ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ TÒa thánh đỊnh tưỜng hội thánh chơn lý thiêN ĐẠo chơn truyềN


Long-Xuyên, Đêm 14 rạng 15 tháng 8 Annam năm Quí-Dậu (1933)



tải về 1.52 Mb.
trang12/13
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích1.52 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13

Long-Xuyên,

Đêm 14 rạng 15 tháng 8 Annam năm Quí-Dậu (1933).
TÂY-VƯƠNG THÁNH-MẪU

Chơn Ngôn Kinh.



TÂY-Trúc thời kỳ dụng Thích-Ca

VƯƠNG-môn để tiếng cậy Di-Đà,

THÁNH Phàm phân biệt DU-DÀ-LUẬN

MẪU-tự Kinh tàng TÁT-ĐÃNG-ĐA

CHƠN-thể Chơn-thân đam Phật-Tánh,

NGÔN-hành, ngôn sắc, dạy Ta-Bà

GIÁC-mê Thầy chuyển Tam-Kỳ-Đạo

THẾ-giới từ đây Một với Cha.

1.- Đêm trong trắng, trắng trong như lọc,

Nghe tiếng con Mẹ phút chạnh lòng.

Bởi con mến chốn bụi hồng.

Nên con tách Mẹ rùng rùng ra đi.

2.- Tưởng ra đi mãn kỳ trở lại,

Nào dè con chẳng đoái, chẳng hoài.

Ra đi Mẹ dặn một hai,

Một hai phải tránh chông gai cuộc đời.

3.- Dặn con phải giữ lời sau trước,

Bước hồng trần là nước quỉ ma.

Dặn con chớ khá ta bà,

Dặn con chớ khá kê-cà mẩn-mê.

4.- Dặn con nhớ cảnh quê làm trọng,

Dặn con thường để bụng nằm lòng,

Rằng loài ma quỉ phải phòng,

Rằng loài lưỡi mối nọc ong phải ngừa.

5.- Dặn con phải sớm trưa Kinh Kệ,

Dặn con đừng bê trễ công-trình.

Dặn con Mẹ dặn đinh ninh,

Dặn con phải giữ phải gìn tấm thân.

6.- Dặn con biết mấy lần trân trọng,

Mà con đành rẻ rúng lời khuyên,

Con đành gây cuộc não phiền,

Con đành gây cuộc trần duyên lao-lồng.

7.- Nay con thấm bảy vòng cắn xé,

Con mới đành nhớ Mẹ sao con?

Con ôi! Lòng Mẹ héo don,

Con ôi! Thân Mẹ vì con hao gầy.

8.- Rày con được ơn Thầy cứu độ,

Đam con về phải chỗ phải nơi.

Khuyên con dại phải nghe lời,

Khuyên con chớ khá giỡn chơi ích gì?

9.- Tu phải biết qui-y làm báu,

Qui-y là nương náu cửa Trời.

Tu cho kịp tiết kịp thời,

Tu đừng xao lãng những lời Mẹ răn.

10.- Nầy lời Mẹ ân cần nhắc nhở,

Thấy con thơ Mẹ ứa đôi hàng.

Thương con trước chịu lạc đàng,

Con ôi! Phận gái gian nan não nề.

11.- Thương con gánh nhiều bề cay đắng,

Thương con dầm lửa nắng nước sương.

Con ôi! Phận gái đoạn trường,

Con ôi! Phận gái chải-bươn mới thành.

12.- Tu phải biết việc lành việc dữ,

Tu chừa lòng bảy lự ba lo.

Thầy đà sau trước dặn dò,

Thầy đà chực sẵn chiếc đò Lý-Chơn.

13.- Đò Chơn-Lý chủ-nhơn đã chọn,

Chơn qua đò khỏi tốn khỏi hao.

Miễn con trong trắng một màu,

Miễn con sau trước, trước sau một niềm.

14.- Tu phải giữ lặng êm làm gốc,

Tu phải chừa cái nọc nhiều lời.

Con ôi! Tai họa khắp nơi,

Tại người uốn lưỡi khua môi hại mình.

15.- Chữ một dạ kỉnh thành làm trước,

Lòng đừng lo họa, phước, có, không.

Có, không, là Luật Chí-Công,

Có, không, cũng tại nơi lòng các con.

16.- Đêm thanh vắng con tròn phận sự,

Đọc Kinh thì ráng giữ lấy mùi.

Đừng ngâm chót lưỡi đầu môi,

Mẹ còn lui tới, tới lui phân trần.

17.- Đọc Kinh phải cân phân từ tiếng,

Tiếng Kinh là Kinh-Điển của Thầy.

Đọc Kinh gẫm được mùi hay,

Dầu cho sắt, đá, cỏ, cây cũng thành.

18.- Gái cần giữ thân danh làm trước,

Kế quỉ ma nhiều nước tinh yêu.

Êm tai sáo quyển lòn chiều,

Nếu con nhắm mắt nghe liều hư thân.

19.- Mẹ đã dạy nhiều lần cặn kẽ,

Quỉ thường xưng tên Mẹ lắm con.

Con nào gan yếu dạ non,

Nghe lời bưng bợ ngọt ngon phải lầm.

20.- Cách đi, đứng, ngồi, nằm cẩn thận,

Điệu mỏng mềm ấy phận người tu.

Tránh xa tiếng quến lời rù,

Tránh xa những bợm giả mù sa mưa.

21.- Thấy nhiều kẻ bơ thờ hỏng hẻo,

Tướng diệu-dàng yểu-điệu khá thương.

Tại sao mang số đoạn trường?

Tại quên những tiếng nghĩa phương ngọc ngà.

22.- Thương con dại thiết tha, tha thiết,

Vui vẻ chi mài miệt cõi trần.

Con ôi! Xét lấy nàng Hằng,

Trọn năm được thấy mấy lần đẹp xinh!

23.- Mẹ hằng cậy nhắn tin cho trẻ,

Khuyên trẻ đừng bê trễ công-trình.

Thương con Thầy phế Ngọc-Kinh,

Rước con khỏi chốn hỏa-khanh đem về.

24.- Con chớ khá bỏ-bê lúc rảnh,

Lúc rảnh thường Tâm Tánh lãng-xao.

Tánh Tâm xao-lãng phân hào,

Tự nhiên con phải mõn hao tinh-thần.

25.- Tu phải trọng Chơn-thân, Chơn-thể,

Thân-thể nầy gốc rễ của con.

Chơn-thân, Chơn-thể, Chơn-hồn,

Giữ gìn trong sạch mới còn gọi con.

26.- Đừng vụng tưởng phấn son là sạch,

Son phấn làm Chơn-phách phải lu.

Mấy ai rọi kiến trăng thu,

Mấy ai ngồi kiệu lấy dù che thân.

27.- Đừng dụng tưởng cơ bần là nhục,

Cơ bần là chánh gốc mỗi con.

Lúc sanh đỏ lói một hòn,

Lúc về có kể vật chôn những gì.

28.- Con phải nhớ lúc đi Thầy dặn,

Phải cho tròn bổn phận Thầy sai.

Đừng lo phú quí chông gai,

Phải lo xứng đáng Tam-Tài mới xinh.

29.- Chánh Tam-Tài mới vinh mới quí,

Giả tiền-tài đồ mị phá Chơn.

Con sao chưa rõ thiệt hơn,

Đã dư mấy kiếp đường trơn bước hoài.

30.- Rày Mẹ nhắc chỗ sai con hiểu,

Hiểu được rồi Mẹ biểu phải nghe.

Nghe rồi cẩn thận trăm bề,

Tránh đoàn kết đảng lập phe phỉnh phờ.

31.- Con phận gái lỡ cơ sao được,

Phải dặt-dè từ bước mới ngoan,

Sao cho danh gái rỡ-ràng,

Chín mười cho đúng tuổi vàng Mẹ trao.

32.- Cuộc trần thế ảo bào mộng ảnh,

Có chơn-tu mới rảnh phù-sanh.

Muốn cho chơn thật tu hành,

Ráng lo gìn giữ kính thành đừng quên.

33.- Người ở thế đặt tên kể tuổi,

Tên tuổi nầy một buổi chẳng lâu.

Mấy tên phú quí công hầu,

Có đem chi được đến chầu Ngọc-Kinh.

34.- Người ở thế danh-thinh làm trước,

Thinh-danh là cội phước sự tu.

CÔNG, DUNG, NGÔN, HẠNH, làm đầu,

Lòng đừng mê-hoặc phải trau sửa mình.

35.- Đừng tập lối văn minh dối trá,

Văn-minh nấy quỉ phá mấy hơi.

Con ôi! Mẹ đã cạn lời,

Ráng cho trong sạch tên Người tuổi Ta.

36.- Tên tuổi Ta bao la võ-trụ,

Tên tuổi Người che phủ thế-gian.

Muốn cho tên tuổi miên tràn,

Ta, Ngưười, Tên, Tuổi vững vàng chớ sai.

37.- Người xuống thế ai ai cũng một,

Phải rõ người là ruột với mình.

Với mình như một mới xinh,

Với mình như ruột mới rành tuổi tên.

38.- Con phải nhớ chớ quên lời Mẹ,

Được thân người chẳng dễ đó con.

Tuổi Tên được vậy mới còn,

Tuổi Tên được vậy mới tròn thinh-danh.

39.- Đừng tập nết trớ trinh lêu lỏng,

Theo tánh phàm học giọng cầu cao.

Chị em đừng tiếng mầy tao,

Chị em nói tiếng ngọt ngào mới ngoan.

40.- Lời ăn nói dịu dàng mềm mỏng,

Mới làm cho trên trọng dưới vì.

Học chi cái giọng ngu si,

Học chi cái giọng dị-kỳ khó ưa.

41.- Đừng học thói đỏng đưa miệng lưỡi,

Mà có khi vướng lưới quỉ ma.

Khôn ngoan sao bằng thiệt thà,

Cứ lời Mẹ dạy mới là gái ngoan.

42.- Con đã chán các đàng tội phước,

Mừng cho con nay được gặp Thầy.

Ơn Thầy rưới khắp cỏ cây,

Con tua tỉnh mộng kịp ngày qui nguyên.

43.- Phần xác thịt ba giềng làm trọng,

Phần thiêng liêng phải gióng cho cân.

Chớ hao TINH, KHÍ, hại THẦN,

TINH-THẦN quí báu phải cần phải chuyên.

44.- THẦN, KHÍ, TINH, Tiên-Thiên làm gốc,

TINH, KHÍ, THẦN, là nọc hại người.

Con ôi! Đừng tưởng trò chơi,

Nếu con sai ngược Đạo Trời dễ đâu.

45.- Đừng nghe kẻ mượn màu Đại-Đạo,

Tiên, Hậu, Thiên, ngược ngạo phỉnh đời.

Nếu con sai lạc tấc hơi,

Luân-hồi phải vướng, chạy Trời được sao?

46.- Mẹ thấy trẻ khát-khao tìm Đạo,

Mà lại tin: chuyện ảo rằng chơn.

Con ôi! Chớ cậy giọng đờn,

Giọng đờn là giọng hại khờn hồn linh.

47.- Con muốn rõ công-trình tập luyện,

Tập luyện rành Cửu-chuyển phải thông.

Muốn cho Cửu-chuyển được ròng,

Gần Thầy mới rõ Huyền-công thể nào.

48.- Con phải biết Đạo cao tối trọng,

Đừng để lòng hờ hỏng sự tu.

Chớ tin những lũ quáng mù,

Mượn Thầy giả Đạo quến rù hư thân.

49.- Nghe tiếng trẻ, Mẹ mừng cho trẻ,

Trẻ phải mau bước lẹ đường ngay.

Muôn năm mới gặp hội nầy,

Trễ cơ-hội ắt đọa đày vướng mang.

50.- Đã gặp Đạo gặp đàng chánh-đáng,

Thì phải lo phải ráng công-trình.

Mẹ khuyên bỏ tánh hớ hinh,

Mẹ khuyên bỏ tánh chống kình chị em.

51.- Tánh kình chống ráng kềm cho dứt,

Nó làm cho Đạo-Đức phải hư.

Con ôi! Mẹ vốn Đại-Từ,

Thương con Mẹ nán giờ dư chỉ bày.

52.- Thấy trẻ dại đọa-đày thân thể,

Mảng tranh đua theo thế nhoáng hào.

Quên nhìn Đất rộng Trời cao,

Đành vùi bụi đỏ để xao Tánh Trời.

53.- Thần, Tiên, Phật, ráo lời cạn tiếng,

Khuyên các con bỏ miếng Tu chơi.

Tu cho biết Phật, biết Trời,

Tu cho biết Đạo, biết đời, mới Tu.

54.- Trẻ mến Đạo thầy mù khó dắt,

Trẻ ham đời thì mắc tay phàm.

Xanh, Vàng, sợi chỉ ai làm,

Con đường Nam Bắc, Bắc Nam ai bày?

55.- Muốn tìm Đạo gặp Thầy mới sống,

Muốn tìm Thầy chớ vọng phàm tâm.

Con ôi! Đạo lý cao thâm,

Lầm sai một mảy hại thầm xiết bao.

56.- Lòng thương xót đồng bào chớ nệ,

Một rún nhau của Mẹ mà ra.

Đông, Tây, Nam, Bắc gần xa.

Dầu cho khác giống cũng là tình thâm.

57.- Kẻ rù quến gây mầm xâu xé,

Lập phái phe chia rẽ thịt xương.

Lời ngon ngọt tợ như đường,

Nếu con nhẹ dạ mắc lường uổng oan.

58.- Con phải đến Đạo-Tràng Chơn-Lý,

Mới không còn có quỉ nơi Tâm.

Đạo-Tràng Thầy lập phải tầm,

Phải tầm cho gặp đặng chăm học hành.

59.- Trời đã phú Tánh lành sáng suốt,

Thì con là con ruột của Trời.

Con Trời đâu có cải lời,

Con Trời đâu có tiếng đời nhạo khinh?

60.- Khuya những tối tự mình con xét,

Con xét con, con biết lấy con.

Con ôi! Tánh Đức cho tròn,

Đừng ham những thói bôn chôn nhộn nhàng.

61.- Chị em cũng một đoàn thua sút,

Giờ rảnh rang phải học mới nên.

Học thì chí phải cho bền,

Học bền mới có tuổi tên với người.

62.- Khi đi, đứng, khi cười, khi nói,

Lúc nằm, ngồi, lúc hỏi, lúc thưa;

Con ôi! Lễ nghĩa chẳng vừa,

Nếu con thưa thớt ai chừa cho con?

63.- Phận nhi-nữ phải tròn danh dự,

Nết đoan trang, con giữ lấy con.

Tiếng thơm, tiếng nổi như cồn;

Tiếng nhơ, cũng nặng như hòn Thái-Sơn.

64.- Con rõ Đạo chớ sờn công-quả,



Công-quả bòn chớ khá từ nan.

Muốn thông công-quả rõ ràng,



Công càng bền vững, quả càng lớn lao.

65.- Công-đức được dày, cao, chói rạng,



Công-nghiệp càng rọi bản Ngọc-Kinh.

Sao cho công vững như thành,

Sao cho quả được trổ nhành, đơm hoa.

66.- Phận nhi- nữ ngọc ngà thân thể,



Công-quả cho rành rẽ đừng sai.

Công cao, Phước mới được dài,

Công dày, Đức mới vững tày núi sông.

67.- Muốn được Quả phải trồng nên Quả,



Quả muốn trồng giống chạ chớ ương.

Con ôi! Phận gái đoạn trường,

Đoạn trường càng phải tìm đường cho nên.

68.- Mẹ đã dạy công bền mới được,



Công dày công được phước mới bền.

Học hành công khó mới nên,

Biếng lười phải vướng vào nền tớ-tôi.

69.- Mẹ đã dạy vun bồi công-quả,

Con phải rành công cả của con.

Con nào công nấy vuông tròn,



Công nào Quả nấy chẳng còn đợi chi.

70.- Mẹ cũng biết nữ-nhi phận gái,

Mẹ sẽ trao phần dạy có người.

Con ôi! Công chớ biếng lười,

Con ôi! Mẹ đã ráo lời khúc-nôi.

71.- Con phải biết Luân-hồi nên sợ,

Luân-hồi làm nên nợ Vô-minh.

Muốn cho Công được viên thành,

Thì con khá ráng học hành cho thông.

72.- Kẻ dối trá cuồng ngông khả ố,

Mà làm tuồng dạy dỗ tròn, vuông.

Các con là gái quê môn,

Các con đâu rõ vuông, tròn là chi.

73.- Các con hãy kỹ suy chính xét,

Thầy có đâu la lết dạo đường.

Thầy đâu làm mặt trò phường,

Thầy đâu tán tận Thiên-lương khuấy đời!

74.- Con đã gọi con Trời thế hạ,

Con phải mau hối-quá tự-tân,

Con sao chẳng chịu nhựt-tân,

Mà con lại muốn tránh Luân-Xa-Hồi?

75.- Bánh Luân-Xa lăn rồi chẳng đợi,

Nếu vướng vào con mới định sao?

Con ôi! Thiên-võng nan đào,

Đừng trông Bắc-Đầu, Nam-Tào cứu nguy.

76.- Muốn cứu nguy chẳng chi lạ nữa,

Con khá lo tự sửa lấy mình.

Sửa mình cho được bất-sinh,

Sửa mình cho được tiền-trình vẻ vang.

77.- Nói đến con trăm đàng chua xót,

Mẹ xiết bao lệ giọt đượm tuông.

Thấy con sa hố lạc truông,

Cũng vì mê mảng làm tuồng khéo khôn.

78.- Càng khôn khéo càng dồn cát bụi,

Khéo khôn chi với tuổi hồng-trần.

Hồng-trần khôn khéo nhố nhăng,

Khéo khôn theo buổi Hồng-trần ích chi?

79.- Kìa trước mắt con suy cho kíp,

Cuộc bi, hoan, ly, hiệp mấy hồi.

Sao con chẳng rõ cơ Trời,

Nắng, mưa, lạnh, nóng mấy thời đó con.

80.- Trời bình tĩnh thoạt còn nổi gió,

Trăng làu làu lại trổ mòi mưa.

Đừng ai khoe sớm, nói trưa,

Năm còn, tháng thiếu, ngày thừa, phải sai.

81.- Lời rỉ rả canh dài Mẹ dạy,

Tiếng nỉ non phải quấy Mẹ bày.

Con ôi! Gắng chí theo Thầy,

Ngọc-Kinh mới được có ngày đoàn viên.

82.- Cơ họa-phước nhãn-tiền mấy lát,

Cũng đều do khổ lạc chẳng tường.

Khổ kia ai tạo mà vương?

Lạc nầy ai bỏ, ai duồng-lại chê!

83.- Phải xét kỹ rõ bề khổ lạc,



Khổ tại đâu mình chác vào mình?

Tại mình nuôi cái Vô-minh,

Vô-minh nào phải Trời sinh mà ngờ.

84.- Kìa Đuốc-Tuệ ánh bờ Chơn-Lý,

Thầy đã khai rọi chỉ đường ngay.

Thuyền nghiêng, sóng ngược, phải quay,

Đừng nghe mạnh bạo rủi tay lái lèo.

85.- Người trí thức coi dèo thời thế,

Chớ hỏng hờ lầm kế tinh ranh.

Con ôi! Phận gái mỏng mành,

Thương con, Mẹ chỉ mối manh con tường.

86.- Đêm đã cạn Mẹ càng than thở,

Bỏ tánh phàm xem-chợ nhắm-em.

Đạo dường gió tạnh sóng êm,

Con nào mến Đạo phải tìm Đường Chơn.

87.- Biết sao kể nguồn cơn sau trước,

Ham tự-do con vượt ra đi.

Tự-do nó có ích gì,

Tự-do càng lắm càng suy tinh thần!

88.- Trẻ hối ngộ, Mẹ mừng cho trẻ,

Ráng lo Tu kẻo trễ thời kỳ.

Gặp Thầy con ráng qui-y,

Càng cho biết lễ, biết nghi, mới rằng.

89.- Mẹ dạy con chẳng ngừng lời nói,

Con nghe lời đừng gọi phui-pha.

Đêm khuya nguyệt xế trăng tà,

Con soi bóng nguyệt, còn là bấy nhiêu?

90.- Duyên Tứ-giả lắm điều dối trá,

Cuộc tuần-hoàn vay trả chẳng thôi.

Lánh xa cái Bánh Luân-Hồi,

Khá mau tỉnh ngộ vun bồi Chơn-Linh.

91.- Vững Chơn-Linh phải thình Tâm-Tánh,

Nhìn Ngọc-Kinh là cảnh quê nhà.

Rảnh rang cái kiếp phù hoa,

Lặng Tâm, êm Tánh mới là gọi con.

92.- Mẹ vì con lưỡi mòn đòi đoạn,

Mẹ vì con lời cạn mấy phen.

Công dư kết bạn với sen,

Dư công đâu để làm quen với bèo.

93.- Chừa cái tánh tự kiêu tự đắc,

Mới có ngày gần Phật gần Trời.

Trời tuy lộng lộng vơi vơi,

Nhưng Trời ở tại mấy lời Mẹ đây.

94.- Con nghe Mẹ, Mẹ khuây khỏa dạ,

Mẹ nhìn con, con hả hớn lòng.

Con ôi! Mau kíp trùng phùng,

Đến Đài Kim-Khuyết hiệp cùng chị em.

95.- Lời tâm huyết Mẹ đem tường tận,

Khuyên con thơ yên phận tu hành.

Muốn cho gọi được gái lành,

Thì mau cải dữ, mới rành chơn tu.

96.- Đừng phân biệt trí, ngu thêm hại,

Đố ai tường khôn, dại là chi?

Trăm điều, đều tại hóa-nhi,

Đừng đem phàm tánh mà khi, mà lầm.

97.- Mẹ căn dặn tu Tâm cho lắm,

Tu Tâm rồi, Tánh bẩm mới trong.

Tánh Tâm tuy cũng nơi lòng,

Mẹ còn lo ngại: con không rõ đàng.

98.- Lòng thương con ngổn ngang trăm mối,

Muốn cho con tránh khỏi Luân-Hồi;

Nầy con: Tâm, Tánh bởi Trời,

Nầy con: Tâm, Tánh bởi người phá hư.

99.- Phật thường gọi Chơn-Như Tâm-Phật,

Trời đã cho Minh Đức Tánh Trời.

Tánh Tâm trong sạch là Người,

Tánh Tâm xảo trá là Đời đó con.

100.- Đã gần trót đêm tròn Mẹ giảng,

Giảng cho con mấy đoạn éo-le.

Phải nhìn Đất chở, Trời che,

Phải nhìn cho kỹ đặng nghe đặng làm.

101.- Đời gió bụi, hiểm nham bớ trẻ!

Có thiện căn mới dễ tránh Đời.

Tránh Đời, con phải nghe Trời,

Nghe Trời thì phải nghe lời Mẹ khuyên.

102.- Kẻ có phước thiện-duyên mới gặp,

Gặp thiện-duyên ráng tập mà làm.

Làm thì Nhứt Đức, Nhứt Tâm,

Nhứt Tâm, Nhứt Đức Mẹ châm-nom liền.

103.- Thầy đã dạy MƯỜI KHUYÊN ráng nhớ,

Lại lắm khi nhắc nhở trăm điều,

Khuyên con Tâm-Huệ ráng khêu,

Ráng khêu cho tỏ đặng theo mới mầu.

104.- Bề cư xử sồng nâu đạm bạc,

Chớ hêu đòi đài-các trâm-anh.

Trâm-anh để gọi gái lành,

Trâm-anh nào phải sửa sanh bề ngoài.

105.- Mẹ dạy con chẳng nài lao khổ,

Tánh-phàm khuyên ráng bỏ ráng chừa.

Ráng đem lại Tánh-Trời xưa,

Ngọc-Kinh sớm bước, chờ trưa trễ chầu.

106.- Đuốc Chơn-Lý làu làu Thầy rọi

Nơi Trung-Ương đặng gọi các con.

Bòn vàng sông Lệ nên bòn,

Tìm châu tìm ngọc non Côn đến tìm.

107.- Cây mát mẻ có chim khôn đậu,

Kẻ hiền lành noi dấu Từ-Bi.

Từ-Bi, Bác-Ái Thầy ghi,

Từ-Bi, Bác-Ái Tam-Kỳ vẻ vang.

108.- Mẹ đã dựng nền vàng, tảng ngọc,

Con biết lo săn sóc đêm ngày.

Ân cần mực thước đừng sai,

Thì con sẽ được dẫy đầy Ơn Trên./-

—————————d&c—————————


Lời chú-giải: các bài Kinh Trung-Thiên và bài Kinh Tây-Vương trước

Đây là do nơi Hiệp-Thiên-Đài, Thầy ban cho Đức Chưởng-Quản Đệ Nhị Tiểu Thời Kỳ (ông Phùng) cũng có tiếp Điển của Đại Tiên Lữ-Thuần-Dương, dạy văn xuôi nói về hột lúa v.v…. có in trương 30.

Cuốn Đuốc Chơn-Lý hồi ban đầu Đức Hiệp-Thiên-Đài, ấy cũng có tiếp Điển của Chư Thần chỉ vẽ họa đồ Châu-Thiên-Đài và Bát-Quái-Đài cho Hội-Thánh và ông Đốc-công Đắt Trà-Vinh tạo tác hết 7-8 phần 10. Vì vậy mà Thầy có nói khi lập Tòa-Thánh Trung-Ương Hiệp-Thiên-Đài, Thầy sai phải có mặt con ắt được rẽ mây trong Trời; còn bên Cao-Thiên-Đàn Rạch-Giá là nơi do ông Chánh Thái-Phối-Sư Bửu-Sơn làm chủ có cặp phò-loan Chơn-Tâm, Tường-Khánh chấp cơ ra Thánh-Giáo dạy Đạo và Kinh Tu Chơn Thiệp Khuyết, Chánh Tà Yếu-Lý, Thánh-Giáo Chánh-Truyền, v.v …

Đó là hai vị rường-cột của Tòa-Thánh Trung-Ương đứng trong Tứ-Bửu của Thầy ban hồi ban-sơ tại Tân-An, có lập Đàn giao cho hai Đại-Sư tập 3 Vị phò-loan có chấp bút được nhiều bài Lễ Bổn và Kinh cầu-siêu, cầu-hôn; còn tại Tòa-Thánh Hiệp-Thiên-Đài có lập Ban Hành Pháp có Lịnh có Cờ, do nơi chủ quyền Hiệp-Thiên-Đài có đông người tới lui, hành-vi không được vô-tư theo lịnh Hiệp-Thiên-Đài đã ban hành trước đây, bởi đó Trật-Tự Hiệp-Thiên-Đài càng ngày càng rối rắm từ nửa năm Bính-Tý (1936) cho tới tháng 6 năm Đinh-Sửu (1937). Bởi các Cớ ấy mà Chư Thần phải dời ông Phùng về Tân-An và Long-Xuyên, rồi bãi Đại-Lễ kỷ-niệm An-Thiên năm ấy, cùng là bế-mạc Hiệp-Thiên-Đài. Trước khi ông Phùng đi, Chư Thần có chuyển cho ông gặp ông Giáo-Sư Ngọc-ĐƯỢC-Thanh ở Tân-Lý-Đông, truyền thánh địa nơi nhà Giáo Sư CÒN, hai Ông có nói nhau đôi ba tiếng, ấy là Cơ Chuyển Đạo qua Đệ Tam Tiểu Thời Kỳ, là giao lãnh Vô-Vi Hiệp-Thiên-Đài một cách bí-mật, sau lại Thầy có nói cho trong Đạo biết rằng các việc chẳng qua cái nạn Thiên can Địa sát mà ông Phùng không ngờ vì Thầy đã nói trước:


87.- Hành Thiên-Đạo Vô-Vi phải biết,

Chữ tùy thì biến diệc phải thông;

Thánh-Nhơn thừa thử Lục Long,

Nào ai biết đặng lại phòng bôn-chôn;

Phải thông hai chữ Hà Ngôn,

Âm-thinh sắc-tướng phải chôn Nguơn-Thần.

Bởi vậy cho nên mấy tháng sau năm Đinh-Sửu thì chuyển ông Giáo-Sư Ngọc-Được-Thanh để dạy Đạo-Tràng trong các làng: làng Phú-Kiết, Lương-Hòa-Lạc, Thân-Cửu-Nghĩa; và phóng Điển cho Ngài ra Thánh-Ngôn dạy Đạo. Qua ngày 20 tháng Chạp, Bà Huỳnh-Giàu-Hương qui liễu, Thầy có cho ra một bài Kinh Kính Mừng 5 vé biểu đem ra đọc tại mộ-phần mà Đức Giáo-Sư còn ngại, không dám ban-hành vì trong Đạo chưa ai biết Cơ Chuyển Đạo đã định rồi mà phải chờ bước qua Mậu-Dần.

Trong Đệ Nhị Tiểu Thời Kỳ, Tòa-Thánh Trung-Ương bị tách ra ba phái:

Thứ nhứt: phái ông Đạo Quang dời về Giồng Bướm với ông Thiệu và các chức-sắc Phước Long, lập Tòa-Thánh Hậu-Giang (Coi “Chuyển Mê” số 8 thì thấy rõ lời Thầy quở).

Thứ hai: phái Tịnh của ông Tòng, Tỵ và Huyện Lợi lập tại làng Mỹ-Phước (Mỹ-Tho).

Thứ ba: phái ông Kiên-Phùng-Nhơn-Phấn-Tú lập tại Tân-An vì không tin cơ vận chuyển của Thầy rất mau lẹ và rất bí mật.
232.- Lập Trung-Ương Thầy trao gánh nặng,

Dạy các con dứt hẳn phàm tâm;

Đừng lòng chia rẽ mà lầm,

Đừng lòng dại dột mà cầm rằng khôn;

Xét coi nội quả Càn-Khôn,

Có ai qua được Chí-Tôn là Thầy.

233.- Thầy thương xót một bầy con dại,

Kiếp “Ngũ-Lôi” hiện tại đương giàn;

Thầy thương, Thầy dạy, Thầy than,

Mong cho con chớ ngổ ngang lời Thầy;

Ví bằng kiếp số đến ngày,

Ăn-năn đã muộn kêu Thầy uổng công.

—————————d&c—————————
Ngày 22 tháng 6 năm Đinh-Sửu (1937).
– Con cúi đầu lạy Thầy, xin bạch Đức-Chí-Tôn: chẳng biết vì cớ nào mà Tòa-Thánh Trung-Ương hay có điều trắc trở làm cho đến đỗi chinh nghiêng.

– Nầy con, vì tại mấy anh lớn của con nó được phẩm-vị rồi nó quên hẳn các lời của Thầy phú thác.

– Bạch: Nếu như mấy anh lớn của con quên hẳn lời Thầy mà làm cho Tòa-Thánh Trung-Ương không vững, rồi nhơn-sanh ra thể nào, chúng-sanh ra sao, còn phận con đây ra thế nào, xin Thầy chỉ dạy.

– Con ôi! Con hỏi đó Thầy rất đau lòng nên Thầy nói cho con hiểu: Trung-Ương là Thầy lập cho mỗi con vì bấy lâu nay các con mê theo phàm tục làm nhiều điều thái quá, nhiều điều bất cập mà bỏ dứt Bực-Trung, nếu bỏ Bực-Trung đâu có làm con người được, nên Thầy lập Trung-Ương là cốt để cho các con mỗi mỗi phải giữ lấy Bực-Trung mà làm, chớ nào phải một mình CA hay là PHÙNG gì mà làm Trung-Ương hết thảy cho các con đâu, như nó làm cho Trung-Ương không vững thì Trung-Ương của nó ra sao thì nó biết lấy nó. Vì Thầy thường dạy: lập Trung-Ương là Thầy lập cho con, con nào cũng là con, hễ con của Thầy thì Thầy đã lập Trung-Ương cho rồi, tự ý mỗi đứa muốn phá thì phá, để thì để liệu lấy, dầu cho nhơn-sanh hay là chúng-sanh cũng vậy; còn phận của con thì Thầy đã dạy cho con ngày Lễ An-Thiên năm rồi con nhớ không. Nếu con nhớ thì cứ theo đó mà làm đi, tới đâu thì Thầy sẽ chỉ thêm tới đó.

– Bạch Thầy: Sao con thấy Thánh-Ngôn của Thầy có dạy:

Đài Châu-Thiên đó là từng Ngọc-Kinh”.

– Con cứ hỏi thử Thầy hoài, con đã biết rồi sao còn hỏi nữa.

– Con cúi lạy Thầy xin tha tội cho con.

– Nầy con, Thầy đam các Anh lớn của con ra lãnh phận-sự đặng nó lo trả nợ nhơn-quả của nó cho xong, nên Thầy dạy chúng nó lập Châu-Thiên-Đài, là Thầy gióng thử sức của chúng nó coi có dứt bỏ tham sân si hay không, mà chúng nó đã không dứt bỏ, lại còn gây thêm ra nữa. Thầy đã cho Lữ-Tổ giáng bút đặng nhắc nó, nó lại quên đi, cứ làm oai sấm sét dọa nhát các em khờ, chúng nó tưởng vậy đó là đúng rồi, mà Thầy cũng còn quá thương cho các đàn em của chúng nó, vì hết lòng sợ Thầy nên phải cúi đầu lạy cái xác phàm của nó, mà nó đành ngồi chịu cho đoàn em lạy. Thầy cũng có rộng lòng cho chúng nó hưởng những cái lễ của các em nó chúc mừng cho nó, là khi nào chúng nó dạy dỗ những điều lầm lạc cho các em nó biết mà chừa thì cũng nên hưởng được; chớ Thầy nào cho chúng nó làm tiệc cầu vui, nói điều vô ích mà làm khó cho các em nó phải cúi đầu lạy nó mà nó đành vui, đây thầy hỏi PHÙNG con có như vậy không?

– Bạch: nay Thầy dạy con đây con tình nguyện nghe Thầy nhưng mà con không biết tính lẽ nào cho mấy anh lớn hồi-tâm lo chấn chỉnh nền Đạo cho vững vàng.

– Con sao quá khờ Thầy nói đây, nào có phải dạy riêng một mình con đâu.

– Bạch: nếu như Thầy không có dạy riêng, con xin Thầy giáng bút tại Tòa-Thánh cho mấy anh lớn của con rõ.

– Nầy con, Thầy đã dạy chúng nó nhiều lần rồi, mà chúng nó bỏ qua, trong khi Đàn Phổ-Độ Kiên-Giang Thầy có dạy rành mà chúng nó cứ bỏ qua hoài, nên nay Thầy thấy con có lòng mộ Đạo biết sợ Thầy, biết thương mến anh em, nên Thầy truyền lại cho con, ấy là y theo trong lời Thầy đã phán trong Đàn Phổ-Độ Kiên-Giang trước đó, vậy con phải vâng lời Thầy gởi bài Thánh-Ngôn của Thầy phán đây (cho) đến Tòa-Thánh Trung-Ương đặng cho các Anh Lớn của con nó coi đặng tự xét lấy nó, con chớ nghi ngại, vì Thiên-Cơ Thầy đã định rồi, con cứ việc thi-hành đi, đừng hỏi dông-dài chi nữa. Thăng…

—————————d&c—————————




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương