày nanh-vút,

Sớm cùng trưa, xúi-giục kiện-thưa;

Xiết bao kế lận, mưu lừa,

Ôm gồm hai phía, đỏng-đưa đôi đàng.

32.- Cậy quyền-thế, tham-quan ô-lại,

Giả xưng-hô, quí-phái cao-môn;

Líu-lo ba tấc lưỡi dòn,

Đã thâu của báu, lại bòn đồ xưa.

33.- Giọt thán-oan như mưa thấy thảm,

Tiếng bi-ai dường sấm bên tai;

Sống cho vạn ách, thiên tai,

Thác cho kiếp kiếp đầu-thai bồi-thường.

34.- Dối Thần Phật gạt lường tế-độ,

Phỉnh chúng-sanh tu-bổ chùa-chiền;

Trọng Tăng, kỉnh Phật thiêng-liêng,

Lòng thành dưng cúng, bạc tiền sá chi.

35.- Nghề đồng-cốt, khinh-khi Tiên, Bụt;

Nghiệp bóng-chàng, đàng-đột hư-vô;

Xác Ông, xác Cậu, xác Cô,

Dưng chay, cúng mặn, thế đồ, vớt vong.

36.- Chẳng hiểu chữ: sắc không, không sắc,

Chẳng thông câu: không có, có không.

Giam vào vô-để lao-lồng,

Chờ ngày: Phán-Đoán Đại-Đồng Thế-Gian.

37.- Kẻ bợ-đỡ, mua quan, bán bạn,

Tánh nịnh lùa, giả dạng cầu thân;

Cũng phường mọt nước, sâu dân,

Phú cho địa-ngục trầm-luân giam-cầm.

38.- Phô những lũ tìm tâm ích-kỷ,

Khắp các phường tính kế hại người;

Hại người, mình lại vui cười,

Hỏa-khanh địa-ngục, đốt đời chẳng dung.

39.- Răn đệ-tử: chớ dùng rượu thịt,

Khuyên chúng-sanh: ráng ít chơi-bời;

Sắc, tài, tửu, khí hao hơi,

Gắng công Tu-Niệm thờ Trời, tụng Kinh.

40.- Lời Thầy phán, phải tin, phải tưởng,

Tiếng Thầy răn, chớ cượng, chớ sai;

Tu cho rạng tiếng Cao-Đài:

Cha hiền, con thảo, trai ngay, gái lành.

41.- Trối những kẻ khinh danh Đạo Cả,

Thây các phường thóa mạ khi Thầy;

Khoe khoan, kiêu-ngạo, đặt bày,

Đền xong tội thế, đến ngày gặp TA.

42.- Điều biếng nhác, bởi già nghiệp chướng,

Tánh trù trì, khó hưởng thanh nhàn.

Khuyên con vững dạ bền gan,

Lòng lo tu-niệm, Thiên-Đàng mau lên.

43.- Mảng những ước thành Tiên, thành Thánh,

Mà quên lo Tu Tánh, Tu Thân;

Tu cho bồi đắp thiện căn,

Tu cho Trung, Hiếu, Nghĩa, Nhân vẹn-tuyền.

44.- Tu là cứu Cửu-Huyền Thất-Tổ,

Tu là cần phổ-độ chúng-sanh;

Cầu cho cải dữ về lành,

Cầu cho đất-nước thái-bình muôn năm.

45.- Tu cho được Thần khâm, quỉ phục,

Tu cho nên thoát tục, siêu phàm;

Công danh, quyền quí, tước hàm,

Mây tan, nước chảy mà ham nỗi gì?

46.- Thế thường nói: Tu chi cho nhọc,

Để mà lo: tước lộc, công hầu;

Sao không suy trước, nghiệm sau,

Tiền-căn, hậu-quả, bởi sao được vầy?

47.- Phân năng bón, thì cây mới tốt,

Rễ thường tươi, thì đọt mới xanh;

Muốn cho cả cội, sung nhành,

Tu Hành lo trước, sau đành thảnh thơi.

48.- Thầy thương xót, ngùi ngùi kẻ dại,

Muốn thành công, mà lại ngao du;

Phật mang tám nạn cũng Tu,

Thầy còn muôn kiếp công-phu dãi dầu.

49.- Ai dẫu được công hầu, khanh tướng,

Mà không lo tiếp dưỡng tài bồi;

Gốc cây, sùng đục đã rồi,

Khôn trông nứt mụt, nảy chồi, đơm bông.

50.- Tu Phước Đức bền lòng cho lắm,

Tên quỉ vương hay nhắm người Tu;

Mũi tên đã độc, lại mau,

Ghim vào một mũi, khó hầu gỡ ra.

51.- Tên nó sắm: những là rượu bọt,

Tên nó giồi: gái tốt, vàng ròng;

Muôn ngàn tên độc vô cùng,

Vương nhằm một mũi, thì không còn Hồn.

52.- Tu thì chớ bôn chôn, nóng nảy,

Tu thì cho quấy-phải phân-minh:

Chánh-tà, chơn-ngụy được rành,

Phật, Trời mới chứng cho mình rằng Tu.

53.- Tu cho được: Phụ từ, Tử hiếu,

Tu cho thành: Huynh hữu, Đệ cung;

Gái Tu: Tứ Đức, Tam Tùng,

Trai Tu: Nhơn, Nghĩa, Hiếu, Trung làm đầu.

54.- Thế tưởng vậy là Tu Nhơn-Đạo,

Nào hay rằng: Thiên-Đạo bởi đây;

Chẳng lo Nhơn-Đạo cho dày,

Mong thành Thiên-Đạo mặc-may làm gì.

55.- Phật đã dạy: “Tam Qui, Ngũ Giới”,

Đời chẳng tuân, để hại Nguơn-Thần;

Bởi thương nên mới phân-trần,

Vì thương nên mới ân-cần nhủ-khuyên.

56.- Một khuyên phải -kiền-thiền -mộ Đạo,



Hai tuân lời Tam-Giáo Thánh-Nhơn:

Đạo là Chí Chánh, Chí Chơn,

Những lời Thánh-Huấn chạm xương, ghi lòng.

57.- Ba khuyên nhớ Tổ Tông Công Đức,



Bốn lo Tu đúng bực cang-thường:

Cha sanh, Thầy dạy kỷ-cương,

Anh em bạn-tác, náu nương vợ chồng.

58.- Năm khuyên nhớ kẻ nông công khó,



Sáu xót thương tằm-phụ nhọc nhằn:

Cày sâu, cấy cạn, bón phân,

Làm nên tơ chỉ, trăm phần lao đao.

59.- Bảy liên lạc đồng bào, huynh đệ,



Tám khuyên đừng xua-mỵ quyền-môn,

Sao cho tiếng ngợi, danh đồn,

Đáng trang Đạo-Đức phải tôn, phải vì.

60.- Chín khuyên chớ khinh-khi cô-quả,



Mười khuyên tua hỉ-xả lỗi người;

Khuyên đừng biết giận hờn ai,

Xót người hoạn nạn, cứu nơi cơ hàn.

61.- Được vậy, mới gọi trang Tu Tánh,

Tánh Tu rồi, mới định Tu Tâm;

Càng Tu, càng thấy cao thâm,

Càng Tu, càng thấy sự lầm lạc xưa.

62.- Biết lầm lỗi, thì chừa cho gấp,

Đặng mau lo bồi đắp cội lành;

Như vầy: mới gọi Tu-Hành,

Như vầy: mới được chứng-minh Bồ-Đề.

63.- Khuyên con phải kiêng-dè cho lắm,



Mười lời khuyên như tẩm Cam-Lồ;

Đêm ngày dầu tụng Nam-Mô,

Mà không noi giữ nhành khô, rễ còi.

64.- Mừng con đặng có mòi tấn-phát,

Rưới cho con nước mát mùi thơm;

Bốn mùa, hoa nở, trái đơm,

Hơi bay bát ngát, nhụy tươm ngọt ngào.

KỆ VIẾT:


I.— Giáng Cơ chỉ rõ Máy Kiền-Khôn,

Ghi chép vài trang sách Thánh-Ngôn;

Luân-Lý, Cang-Thường nên cả cội,

Nghĩa, Nhơn, Trung, Hiếu vốn sâu nguồn;

Thành Chơn Phước bởi công Vô-Lượng,

Đắc Đạo ơn nhờ Đức-Chí-Tôn;

Khuyên nhủ các con tua gắng chí,

Tam-Kỳ muôn thuở tiếng bia đồn.
II.— Tiếng bia đồn đẻ ức, muôn năm,

Khuyên thế đừng Tu độc hiểm tâm;

Thầm tối mưu gài chông lễu-lễu,

Cao-Xanh lưới bủa dạng tâm-tâm;

Vô-thường chẳng sợ tay oanh-liệt,

Quỉ-tốt nào kiêng bực phẩm-hàm;

Thiện-ác đáo-đầu vay có trả,

Hoàng-Thiên hữu nhãn chắc không lầm.
III.— Chắc không lầm-lỗi tiếng Mười Khuyên,

Thì được tên đề bản Địa-Tiên;

Muốn hưởng lâu dài nền hậu-quả,

Phải lo bồi đắp cảnh tiền-duyên;

Làm lành lánh dữ, câu thành ngữ,

Tốt đất sung nhành, lẽ tự nhiên;

Chí dốc siêu phàm lên cõi Thánh,

Phải lo vun tưới miếng Tâm-Điền.

Các con! Thầy dạy bài “Tu Chơn Thiệp Khuyết” nầy là chỉ: Đường Ngay, Lẽ Chánh cho các con đi; nẻo vạy, thói tà cho các con sửa.

Trong lúc Thầy truyền Đạo đây, thì có Chư Thần, Tiên ủng hộ theo Thầy, tường vân che phủ, thoại khí bao quanh; lại có Văn-Xương Đế-Quân ghi chép vào Kim-Thơ Ngọc-Sách, hầu để vào “Tàng-Kinh Bửu-Viện”, cộng cả thảy là 64 vé, 256 câu, 1960 chữ.

Ba bài “Kệ”, các con phải giữ dạ nằm lòng, ngày đêm truyền tụng chớ khá bỏ qua; vì tụng Kinh nầy đây thì “Tứ-Trị Công-Tào Sứ-Giả” thảy hằng nghe, mà biên chép công-quả.

Thầy dạy Bổn-Mạng Nguơn-Thần của mỗi con, xét coi trong lúc rảnh-rang có trau giồi Đạo-Đức như lời Thầy phán chăng? Các con hãy nghe, chớ rằng Thầy không nói trước.

Lời nào Thầy đã dỉ hơi ra,

Vàng Ngọc gìn trau, chớ bỏ qua;

Cung-kỉnh, ấy là nền Đạo-Đức,

Kiêu-căng, vốn thiệt gốc yêu-tà;

Nguơn-Thần chiếu mạng người trung-chánh,

Nghiệp-chướng trì chơn đứa xảo-ngoa;

Đừng tưởng Trời cao, mà giả-dối,

Mắt Thần như chớp, khó phui-pha.

Các con! Như có người nào ở ngoài vòng cửa mà muốn cho rõ mùi Đạo-Lý của Thầy, thì các con cũng nên xét và dạy chúng nó bài “Thiệp Khuyết” nầy:



Khuyên đời bỏ dữ, đặng theo lành,

Ấy cũng là điều giúp chúng-sanh;

Tiên-tục, thấp-cao, lời giác-đác,

Nên-hư chỉ rõ, tiếng đành-rành;

Thiện-duyên yếu mối, năng thưa-thớt,

Nghiệp-chướng già cây, khó rắp-ranh;

Vững lái êm chèo thuyền tế-độ,

Đưa người đến bến mựa cành nanh. (Thăng)

----------------------------------------------------

Bài “Thiệp Khuyết” nầy là bài giáng bút tại “Cao-Thiên-Đàn” (Thánh-Thất Rạch-Giá, Kiên-giang), đêm 24 tháng 3 năm Canh-Ngũ (22 Avril 1930).

—————————d&c—————————


Đầu năm Tân-Vì (1931), Đức Lý Đại Tiên giáng đàn tại Mỹ-tho ra bài “Chánh-Tà Yếu-Lý”.

Bài Thánh-Giáo giáng bút tại nhà ông Nguyễn-văn-Ca (Đồng-tử Chơn-Tâm chấp-bút) đêm mồng 7 rạng mồng 8, 23 giờ, tháng Giêng năm Tân-Vì, trả lời y Sớ mà ông CA dưng ngày mồng Một Tết.



sanh Tâm Tánh ghét gian hùng,

THÁI quá ngày sau khó nổi dung,

BẠCH-Ngọc nỡ nào cho có vít,

GIẢNG-Phân tà-chánh các ngươi chung.

– Nền Đạo hầu nghiêng,

Thói đời thêm mị.

– Lớn mưu mưu, nhỏ kế kế, muốn sao cho chỉ đá hóa vàng;

Trên tính tính, dưới bàn bàn, lo đến đỗi nắn Trời nên vóc.

– Học không lo học,

Danh lại cầu danh.

– Kẻ si mê, phờ phỉnh đã đành,

Người trí thức, dỗ dành đâu được.

– Cạn mưu túng nước, đã bán Trời, còn bịa đặt danh quan;

Cùng thế bít đàng, đành giả Phật, đâu kiêng Luật Thánh.

– Đạo toàn Chơn Chánh,

Nghĩa vẹn Hiếu Trung.

– Lý Nhiệm Mầu người muốn suy cùng,

Lời u ẩn, lòng tua minh kiến.

– Máu tham chẳng biến,

Đường thẳng chẳng theo.

– Thấy con đây khí phách biết điều, đường tà-chánh Thầy nên phân-giáng.

TA vưng lịnh ĐỨC-CHÍ-TÔN cho bài giảng-phân
CHÁNH-TÀ YẾU-LÝ”:
Nhằm cơn mạt kiếp suy vi,

Dị đoan ong dậy, chánh qui gò bằng;

1.- Phe ngoại Đạo tráo căn, trộn kiếp,

Lũ yêu vương thừa dịp lộng quyền;

Kể chi trăm họ đảo điên,

Miễn cho toại được ý riêng của mình.

2.- Trên bia đặt một hình Thượng-Đế,

Dưới tóm thâu hiếm kẻ vuốt nanh;

Chước ma kế quỉ sẵn dành,

Chờ cơn nước bí, cờ dành vào tay.

3.- Sách đã dạy: tôi ngay, con thảo,

Sách nào cho: lòng cáo, dạ muông;

Khen cho lũ chuột, bầy chồn,

Đào hang trổ ngách khoe khôn cậy tài.

4.- Thầy đã mở Cao-Đài Đại-Đạo,

Hiệp Năm nhành như áo có bâu;

Chỉ đàng Chơn Chánh cao sâu,

Dắt đường yếu-lý nhiệm-mầu nên theo.

5.- Hột giống tốt cùng gieo rải-rác,

Nhưng chỗ vầy, chỗ khác không đồng;

Cũng vì tại ở nơi lòng,

Người ham Chơn-Lý, kẻ mong giành quyền.

6.- Quyền tính chước tuyên truyền trần thuyết;

tìm đường tịch-diệt hư-vô.

Chánh-tà, chơn-ngụy lưỡng đồ,

Xem trong hai lẽ mà đo, mà lường.

7.- Quyền, ngày tính thiên phương vạn kế,

Lo sao cho mờ kẻ thấp hèn;

Buôn Trời, bán Phật chẳng kiêng,

Chẳng Thần, chẳng Thánh, chẳng Tiên, chẳng phàm.

8.- thì xét tam tam tiền hậu,

Ngoài vòng Trời còn dấu lẽ chi,

Nào là huyền-diệu ẩn-vi,

Xanh kia dính với mình ni lẽ nào.

9.- Quyền, chẳng kể ồn ào, hỗn tạp,

Miễn sao cho kẻ nạp, người dưng,

Tờ kia giấy nọ tưng bừng,

Nhiều ra rồi lại không ăn, không nhằm.

10.- Trái hẳn với kẻ tầm Chơn-Lý,

Một mối tìm một tý không sai,

Đường Ngay có một, không hai,

Đường Ngay từ thuở Thiên-Khai đến giờ.

11.- Đây TA chỉ sơ sơ một ít,

Đặng biết chừng mục-đích mà phăng:

Đạo là phẳng-lặng, trang-bằng,

Dường như gió tạnh Trời trăng đêm rằm;

12.- Tây-Trúc dạy: “Minh Tâm Kiến Tánh”,

Hàm-Quan khuyên: “Luyện Tánh Tu Tâm”,

Lỗ-Đông: “Dưỡng Tánh Tồn Tâm”,

Da-Tô: “Thượng-Đế tại Tâm” chẳng rời.

13.- Tứ-Đại-Thánh một lời chẳng khác,

Khác tại người xiêu lạc cải-canh;

Đường Ngay chẳng thạo đã đành,

Tâm sanh chưởng chưởng, ma sanh khó gì.

14.- Tìm Đại-Đạo phải suy cho lắm,

Luyện Chơn-Nguơn phải gẫm cho cùng;

Con người chẳng sót mảy lông,

Tịnh-Tâm mình mới khỏi mong xiêu vời.

15.- Người muốn rõ Đạo Trời huyền-diệu,

Thì phải lo chánh-yếu mà tìm;

Lo chi mãn tải huỳnh-kim,

Dựng lầu, xây các cho biềm sắn leo.

16.- Cuộc giả dối tinh yêu, ma quỉ,

Tiếng bọt bèo thô bỉ, vụn vằng;

Đạo là Chí Chánh, Chí Chân,

Người sao để dạ cầm cân so lường.

17.- Thầy hết dạ yêu-thương con dại,

Thầy hết lòng hoài-đoái trẻ ngây;

Khắp cùng Nam, Bắc, Đông, Tây,

Nơi nào Thầy cũng giảng-bày Lẽ Chơn.

18.- Thầy nhìn biết con hơn vàng bạc,

Nơi nơi đều con lạc của Thầy;

Khen ai lớn mật dạn tay,

Rằng: Thầy bỏ đó, nhìn đây cho đành.

19.- Cũng vì bởi đồ danh, trục lợi,

Mới xui nên khinh ngỡi, trọng tài;

Cốt đồng che lấp mắt ai,

Cốt đồng che đặng mắt Trời mảy ru?

20.- Khuyên lớn-nhỏ muốn Tu thành Phật,

Đừng cưu lòng đố-tật Hiền Nhơn;

Ghen tương, kiêu ngạo, khoe khoan,

Tham lam, giả dối, đừng mang vào mình.

21.- Trời lộng lộng, thinh thinh, lẩm rẩm,

Đạo vơi vơi, thẩm thẩm, minh mang;

Muốn cho thông suốt mọi đàng,

Bền lòng kiên nhẫn,chắc gan thử rèn.

22.- Thương những kẻ giá hèn như rác,

Lại làm trò thượng đạt thiện tâm;

Cơ thâm thì họa diệt thâm,

Mình lầm mình chịu, dễ lầm Người sao?

23.- Thân dốt nát mà bao lốt Thánh,

Óc ngu si lại lãnh vai Thần;

Bò vàng gắn điếu làm Lân,

Dở-dang lưu-thủy, phân-vân Phụng-Hoàng.

24.- Muốn hành Đạo, lòng gian phải dẹp,

Muốn người theo, tiếng mép phải chừa;

Đừng lòng kẻ ghét, người ưa,

Đừng ham tiếng bẩm, lời thưa với mình.

25.- Mình muốn được rõ Minh Chánh Lý,

Ta với Người một thể với nhau;

Có đâu đem dạ cơ cầu,

Ngăn đường, lấp ngõ đặng thâu giả-quyền.

26.- Biết Lẽ-Phải thì kiêng mới phải,

Nghe Điều-Hay thì lạy mới hay;

Khuyên đừng ỷ thế cậy tài,

Thấy điều trái ý thì bài-bác ra.

27.- Đành chẳng quản gần xa thô bỉ,

Thiệt không màng miệng thế đồn vang;

Khéo làm như bọn mua giàn,

Mượn màu son phấn khoe giàn kiếm ăn.

28.- Tua un-đúc tinh-thần phát-triển,

Khá giữ-gìn Điển-Tuyến quang-minh;

Mấy từng đồ-sộ Cao-Xanh,

Đương liền như lưới với mình mình đây.

29.- Mình sung Điển như cây sung tược,

Tược tốt tươi nhờ nước mát yêm;

Bông hoa ngày nảy nở thêm,

Lá sum-sê phủ, nhánh dìm-già đơm.

30.- Thần nuôi Đạo như cơm nuôi vóc,

Đạo nuôi Thần như lộc nuôi thân;

hần mà tinh-khiết muôn phần,

Càng vui càng vẻ Đạo càng được khen.
Câu chuyện còn dài, song Chơn-Tâm đã yếu, không hứng chịu cái Điển-Quang lâu đặng. Ta cậy tay Tường-Khánh mà tiếp bút. Muốn cho đủ bài giảng phân “Chánh-Tà Yếu-Lý” thì do nơi Kiên-Giang.

Tới đây xin bế-mạc.

Thầy có bảo Ta trao hai bức thơ cho Ca, nhớ trao lại cho TâmVịnh.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương