ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ TÒa thánh đỊnh tưỜng hội thánh chơn lý thiêN ĐẠo chơn truyềN


Ngày 24 tháng 6 Annam năm Đinh-Sửu (1937)



tải về 1.52 Mb.
trang13/13
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích1.52 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13

Ngày 24 tháng 6 Annam năm Đinh-Sửu (1937).

CA, con phải lo bổn-phận Cửu-Trùng-Đài cho xong, tại con làm sái Qui-Điều số 3 vì Thầy thương con nên Thầy khuyên con ráng sửa, chớ nên buồn mà lỗi với Thầy, còn các chức-sắc Thầy phong rồi cũng có nhiều đứa dể-ngươi nên phạm vào Qui-Điều số 4, số 5, vậy con cùng các em con ráng nhớ lấy.

PHÙNG, Thầy nói con là Phục-Hổ, chớ không phải là Cưỡi-Hổ hay là Dương-Hổ, Phi-Hổ mà con lại không biết Phục-Hổ là chi hay sao, con làm vai tuồng không giống Phục-Hổ, Thầy nói Hiệp-Thiên-Đài là Anh-Hồn, không phải Phùng là Anh-Hồn đâu, vì Thầy biết trước như vậy nên Thầy dặn con rước bảy Chơn-Như đam về làm bạn, mà con không biết bảy Chơn-Như ở đâu, con cứ tìm kiếm mấy tên Thầy kêu trong Thánh-Ngôn, thiệt con rất dày công, nhưng mà làm chuyện không trúng lý. Con phải biết bảy Chơn-Như lộn cõi trần-gian mà con cứ trong Thánh-Ngôn kiếm hoài làm sao cho gặp, Thầy có đam tên một Chơn-Như vào Thánh-Ngôn mà thôi, còn bao nhiêu không chịu ra mặt, hết lòng cầu Thầy xin Thầy đừng đem vào Thánh-Ngôn để con ra công tìm kiếm thử coi có biết kiếm hay không, con đã kiếm không đặng, sao dám gọi mình là Anh-Hồn, đã không làm xong vai tuồng Phục-Hổ, lại kiếm không đủ bảy Chơn-Như lại dám cải lời Thầy răn trong Kinh Tu-Chơn, bỏ “Mười Khuyên” không nhớ, lại lo làm khó cho đoàn em, cứ kiếm điều thối thác. Vậy con có xứng đáng là Anh-Hồn không?

KIÊN, Thầy dạy con Chơn-Lý nầy, chớ phải nầy con là đúng Chơn-Lý hay sao. Thầy khuyên con chí thành nhẫn nại kiên tâm, tam tư, tự tỉnh, con có làm được chưa, con xét lấy.

Vậy Thầy khuyên chung hết thảy các con Nam Nữ phải ráng mà nghe lời Chơn-Như đặng lo trau dồi Tâm Tánh. Thầy sợ e cho các con tự-vận mà chết, nên Thầy nói trước: con biết chết về đâu không, chết về Tây-Ninh, chết về nhà Tịnh.

PHÙNG, con ráng mà xét chớ rằng bỏ Tòa-Thánh mà về nhà rồi Thầy tha tội đâu, ráng nhớ nhe con. -Thăng-


—————————d&c—————————

Ngày 28 tháng 11 Annam năm Đinh-Sửu (1937).

– Thầy mừng các con.

– Bạch: Đệ-Tử mừng Đức-Chí-Tôn, xin có việc chi cần dùng dạy cho con hiểu.

– Nầy con, nếu Thầy không có việc cần dùng, thì Thầy có ban Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi cho con làm chi. Nầy con, Thầy đã bao phen biểu con phải gởi bài Thánh-Ngôn đến Tòa-Thánh Trung-Ương cho các anh của con nó rõ, sao con lại làm lơ đi, tại sao vậy con?

– Bạch: Đệ-Tử không dám gởi, vì có nhiều lời của Thầy quở Tứ-Bửu rất nặng, nên con sợ e mấy Anh Lớn thối chí và phiền con nên con không dám gởi.

– Vậy thì con sợ mấy Anh của con hơn Thầy hay sao?

– Bạch: vì con giữ phận làm em, nên phải chịu dưới quyền mấy Anh Lớn, chớ Đức-Chí-Tôn dạy con đâu dám cãi, cúi đầu lạy Thầy tha lỗi cho con nhờ.

– Nầy con, chúng nó lớn là lớn với cái tên tuổi của nó đó là phải, chớ nó nào có lớn hơn với Thiêng-Liêng đặng sao.

– Bạch: nếu như Đệ-Tử gởi bài Thánh-Ngôn nầy ra Tòa-Thánh mà mấy Anh Lớn không tin rồi nói rằng con lập Bàng-Môn phá Đạo quở trách con rồi con mới liệu thể nào. Cúi xin Thầy giúp đỡ.

– Nầy con, sao con nghi ngại hoài, việc đó cái Tâm của con đã hiểu rồi sao con lại nghi hoài vậy, chúng nó muốn quở trách con hay là xử đáng cách nào thì chúng nó phải xử cho xong bổn-phận của nó đi rồi sẽ xử tới con. Con phải ráng nghe lời Thầy. Dầu mà chúng nó có bắt con đóng đinh đi nữa, thì con cũng phải vui lòng, mới gọi rằng con thảo với Thầy và thuận với anh mình. Con có nhớ không, trong lúc con gặp PHÙNG tại nhà CÒN, ấy là ngày Thầy chuyển Đạo đó, đó là kẻ trau người lãnh, con hiểu chưa?

PHÙNG nó nói câu chuyện Thiêng-Liêng của nó cho con nghe. Con nghe coi có hiệp đồng với con hay không, nếu như có hiệp đồng, thì là Vô-Vi trau lãnh đó con, biết rồi thì cứ việc vưng theo…. -Thăng-

—————————d&c—————————


Ngày 5 tháng 9 Annam năm Đinh-Sửu (1937).

NGỌC sắc còn treo giữa Ngọc-Đình,

HOÀNG ngôn khuyên trẻ nhớ tiên minh,

ĐẠI hành Ân xá người tuân Đạo,

ĐẾ lịnh khuyên con ráng giữ mình.

Nầy bốn con: CA, KIÊN, NHƠN, PHÙNG.


1.- CA trách nhậm Thầy giao cho trẻ,

Vì Tây-Ninh chẳng kể lời Thầy;

Giao con Chưởng-Quản Trùng-Đài,

Lo bề sắp đặt là vai đứng đầu.

2.- Thầy tưởng trẻ trước sau như một,

Ra đứng làm rường cột Tam-Kỳ;

Con đành nghe đứa ngu-si,

Làm cho đến đỗi kẻ nghi người đồn.

3.- Thầy đã dạy Xác Hồn phải hiệp,

Hiệp Xác Hồn cho kịp thời kỳ;

Mậu-Dần chuyển Đạo tới đây,

Luật không cho trễ, trễ nầy tại con.

4.- Làm trễ Luật thì con phải hiểu,

Con hiểu rồi phải liệu phải lo;

Mặc tình sâu chống cạn dò,

Thầy giao làm chủ chiếc đò mấy năm.

5.- Con có tánh nghe lầm tưởng lộn.

Lộn với Thầy con trốn được không?

Con ôi, kiếp số Đại-Đồng,

Là ngày phán xét Luật công chẳng lầm.

6.- PHÙNG, con chớ ỷ cầm mối Điển,

Điển của Thầy nào phải Điển con;

Không lo bổn phận cho tròn,

Lo tranh lời nói dại khôn theo đời.

7.- Tiếng phong tặng là người Đại-Đức,

Thì phải lo Đại-Đức cho minh,

Chơn-Như bảy Tánh chỉ rành,

Phàm-gian chung lộn con đành bỏ qua.

8.- Con chẳng kể lời Cha phú thác,

Lại gây nhiều nghiệp ác oan gia;

Oan gia ai dám gây ra,

Oan gia lo dứt mới xa nợ trần.

9.- Nợ trần nặng là phần khẩu nghiệp,

Khẩu nghiệp làm mấy kiếp luân-hồi;

Chớ rằng Chưởng-Quản cao ngôi,

Khi người là tức khi Trời đó con.

10.- Con chớ tưởng mình con là đúng,

Mà con đều nao núng đoàn em;

Tuy rằng nó đứng vai em,

Con đừng khi bạc đoàn em mà lầm.

11.- Con là đứa hay cầm thơ truyện,

Con xét coi những chuyện xưa nay;

Hạng-Lương là bực anh-tài,

Vì chê chấp kích thây bày hiên môn.

12.- Làm người phải tâm tồn thận độc,

Chớ ỷ mình nhờ gốc của Trời;

Gốc Trời là gốc dạy đời,

Gốc Trời nào phải khi người như con.

13.- Thầy thương trẻ nên còn dạy ráng,

Tự ý con xét đáng liệu lo;

Muốn nên Thầy cũng bàn cho,

Muốn hư Thầy nỡ chẳng cho sao đành.

14.- NHƠN chớ ỷ núi xanh cao vững,

Núi xanh là cao vững tinh thần;

Con đành bỏ hẳn chơn-thân,

Mê theo vật chất chỉ chừng núi xanh.

15.- Con phải biết núi xanh sao đó,

Núi xanh là chỗ đó con lầm;

Thầy khen là lúc hồi tâm,

Nên Thầy trọng dụng mấy năm dư rồi.

16.- Nay con đặng cao ngôi phẩm vị,

Con đành lòng đố kỵ hiền lương;

Con đừng ỷ sức cao cường,

Con quên Hồng-Thệ lúc đường chông gai.

17.- KIÊN chớ cậy có tài sáng suốt,

Mà có khi lỡ bước khó ngừng;

Thầy thương nên mới chỉ chừng,

Mười-khuyên tam- tỉnh con đừng bỏ qua.

18.- Mối Chơn-Lý tại tà nên rối,

Con có công gỡ rối Thầy khen;

Con đừng khuya sớm than phiền,

Xác phàm có cực, Thần Tiên mới gần.

19.- Con gỡ rối mấy lần kịch liệt;

Hỏi thử con có biết đâu không;

Gỡ rồi con tưởng là xong,

Tại con hơ hỏng chẳng phòng rối sau.

20.- Con những tưởng trước sau như một,

Nên rối hoài rối tột tới cùng;

Muốn cho con gỡ đặng xong,

Thời con gắng chí hiệp đồng anh em.

21.- Có đứa xét, đứa xem, đứa lóng.

Giúp sức con cho chóng buổi nầy;

Đừng lòng nhĩ ngã tôn ti,

Cửu-Trùng con phải hiệp qui Thiên-Đài.

22.- Con đừng có phân hai chia rẽ,

Trọng Hiệp-Thiên chẳng kể Trùng-Đài;

Như vầy biết mấy chừ xong,

Con đừng bắt chước như PHÙNG nghe con.

23.- Thầy đã định sắt son hai cảnh,

Cảnh Hiệp-Thiên với cảnh Cửu-Trùng;

Ấy là chỉ chỗ thỉ chung

Người cho trọn một Thiên-Trùng nào chia.

24.- Thầy nay nhắc trước kia TRUNG TẮC,

Vì ỷ mình bịa đặt nhiều điều,

Lời Thầy dạy dỗ bấy nhiêu,

Nó đều quên dứt, tiêu điều còn đâu.

25.- Lời nói đó con mau hiểu thấu,

Hiểu thấu rồi noi dấu mà làm,

Bốn con ráng sửa tánh phàm,

Bốn con không sửa con làm bốn con.

26.- Nầy ớ trẻ các con Chơn-Lý,

Chơn-Lý nầy là Lý tự nhiên,

Con nào chưa hiểu tự nhiên,

Đừng xưng rằng ở Hiệp-Thiên Cửu-Trùng.

27.- Lời Chơn-Lý dạy chung các chỗ,

Tại không tin đánh đổ nhiều bề;

Khi khen, khi trọng, khi chê,

Hỏi ra chưa rõ khen chê là gì.

28.- Mảng lo tính thị phi bàn cải,

Mà quên mình chưa phải làm người;

Mình đành quên phứt mình rồi,

Huống hồ gì nhớ tới người được sao.

29.- Lớn ỷ giỏi ngôi cao phẩm trọng,

Nhỏ ỷ lanh trưa sớm chống kình;

Làm cho Đạo phải nghiêng chinh,

Ấy là các trẻ lòng đành hại nhau.

30.- Thuyền đương nổi như phao mặt nước,

Tánh chống kình bạo ngược mới chìm;

Thầy không nỡ để êm lìm,

Nhắc con cho biết nổi chìm tại con?

31.- Bỏ cái thói tự tôn tự trọng,

Bỏ cái điều kình chống khôn lanh;

Không lo Đạo-Đức học hành,

Đến ngày phán-xét tội hành chớ than. -Thăng-

—————————d&c—————————



Ngày 25 tháng 11 Annam năm Đinh-Sửu (1937).

NGỌC sắc phân minh việc chánh tà,

HOÀNG toàn cho trọn kẻo lầm sa,

ĐẠI ân cứu độ lời khuyên nhủ,

ĐẾ lịnh trao truyền cõi Giái-Ba.

Nầy bốn trẻ TÚ, KIÊM, THÀNH, THOẠI.

1.- Nầy bốn trẻ TÚ, KIÊM, THÀNH, THOẠI,

Việc nên hư quấy phải chỉ rành;

Khuyên rày bỏ tánh cành nanh,

Mới là đáng mặt làm anh em mình.

2.- Bốn con mảng lo vinh phần xác,

Cho nên con xiêu lạc phần hồn;

Lại thêm có tánh tự-tôn,

Còn trông chi đặng non Côn trở về.

3.- PHÙNG có lỗi, lỗi thì nó chịu,

Bốn con đành trì níu nhau chi;

Thầy rằng Đạo chuyển đến kỳ,

Con không theo Đạo níu trì oan gia.

4.- Con quên phứt lời Cha khuyên dạy,

Con đành lòng ỷ lại với Phùng;

Bỏ lời Minh-Thệ tội chung,

Bốn con nặng tội hơn Phùng nghe con.

5.- Đoàn em dại thấy con bắt chước,

Nó biết đâu tội phước là đâu;

Bốn con dìu dắt làm đầu,

Không thương em dại cơ cầu hại nhau.

6.- Bốn con phải mau mau hiệp chí,

Về Trung-Ương sửa kịp cho xong;

Giúp CA hết dạ hết lòng,

Châu-Thiên hoàn tất quả công mới tròn.

7.- Thầy dạy đó bốn con ráng nhớ,

Ráng sức mình chớ thở đừng than;

Chúng sanh nhiều kẻ nghèo nàn,

Con đừng ép quá thở than Thầy phiền.

8.- Phần bốn trẻ lời riêng dạy đó,

Đây lời phân cho rõ các con;

Nữ Nam hai phái cho tròn,

Đồng chia trách nhậm sắt son giúp Thầy.

9.- Các con đã rẽ mây vén ngút,

Rán dò lần ngọn Đuốc Lý-Chơn;

Đừng lòng so thiệt tính hơn,

Có Thầy chứng giám ban ơn con nhờ.

10.- Có nhiều trẻ ngáo ngơ than thở,

Rằng Hiệp-Thiên đóng cửa bít đường.

Cho nên tấn thoái lương khương,

Ngày đêm than thở Thầy thương vô cùng.

11.- Các con ráng thỉ chung một dạ,

Điển Vô-Vi Thầy đã định người.

Hiệp-Thiên nào phải chỗ chơi,

Luật đà xây chuyển nhắn lời cho NHƠN.

12.- Lời châu ngọc thiệt hơn dặn bảo,

Các con đừng ảo não phiền lòng;

Rán lo học Đạo cho xong,

Thầy ban ơn trẻ bản phong danh đề.

13.- Nay Thầy định NHƠN về dạy bảo

Khuyên các con thuận thảo cùng nhau.

Chê khen khinh trọng nghèo giàu,

Đạo hư bởi đó chớ nào đâu xa. Thăng …

—————————d&c—————————
Ngày 20 tháng 12 Annam năm Đinh-Sửu (1937).

Kinh kính mừng
Kính mừng Đại-Đức Phổ-Đà,

Công phu viên mãn khỏi sa Luân-Hồi.

Thành công qui vị về Trời,

Chực chầu Thánh-Mẫu đời đời an vui.

Dây oan Gươm-Huệ dứt rồi,

Phổ-Đà an vị là nơi dưỡng nhàn.

Đường đường một vị Nữ ban,

Quỳnh-Cung tỏ rạng Đài Trang Liên Tòa.

Nhớ lời Mẹ dạy thiết tha,

Nghĩa phương Đạo-Đức thuận hòa chị em.

Ra tay dìu dắt trọn niềm,

Vì thương em dại nổi chìm sông mê.

Sang hèn ngu trí chẳng chê,

Miễn là biết Đạo biết nghe lời Thầy.

Công lao mười một năm chầy,

Giúp Minh-Chơn-Lý nên Thầy thưởng phong.

Phổ-Đà Tiểu-Cảnh lập xong,

Ngôi thờ Đức Mẹ Mỹ Phong một Tòa.

Kính mừng Đại-Đức Phổ-Đà,

Công phu viên mãng khỏi sa Luân-Hồi.

—————————d&c—————————
Ngày 16 tháng 1 Annam 1938 (11 giờ).

Sắc phục Chưởng-Quản Hiệp-Thiên-Đài
Dùng ba khổ vải trắng mỗi khổ 4 thước, ba khổ 12 thước, ấy là thập-nhị Khai-Thiên, may dính chừa mặt trước, tra mỗi phía ba vải, bận trùm đầu, trước mặt mang bố-tử chữ “Linh”, sau lưng bố-tử chữ “Anh”, bề tròn một tấc tám phân, chữ đỏ nét trống (là hư-không) chừa lề hai phân: chữ đỏ vòng tròn màu vàng, đó là Tâm Ý hiệp nhứt mỗi khi có việc cần dùng truyền dạy điều chi thì đứng sau lưng Cửu-Trùng-Đài, hoặc Cửu-Trùng-Đài ngồi, Hiệp-Thiên-Đài đứng, tùy theo chỗ thấp cao, khi truyền việc rồi sục xuống lui ra đó là hai Chưởng-Quản hiệp nhứt đó.

Sắc phục nầy không được đem về nhà tư, cứ treo nơi bàn Nguơn-Thần, hoặc là chỗ văn-phòng tiếp Điển. Sắc phục nầy để luân-chuyển. Thầy giao cho ai thì nấy mặc, khi nào cơ vận-chuyển thì không kể.



Từ đây nhẩn sau, phải rõ người là không không, có có, sắc sắc, không không, lòng không không, lòng người trong Trời Đất, Âm Dương hiệp nhứt, Đại-Đạo hoằng khai, ấy là thái bình cảnh tượng đó.

Bài nầy để đọc trước Bửu-Điện khi hiệp nhứt.

——————


(Tiếp 7 giờ chiều)
– Con lạy mừng Thầy, xin Thầy có việc chi dạy con.

– Nầy con, con có hiểu Thầy dạy con phải nhớ

lời Thầy quở trách Phùng, con có hiểu sao hay không?

– Bạch: con cũng có hiểu chút ít.

– Nầy con, phải ráng tìm kiếm lời của Thầy dạy nó đó cũng là cách hành-động của nó mà con suy xét lấy con.

Vậy từ đây nhẩn sau, CA đối với con thì con chớ cho nó kỉnh con là Đại-Đức; còn phần con đối với nó thì tự ý con, con phải biết rằng phận-sự chưa tròn, sao dám chịu mình là Đại-Đức, lời nói đó, con xét coi có chánh đáng không, con có biết rồi thì con mau sửa.

– Bạch: vậy từ đây CA đối với con phải dùng tiếng nào xin Thầy dạy.

– Con từ đây nhẩn sau nó đối với con bằng Anh là đủ, Thầy đã nói anh em sau trước dắt dìu, con nhớ không.

Vậy con phải cần học hỏi cho lắm, còn sự chi con cứ làm cho đúng thiệt thì có Thầy chứng cho.

Vậy con rán nghe Thầy dạy đây:

1.- ĐƯỢC, Thầy đã giao phần cho trẻ,

Trước vì PHÙNG bê trễ bỏ qua;

Ngày nay chuyển Đạo kỳ ba,

Phần con ráng gánh bỏ qua Thầy phiền.

2.- Con cứ giữ mối giềng Chơn-Lý,

Còn nghe không tự ý chúng sanh;

Đường ngay mực thẳng thi hành,

Lần lần Thầy chỉ đành rành cho con.

3.- Phần Gia-Đạo vợ con là thế,

Phần Đạo nầy đừng trễ nghe con.

Giúp CA nhơn nghĩa cho tròn,

Một lòng thiết-thạch chớ mòn chớ phai.

4.- Bề cư-xử gái trai phân biệt,

Việc chánh tà mình biết lấy mình;

Khuyên con chớ khá hớ-hinh,

Xe kia trước sụp rán gìn xe sau.

5.- Con giữ vẹn một màu tươi tốt,

Thì Tinh-Thần thấu tột non Côn;

Nhớ câu thận-độc tâm-tồn,

Con tua nhớ lấy xác hồn còn y. -Thăng …

—————————d&c—————————
Ngày 17 tháng 1 Annam 1938 (4 giờ chiều).

Thầy vì thương các con, nên thầy lập Đạo-Tràng cứu-thế kỳ ba nầy, khuyên các con chớ khá bê trễ bỏ qua.

Các con nghe Thầy dạy đây ráng nhớ, chớ rằng Thầy không nói trước, nghe thi:
Nay Thầy lập Đạo-Tràng cứu thế,

Các con đừng bê trễ công-trình;

Chớ rằng lánh dữ làm lành.

Hỏi con có biết dữ lành ra sao?

Các con mảng tự cao tự đắc,

Mà dể ngươi nên mắc lưới Trời;

Gây ra nghiệp chướng rối đời,

Mình làm trở lại trách Trời không thương.

Ngày nay thiệt Trời thương đó trẻ,

Lập Đạo-Tràng dạy trẻ tu hành;

Con nào muốn biết dữ lành,

Tới trường học Đạo cho rành nghe con!

Khuyên con chớ khôn khôn dại dại,

Mà ỷ mình canh cải lời Thầy;

Khuyên con rán đến Trường Thầy,

Có người dìu dắt có người cứu con.

Thầy Bệ Ngọc trông con hết sức,

Mảng mê trần quên phứt Ngôi xưa;

Từ đây con chớ đảo lừa,

Đảo lừa chịu dốt đổ thừa cho ai.

Đạo Thầy dạy gái trai hai phái,

Cả dưới trần con cái của Thầy;

Chia nhau Nam Bắc Đông Tây,

Nay Thầy mở Đạo đặng qui con về.

Kìa cuồn cuộn bốn bề sóng dậy,

Hỏi thử con có thấy hay không?

Chí công Luật cả Đại-Đồng,

Con nào biết lỗi mới mong ơn Thầy.

Thuyền Chơn-Lý tại đây rước trẻ,

Bước lên thuyền có kẻ chèo đưa,

Con nào chậm bước tới trưa,

Là trưa tại trẻ, nào trưa tại đò.

—————————d&c—————————
Ngày 18 tháng 1 Annam 1938 (10 giờ tối).

Nầy các con chớ nên bàn cãi Luật của Thầy cầm, Quyền của Thầy định, các con chớ khá đua nhau canh-cải làm cho Tòa-Thánh phải tan tành là tự nơi các con ỷ sức phàm mà hại nhau đó. Các con chớ nên mỗi việc đều tin cậy nơi Tứ-Bửu. Các con tưởng là bốn đứa đó CA, KIÊN, NHƠN, PHÙNG nó là Tứ-Bửu hay sao, các con nhớ coi Thầy mượn nó, vì Thầy thấy nó siêng năng nên Thầy mượn nó đặng nó lập công mà chuộc tội, chẳng dè ngày nay bốn đứa nó được một tiếng quí trọng của Thầy ban thưởng cho nó, nó lại tự kiêu tự đắc, ngày nay Thầy xây chuyển Tam Tiểu Thời Kỳ nên Thầy lừa lọc đứa nào nên Thầy dùng, đứa nào hư Thầy không dùng nữa. Các con phải ráng coi cho kỹ, chớ lấy trí phàm mà luận thì rất lầm đó con. Vậy từ đây các con muốn theo Tứ-Bửu của Thầy thì các con hỏi lấy nơi lương tâm của con thì tự nhiên có Thầy chỉ cho, Thầy chẳng nỡ bỏ con, ngặt các con bỏ Thầy.

-Thăng

—————————d&c—————————


Ngày 18 tháng 1 Annam 1938 (1 giờ khuya).

CA, nghe Thầy hỏi: nay Luật Vô-Vi Thầy chuyển, con nghe theo Thầy hay không con, từ đây nhẩn sau, Thầy không dùng KIÊN nữa. Vì nó ỷ sức phàm của nó, vậy Thầy hỏi đó con liệu sao.

ĐƯỢC, Thầy dạy con: đường ngay mực thẳng, nghĩa là mến Bạn tin Thầy, tin Thầy là đường ngay, mến Bạn là mực thẳng. Thăng …

—————————d&c—————————


Ngày 18 tháng 1 Annam 1938 (1 giờ khuya).

CA, con có nhớ lời Thầy dạy trước hay không con, Trời nào đếm câu thề vô dụng, thề vô dụng là Luật xây chuyển, nên thầy không kể.

PHẤN, nghe Thầy dạy:
Ngày nay Luật chuyển Trùng-Đài,

PHẤN, con ra lãnh giúp thầy nghe con.

Nay KIÊN bổn phận không tròn,

Thầy thâu giao trẻ, con còn ngại chi.

Đầu-Sư phái Ngọc phê y,

Trùng-Đài quyền lãnh kịp kỳ Long-Hoa(1).

Lời Thầy phán trước Thánh-Tòa,

Thần Tiên cả thảy đều ra chúc mừng.

Bằng con nghịch mạng chẳng tuân,

Thầy không tư vị con đừng thở than.

Chúng sanh đương lúc lạc đàng,

Con ra lãnh mạng dẫn đàng cho em.

Từ đây chung thỉ trọn niềm,

Với người lầm lạc nổi chìm các nơi.

Ấy là chánh Luật của Trời,

Con đừng có sợ luật người nghe con.

Khuyên con bổn phận lo tròn,

Thầy nay quyết định xin con chớ từ.



Con cứ gởi cho PHẤN đi. -Thăng

---------------------------------------------------

(1) Là ngày Hàn-Long bái mạng Đức-Chí-Tôn (15 tháng 4 Mậu-Dần).

—————————d&c—————————


Ngày 19 tháng Giêng Mậu-Dần 1938 (5 giờ khuya).

CA, con thiệt coi Thầy quá nhẹ, Thầy hết lòng thương con, nên Thầy cho con hay trước, trách nhậm của con còn chẳng bao lâu nữa, đặng cho con lo làm cho xong, ngày sau khỏi nợ Luân-Hồi, mà sao con cứ dụ dự hoài. Quỳnh-Giàu-Hương nó đã khỏi sa Luân-Hồi, còn con liệu sao con?

Vậy chớ con có nhớ những lời con hứa với Quỳnh-Giàu-Hương làm sao hay không? Đã biết vợ chồng là ở thế mà lời hứa nó thuộc về nhơn-duyên mà trong nhơn-duyên đó con muốn nhơn-duyên hay là nhơn-quả, hay là duyên mảng, hay là nhơn-quả, nó cũng trong cái tinh-thần nhơn-duyên mà ra, mặc ý con muốn ra ngõ nào thì ra, “ra” với “sa” hai tiếng nó muốn giống nhau, con liệu lấy. Trước kia Thầy đã nói: “Thần-Hồn khôn dại không chừng”, nên Thầy mới chọn lựa người cho có Anh-Hồn đặng hiệp với Thần-Hồn mà giúp con cho tròn bổn-phận. Thầy nghĩ trong các duyên cớ cũng đều do nơi Phùng nó ỷ sức phàm mà cãi Thầy, làm cho con phiền phức, nên Thầy hết sức chọn lựa Anh-Hồn đặng giúp con cho vui lòng, trái lại con cũng dụ dự hoài, hiện nay Thầy hỏi CA: một mai con sa vào Luân-Hồi, con phiền Thầy hay là trách ai? Con tự xét lại con, chớ Luật Vô-Vi xây chuyển Thầy chọn lựa trong 4 đứa, có một mình con là khá hơn, nên Thầy đình đải dắt dìu cho con trọn Tam-Kỳ Phổ-Độ, sao con lại tấn thoái lưỡng nan, hay là con muốn chọn ai cho vừa lòng con, thì con chọn đi? Con còn có một bước đường nữa, mà con lương-khương,
Thầy chắc cho con khó bề tới Đạo lắm con, vậy thì con tự xét lấy.

ĐƯỢC, con gởi ngay cho CA. -Thăng-

—————————d&c—————————


Ngày 21 tháng 1 năm Mậu-Dần 1938 (4 giờ sáng).

CHƯỞNG-GIÁO THIÊN-TÔN

Đệ-Tử lạy mừng Tôn-Sư.

– Nầy Đệ-Tử, Đức-Chí-Tôn rất buồn vì CA nó quá sợ Kiên mà nó bỏ qua lời của Đức-Chí-Tôn truyền dạy, con có nhớ Đức-Chí-Tôn truyền dạy việc chi không?



Bạch: con nhớ Đức-Chí-Tôn truyền dạy làm chỗ thắp 15 ngọn đèn là Đức-Chí-Tôn cho hưởng Hồng-Ân sáng suốt đó.

– Nầy Đệ-Tử, Đệ-Tử biết đó, chớ chưa hiểu cho thấu lý nó là ra làm sao, vì Đệ-Tử còn nghi ngại, nên nay Đức-Chí-Tôn Người mới sai Bổn-Tôn đem lời cần-yếu mà truyền lại cho con, con phải cho CA nó hay, đặng nó tự tỉnh mà nó cứu lấy Thiêng-Liêng của nó, sao con không gởi bài của Thầy quở nó vừa rồi đó cho nó coi nó biết.



Bạch: con hết sức ráng rồi, vì con nghèo.

– Nầy Đệ-Tử cứ lo nghèo, mà sanh ra lòng thối thát, vậy nay Thầy chuyển cho KIM nó tới nhà con đó, thì con cậy KIM nó đi giùm cho.



Bạch: vì KIM lớn tuổi nên con không dám cậy.

– Đệ-Tử thiệt quá khiêm tỵ, Bổn-Tôn đã nói: con cậy là cậy nó đi làm công-quả cho Thầy, chớ nào đi làm cho con hay sao mà con ngại. Vậy thì con cứ việc cậy nó đi.

Còn trong 15 ngọn đèn đó là một sự cần-yếu rất quí báu cho nhơn-loại đó, Đệ-Tử có hiểu quí báu ra sao không?

Bạch: con hiểu mà không dám đoán chắc, xin Bổn-Sư dạy cho con hiểu.

– Nầy Đệ-Tử, trong đó: trên một ngọn là Ngôi Thái-Cực, dưới kế hai ngọn là Lưỡng-Nghi, kế 3 ngọn là Tam-Tài, 4 ngọn là Tứ-Tượng, 5 ngọn là Ngũ-Hành, còn Trung-Ương là nhứt điểm trung phân Tạo-Hóa, còn theo Đạo chuyển hiện thời thì theo lời của NHƠN nó giảng đó, còn lấy theo Luật của Thầy lập Tam-Kỳ Phổ-Độ thì nó cũng gom vào đó, con hiểu chưa? Trong đó nhiều chỗ mầu nhiệm vô cùng, sau Bổn-Sư sẽ chỉ cho con hiểu.

(Xem hình vẽ)
' Trên một ngọn là Ngôi Thái Cực

' ' Dưới hai ngọn là Lưỡng nghi

' ' ' Kế ba ngọn là Tam-tài

' ' š ' ' 4 ngọn là tứ tượng

' ' ' ' ' 5 ngọn là Ngũ hành




Vậy con phải cậy KIM nó đem bài nầy cho CA nó rõ cho mau, đừng để chậm trễ, thiệt con có tài khiêm tỵ hoài.

-Thăng -

—————————d&c—————————


Ngày 16 tháng Giêng Annam 1938 (9 giờ sớm mai).

KIÊN, nghe Thầy dạy đây mà tự xét lấy:

1.- KIÊN, Thầy sợ cho con lỡ bước,

E khó ngừng lầm chước tinh ranh;

Kiên tâm nhẫn nại chí thành,

Phận con hỏi thử có rành hay chưa.

2.- Thầy thương trẻ nên vừa lòng trẻ,

Khuyên con đừng bác bẻ khi Thầy;

Một lời dặn trẻ từ đây,

Kỳ nầy Tam-Tiểu Thầy xây Thiên-Đài.

3.- Con thường nói khinh tài trọng nghĩa,

Chữ khinh tài trọng nghĩa ra sao;

Thầy rằng: Đạo chẳng nghèo giàu,

Tôn ty nhỉ ngã thấp cao chê cười.

4.- Con đã nói tin Trời Độc-Nhứt,

Con độc quyền con dứt hay không,

Xét đi xét lại nơi lòng,

Ngó sau ngó trước coi đồng hay không.

5.- Thầy thấy trẻ có công học Đạo,

Học Đạo rồi dạy bảo cho người;

Muốn cho người tốt ta tươi,

Thì con ráng nhớ Ta Người, Người Ta.

Thăng …

—————————d&c—————————


Ngày 29 tháng Giêng Annam 1938 (9 giờ tối).

KIÊN, Nghe Thầy xử tội:



KIÊN, con chớ nhiều lời cải lẽ,

Tội của con Thầy để dành đây;



Một là tội trẻ khi Thầy,

Hai là không kể chuyển xây Luật Trời.

Ba là cả tiếng lấp lời,

Bốn là chia rẽ Ta Người xa nhau.

Năm là ỷ thế sang giàu,

Sáu là tự đắc tự cao hơn người.

Bảy là dạy Đạo biếng lười

Tám là ỷ giỏi chê người ngu si;

Chín là ăn ở vô nghì,

Mười là chẳng rõ thau chì nói ngang.

Mười điều tội lỗi rõ ràng,

Khuyên con chớ khá kêu oan uổng lời.

Vì con nay Đạo trễ thời,

Nay Thầy cứ giữ Luật Trời trị ngay,

Chư Thần vưng lịnh ra tay,

Hành con cho biết từ rày hết trông.

-Thăng-


—————————d&c—————————
Ngày 30 tháng 1 năm Mậu-Dần (1938) (12 giờ trưa)
PHÙNG, con nghe Thầy xử tội

1 - Con những mảng xiêu theo lời phỉnh,


Nên quên mình là chính Thầy sai,
  Ỷ mình Chưởng-Quản Thiên-Đài,
Cả gan khoát nạt kể Thầy ra chi.
2 - Thầy hết dạ Từ-Bi tha lỗi,
Sao con không tự hối lấy mình,
  Kiếm điều phỉnh gạt chúng sanh,
Độc quyền lợi dụng gia-đình ấm no.
3 - Phần dạy Đạo không lo cho Đạo,
Mượn tiếng Thầy giả tạo danh mình,
  Kết phe kết đảng tung hoành,
Làm cho đến đỗi chúng sanh phàn nàn.
4 - Nhiều em nhỏ gián can hết sức,
Con ỷ quyền bỏ phức chẳng nghe.
  Luật Trời khó nổi chở che,
Tại con ngỗ nghịch chẳng nghe lời Thầy.
5 - Nay đến lúc thời kỳ Đạo chuyển,
Luật vô tư Thầy quyết khó dung,
  Này này bớ Nguyễn-Kỳ-Phùng,
Tội làm phải chịu hết trông khẩn cầu.
6 - Trước Thầy xử giảm thâu niên kỷ,
Sau hành hình cho thế làm gương.
  Từ đây Tòa-Thánh Trung-Ương,
Thầy thâu để chữ Định-Tường như xưa.

- Thăng -



—————————d&c—————————







Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương