ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ TÒa thánh đỊnh tưỜng hội thánh chơn lý thiêN ĐẠo chơn truyềN



tải về 1.52 Mb.
trang11/13
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích1.52 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13

Sadec, tháng 9 năm 1933.

NGỌC-Đình sắc tứ Luật Điều-Qui,

HOÀNG-Lịnh sa-thừa kẻ tự-khi,

ĐẠI kiếp Đại thành kỳ tám chục (Đại-Đồng),

ĐẾ ân rộng mở cảnh Vô-Vi.
—————————d&c—————————
Kiên-giang, le 17 Octobre 1932.

THỂ đức như gương chiếu cõi Trời,

LIÊN châu năm sắc rạng nơi nơi,

TIÊN phàm khuyên chớ đua bay giỏi,

NỮ kỷ Nam cang ráng trọn lời.
THẬP-THỦ LIÊN-HƯỜN.

I.

Đạo Thầy huyền diệu thấu sao cùng,

Thức tỉnh người mê cõi Á-Đông.

Mở dạy Trung-Nguyên ngôi Thái-Kiệt,

Rải gieo Nam-Việt giống Thần-Nông.

Ngoài trong đen trắng, năm ba số,

Phải trái vàng xanh, một ít vòng.

Đậm lợt mỏng dày cao vời thấp,

Hiểu chăng hoặc có khác Non-Bồng.

II.

Non-Bồng ai khiến đến thày lay,

Biết đó sao chưa biết đặng đây.

Tiểu-muội núp gương cam phận Túy,

Đại-bàng phơi cánh ngóng Trời Tây.

Đừng rằng cảnh Phật vui chuông trống,

Mà đón lòng người lướt gió mây.

Nầy thấy nầy chưa nầy ướm hỏi,

Trầm luân mài miệt cuộc no say.

III.

No say quên lửng nhứt phi tam,

Thập bát nguyên-nhân nhị cửu hàm.

Trần tĩnh trần sa oai Phục-Hổ,

Điển trừ yêu nghiệt báu Già-Lam.

Đạo cao khuyên gắng công ma niết,

Học quản tua gìn chữ khiết tham.

Người hỡi người ôi người khá tỉnh,

Chớ kìa kẻ Bắc lại người Nam.

IV.

Người Nam kẻ Bắc lại sum vầy,

Khuyên chớ trầm trồ sự dở hay,

Hùm được thêm oai nhờ sức gió,

Rồng nên vẻ đẹp bởi chiều mây.

Vô biên vô lượng đành không dễ,

Bất kỵ bất cầu mới thiệt hay.

Chín chín nạn dư vừa thấy Phật,

Thấy rồi rõ Phật ở mình đây.

V.

Mình đây nhiều kiếp biết tu hành,

Biết được mau lo độ chúng sanh.

Nhơn quả trả vay tuồng sóng lượn,

Công danh thành bại bức mây tranh.

Cờ cao túng nước mau xoay thế,

Nhà rộng Trời khuya kịp điểm canh.

Áo bã hài gai chuông tỉnh mộng,

Tài tình khuyên trẻ mựa cành nanh.

VI.

Cành nanh quá lắm ích chi đâu,

Tự cổ đồn bia tiếng bể dâu,

Liên lạc vướng nhành mưu chước nhện,

Oai phuông tuông nọc thế thần sâu.

Đã đành người báu so Trời Đất,

Thì để danh lành sánh trước sau.

Sáu chữ Di-Đà (*) nguồn cội cả,

Học cho thông suốt mối cơ mầu.

---------------------------------------------------------

(*): Sáu chữ “Lạy Thầy Chúa-Tể Kiền-Khôn” thế cho Lục tự Di-Đà.

—————————d&c—————————


Cao-Thiên-Đàn (Rạch-Giá),

Đêm 18 tháng 6 năm Quí-Dậu (1933).
NGỌC HOÀNG ĐẠI ĐẾ.

204.- Nầy các trẻ có duyên tìm Đạo,

Chữ lời Thầy dạy bảo chớ sai;

Minh mông biển rộng sông dài,

Trời che Đất chở chẳng hai con đường.

Anh em hòa thuận nhịn nhường,

Đừng lòng ích kỷ Sâm-Sương rã rời.

205.- Kể từ thuở Đất Trời gầy dựng,

Sanh loài người chí nhẩn tới nay.

Nhiều phen giáng thế chỉ bày,

Tùy theo thời cuộc cũng Thầy mà thôi.

Rằng tuy khác biển cách vời,

Hễ ở trong Trời thì một “Mẹ Cha”.

206.- Tuy khác tiếng, khác da, khác giống,

Nhưng cũng đồng sự sống với nhau,

Dưới chơn cho tới trên đầu,

Tay chơn máu thịt chỗ nào khác đâu?

Ớ con khắp cả Hoàn Cầu!

Trước đều một rún, một nhau, một nhà.

207.- Từ Vô-Thỉ lịnh Cha đã dạy,

Dạy các con đến cõi trần gian;

Mở mang khắp cả Hồng-Hoang,

Giúp thay Bàn-Cổ Tam-Hoàng lập công.

Công thành qui vị thưởng phong,

Đừng cho đến đỗi bụi hồng vương mang.

—————————d&c—————————


Kinh “Chánh-Tà Yếu-Lý”

Ngày mồng 8 tháng 1 năm Tân-Vì (1931).

Đường ngay có một không hai,

Đường ngay từ thuở Thiên-Khai đến giờ.

11.- Đây TA chỉ sơ sơ một ít,

Đặng biết chừng mục đích mà phăng:

Đạo là phẳng-lặng trang-bằng,

Dường như gió tạnh Trời trăng đêm rằm;

12.- Tây-Trúc dạy: “Minh tâm kiến tánh”,

Hàm-Quan khuyên: “Luyện tánh tu tâm”,

Lỗ-Đông: “Dưỡng tánh tồn tâm”,

Gia-Tô: “Thượng-Đế tại tâm” chẳng rời.

13.- Tứ-Đại-Thánh một lời chẳng khác,

Khác tại người xiêu lạc cải canh.

Đường ngay chẳng thạo đã đành,

Tâm sanh chưởng chưởng, ma sanh khó gì.

—————————d&c—————————



Sagiang, tháng 9 năm 1933.

299.- Muốn hành Đạo đừng sai chữ ĐỨC,

Hành Đạo cho thiệt mực một đường.

Noi trang TỨ-THÁNH làm gương

Nên gương Đạo-Đức chữ THƯƠNG làm đầu.

THƯƠNG thì nhẫn nhịn nhường nhau,

Nhường nhau mới được trước sau thuận-hòa.

300.- TỨ-ĐẠI-THÁNH bốn nhà hiệp một,

Mới đủ làm rường cột CAO-ĐÀI.

ĐẠO, NHƠN-TÂM vẫn có hai,

Hóa NHƠN thành ĐẠO giồi mài cho TINH.

Đã TINH lại NHỨT mới xinh,

NHỨT rồi cần phải giữ gìn KHUYẾT-TRUNG.

—————————d&c—————————


C-2

Cao-Thiên-Đàn (Rạch-Giá),

ngày 18 tháng 6 năm Quí-Dậu (1933).

230.- Phế Ngọc-Kinh Nam-Thiên giá hạnh,

Thầy bổn thân thấy cảnh đau lòng,

Các con rắn rắn rồng rồng,

Coi lời Tam-Trấn như không chẳng màng.

Lại thêm bày lớp dị đoan,

Mê sa ma quỉ tội tràn vạ lây.

—————————d&c—————————



D-2
Cao-Thiên-Đàn (Rạch-Giá),

đêm 10 và 11 tháng 6 Bính-Tý (1936).

425.- Vượt thế-gian kìa Trời Chúa-Tể,

Thuyền rước người vượt bể trầm-luân.

Muốn cho người rõ được chừng,

ĐÀI CHÂU-THIÊN đó là từng NGỌC-KINH.

Muốn cho vững bước tiền-trình,

Tánh Tâm phải lặng như bình nước trong.

426.- Kìa trên có Chủ Ông săn-sóc,

Khuyên con đừng lặn mọc hư thân.

Đã rằng ai phước có phần,

Phước phần thứ-lớp nắp-ngăn chẳng lầm.

Luật Trời tuy gọi u thâm,

Song đều cũng tại nơi Tâm mình gầy.

427.- Con thử xét từng mây mấy lớp,

Thì con tường trường-hợp Ta Người.

Ta Người đều Một với Trời,

Ta Người đâu có mến đời mẩn-mê.

Ta Người mau thoát kiếp về,

Từng mây mấy lớp đều quê hương nhà.

428.- Chớ vụng tưởng có ba cảnh-giới:

Dục, Sắc, Vô, rằng Đại-Tam-Thiên.

Chia ba thêm kẻ đảo-điên:

Rằng nào bổn-chất tự-nhiên dạng hình,

Rằng nào cảnh-trí tú-tinh,

Rằng nào lý-trí tự mình xét suy.

429.- Sao chẳng xét Vô-Vi Độc-Nhứt,

Dụng Hữu-Vi sanh Thái-Cực-Đồ.

Chớ rằng Đạo-Thể Hư-Vô,

Chẳng xem Đạo-Tướng có lò Hóa-Công.

Kíp mau một kiếp tao-phùng,

Châu-Thiên-Đài đó Đại-Đồng đệ-huynh.

430.- Mau bước đến Ngọc-Kinh chín bệ,

Kẻo kìa con ác xế đã hầu.

Một lời gẫm chẳng bao lâu,

Còn trông đợi muốn chực chầu những chi.

Mấy lời Thầy dạy phải ghi,

Con đường khôn dại thị-phi chớ lầm.

—————————d&c—————————


E-2
Tây-ninh, ngày 8 tháng 5 năm 1930.

Thầy, các con.

Thầy thấy phần nhiều, tu cũng muốn tu, mà thế-tục cũng không muốn chừa bỏ, thế-tục là nét dìu dắt cho mất ánh Thiêng-Liêng; phải lấy nghị-lực cang-tâm kềm chế cái dục-vọng mới là chẳng uổng công-phu hành Đạo cho. Áo dà cũng muốn mặc, giày Đạo cũng muốn mang, muốn đứng trước cả nhơn sanh, để cho họ biết mình là hướng Đạo, đường Tiên cũng lấp lửng, nguồn Thánh cũng lộn vào, thấy bạc rơi chẳng bỏ, lợi múng cũng chẳng chừa, mượn danh Đạo tạo danh mình, vô Thánh-điện mà hơi tà còn phưởng phất. Muốn cho nhà thiệt cao, áo thiệt tốt, đội lốt cọp dọa cáo bầy, bụng trống lổng túi thâu đầy, toan làm thầy lũ dại.

Ôi, lốt Đạo, lốt Đạo…

Thầy buồn cho trẻ dại chẳng biết làm sao mà đem Thánh-Giáo vào tay chúng nó đặng, Thầy nhớ xưa kẻ mộ Đạo chịu ngàn cay muôn đắng, biết có người mà chẳng biết nhục mình, giày gai áo bã, đội nguyệt mang sao, gió trước lọt chòi tranh, mưa sau hư giạu lá, bần hàn chẳng quản, tay trắng dìu người, một mảy cũng không bợn nhơ, mới có thể lập ngôi cho mình được. Chớ có đâu lấy của lẫn nhau, mượn quyền xô Đức, kẻ chơn-thành lánh mặt, đứa tà mị áp vào, rồi cúm rúm mảng hơi tà, lạy đùa nói rằng thờ Chánh-Giáo.

Thầy hỏi: vậy chớ ai chứng cho?

—————————d&c—————————
Ngày 26-1-1927 (23-12-B.D)
Ngọc-Hoàng Thượng-Đế viết Cao-Đài

Giáo Đạo Nam Phương.

….

Tròi trọi mình không mới thiệt bần,



Một nhành sen trắng náo nương chân,

Ở nhà mượn đám mây xanh kịt

Đỡ gót nhờ con hạt trắng nần,

Bố hóa người đời gây mối Đạo,

Gia ân đồ đệ dựng nền nhân,

Chừng nào đất dậy Trời thay xác,

Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần.

—————————d&c—————————


Kinh “Tu Chơn Thiệp Khuyết”.

Kiên-Giang, ngày 24 tháng 3 năm Canh-Ngũ (1930).

48.- Thầy thương xót, ngùi ngùi kẻ dại,

Muốn thành công, mà lại ngao du;

PHẬT MANG TÁM NẠN, CŨNG TU, THẦY còn MUÔN KIẾP, công phu dãi dầu.



KỆ VIẾT:

Giáng cơ chỉ rõ máy Kiền-khôn,

Ghi chép vài trang sách Thánh-ngôn.

Luân-lý, cang-thường nên cả cội,

NGHĨA NHƠN TRUNG HIẾU vốn sâu nguồn.

Thành Chơn phước bởi công Vô-lượng,

Đắc Đạo ơn nhờ Đức Chí-Tôn.

Khuyên nhủ các con tua gắng chí,

Tam-kỳ MUÔN THUỞ tiếng bia đồn.

—————————d&c—————————


Sagiang, tháng 9 năm 1933.

312.- Tu phải biết cơ Trời tối trọng,

Tu phải chừa dục vọng tham sân.

Con ôi! Ai phước có phần,

Ai tu nấy được, ai cần nấy thân.

Ớ con khắp cả dưới trần,

Muôn kiếp mấy lần, mới gặp hội ni?

—————————d&c—————————


Cao-Thiên-Đàn (Rạch-Giá),

Ngày 10 thánh 6 năm Bính-Tý (1930).

432.- Mừng cho trẻ có Tâm tìm Đạo,

Thì những lời dạy bảo phải tuân.

Mấy muôn ngàn kiếp một lần,

Mấy muôn ngàn kiếp được gần mặt Ta.

Khá mau tỉnh giấc ta-bà,

Tự-nhiên được Trí-Trung-Hòa dưới trên.

—————————d&c—————————


F-2

Kiên-Giang, đêm 18 tháng 6 năm Tân-Vì (1931).

CA, vốn là An-Thiên La-Hán phái,…



Nghe kệ:

Cuộc Thầy bủa An-Thiên Đại-Hội,

CA vững lòng chớ vội phiền ai.

Muốn nên danh cả chí trai,

Bền gan sắt đá chớ hoài công phu.

—————————d&c—————————


Định-Tường, đêm 14 tháng 7 năm Nhâm-Thân.

59.- CA trách nhậm công dày sức nhọc,

Dám liều mình xông đục đạn tên.

Công phu con thật rất bền,

Gánh lời nặng nhẹ chẳng rên chẳng phiền.

Công con Thầy có chép riêng,

Thánh Thần Tiên Phật cũng biên rõ ràng.

60.- Công con đó bảng vàng ghi tạc,

Thầy đã sai Bạch-Hạt xướng tên,

Đầu-Sư phái Thái công đền,

Vai làm Anh Cả đứng trên TRÙNG-ĐÀI.

Làm sao cho rõ chí trai,

Thay Thầy hành Đạo rõ tài Hậu-Giang.

—————————d&c—————————


QUI-ĐIỀU:

Điều thứ 3: CA, CHƯỞNG-QUẢN CỬU-TRÙNG-ĐÀI phải lo sắp đặt người cho có thứ tự, sau Thầy sẽ dượt phê cho. Con phải nhớ rằng: chức Chưởng-Quản Cửu-Trùng-Đài của Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ rất quí báu và cao-thượng, nghe không con? Mặc ý con, muốn nghe theo Thầy để cứu vớt nhơn sanh trên sông mê biển khổ, hay là nghe theo ai, nó mượn danh Thầy, cậy danh con, để phá Thầy và hại Chúng-sanh thì nghe. Con phải sợ những đứa đã Chơn-Lý mà còn nghe theo quỉ-vương.

—————————d&c—————————
Sagiang, tháng 9 năm 1933.

331.- Bạch-Ngọc-Kinh Điển linh Thầy rọi,

Hiệp-Thiên-Đài ánh giọi Thần-Phan,

Trung-Thiên Điển giáng Thánh-Đàn,

Kiền-Khôn thế-giới ba ngàn bao la,

Tiêu thiều nhạc trỗi thi CA,

Bắc Nam xướng họa một nhà chung vui,

Chung vui rộng mở cuộc ngày nay,

Chơn-Lý bay xa hớn hở mày,

Ước được Năm châu đồng một dạ,

Mới là xinh đẹp tiếng con Thầy.

—————————d&c—————————


Kiên-giang, đêm 18 tháng 6 Tân-Vì (1931).
NGỌC sáng nhờ tay thợ khéo giồi,

HOÀNG cung mở rộng khắp nơi nơi,

ĐẠI thừa trí thức vầy sum hiệp,

ĐẾ khuyết từ đây người phải người.
Các con hãy lãnh trách nhậm theo đây:

– CA, vốn là An Thiên La Hán phái, cuộc lập An-Thiên Đại-Hội, trách nhậm nơi con, hầu trừ quỉ-vương phá rối Đại-Đạo.



Cửu-Hà-Khúc

Thầy đã bủa Ngũ-Hành-Tòa

Thất-Đẩu-Cuộc
sẵn cho các con làm vi cánh.

Lập An-Thiên Đại-Hội: Cửu-Hà-Khúc là Tam-Giang-Thủy, Long-Hồ Tam-Bình Thủy, Tam-Xuyên Thủy.

a.- Tam-Giang Thủy là: Tiền-Giang, Hậu-Giang đã có Phùng lãnh; Kiên-Giang (đã có người Thầy định).

Long-Hồ Tam-Bình Thủy (Thầy sẽ định).

b.- Thất-Đẩu-Cuộc: non Cấm làm nền,

c.- Ngũ Hành Tòa: TAM-TÔN làm gốc.

—————————d&c—————————
Đêm 20 tháng 7 năm Nhâm-Thân.

45.- Việc phong thưởng đã trao phù tiết,

HIỆP-THIÊN-ĐÀI trước hết phải lo,

Trung-Ương gầy dựng cơ đồ,

HIỆP-THIÊN-ĐÀI phải lựa cho phải người.

Hiệp đồng con đủ các nơi,

Mượn nhà CA tạm THIÊN-ĐÀI ít lâu.

46.- PHÙNG, con chớ cơ cầu húng hính,

Chức Thiên-Sư Thầy định trước rồi,

Con đừng chặc dạ kín môi,

HIỆP-THIÊN-ĐÀI đó, con ôi! Giúp Thầy.

Phong con Chưởng-Quản Đài nầy,

Có con ắt được rẽ mây trong Trời,

47.- Khuyên con phải tuân lời Thầy dặn,

Lọc Đồng-Loan dùng thẳng nới tay.

Bầy chim vừa sập sận bay

Làm sao biết được cung mây mấy từng.

Miễn cho hớn hở Trời Xuân,

Ngàn hồng muôn tía vui mừng rước Xuân.

48.- Chức Chưởng-Quản phải cần học hỏi,

Bảy Chơn-Như lộn cõi trần gian,

Hạ mình con phải hỏi han,

Rước về làm bạn Đạo càng thêm cao.

Dạy con đã dạy hồi nào,

Vì con bê trễ để xao lãng hoài.

—————————d&c—————————


QUI-ĐIỀU:

Điều thứ 9: PHÙNG, vì Thầy về Trung-Thiên nên Thầy không dụng Điển của Hộ-Pháp nữa, Thầy cậy nơi con là người có Điển về Trung-Thiên để tiếp Điển Thầy mà ban hành Thánh-Huấn, con chớ từ nan mà lỗi với Thầy.

Điều thứ 13: PHÙNG, Thầy ban cho con một cái Hiệp-Thiên-Đài Vô-Vi nơi mình con để Thầy dạy việc khi Thầy cần dùng.

—————————d&c—————————


332.- Tiếng con Thầy cỏ cây nở mặt,

Vọi Kiên-Giang cao ngất Định-Tường,

Khuôn linh gầy dựng Trung-Ương,

Phơi gan sắt đá, dọn đường gai chông.

Rọi gương Chơn-Lý trùng PHÙNG,

Muốn cho trọn được Đại-Đồng Đệ-Huynh,



Đệ-Huynh tuy thấy khác màu da,

Thầy đã tường-phân vốn ruột-rà,

Ví dẫu đờn Nam mà nhịp Bắc,

Nhưng tuồng khéo sấp được bình-hòa.

—————————d&c—————————


VII.

KINH TRUNG-THIÊN

– Phần Hương

– Niệm Hương

– Kinh Tứ Thời

– 3 bài dưng Tam-Bửu

– Thập Nguyện

Khai Kinh

—————————d&c—————————



KINH KÍNH MỪNG

ĐỨC CỬU-CUNG PHỔ-HÓA NƯƠNG-NƯƠNG

(Thể Liên Tiên Nữ cho ngày 10 tháng 4 năm 1932)


1.- Trên rực-rỡ hương đèn soi khắp,

Dưới thiền-tâm chỉnh lập ban tề.

Rỡ-ràng áo vỏ, xiêm nghê,

Năm Cung năm cõi đề-huề chị em.

2.- Đồng chầu-chực trang-nghiêm Bửu-Tọa,

Rước Cửu-Cung Phổ-Hóa Nương-Nương.

Chúc dưng Thánh Thọ vô-cương,

Chúc mừng Pháp-lực vô lường, vô biên.

3.- Đạo-Tràng dẫy Cửu-Thiên khai-hóa,

Dựng Tiên-Thiên trợ tá Hồng-Quân.

Mở nên Trời Đất chín từng,

Chia làm Lục Lục, lãnh phần Tam Tam.

4.- Trấn Ly-Cung Chánh-Nam ngôi-vị,

Luyện Đoài-Kim vật quí Đất Trời.

Ngũ-Hành biến hóa giúp đời,

Kim ngân, châu báu túy thời hóa-sanh.

5.- Sanh cho đến sợi mành tơ chỉ,

Lập cho xong kinh-vĩ quyền-hoành.

Về sau nấu-nướng, cửi-canh,

Nữ-Hoa thay dạng đổi hình nhiều phen.

6.- Lần thứ chín Cửu-Thiên Huyền-Nữ,

Diêu-Trì-Cung kim tự sắc phong.

Tây-Thiên Vương-Mẫu đẹp lòng,

Giao phần trách-nhậm chín cung làm đầu.

7.- Trẻ khờ dại ham màu trần-tục,

Mến phàm-trần lắm lúc gian nan.

Ngày nay chung hiệp một đoàn,

Cúi nhờ Thánh-Mẫu liệu toan sửa giùm.

8.- Ước sao được hiệp sum như trước,

Cảnh Ngọc-Kinh chơn bước trở về.

Cúi đầu đảnh lễ dưng thề,

Xin đam cho đến chốn quê hương nhà.

9.- Tiên phàm đã cách xa diệu vợi,

Lòng thơ ngây chứng với Chín Từng.

Cầu xin mở rộng Hồng-Ân,

Xót thương kẻ đã ăn-năn lỗi lầm.

10.- Đầu vọng bái Cao Thâm Chín Bệ,

Xin đừng cho chậm trễ bước đường.

Muôn nhờ Đức Cả Nương-Nương,

Muôn nhờ lượng cả xót thương với cùng.

(Lạy chín lạy)

(Trích từ “Đuốc Chơn-Lý” số 13, trang 28)


—————————d&c—————————
KINH NHỰT TỤNG

(ĐỌC TỨ THỜI)



KINH THÁI DƯƠNG

(Đọc giờ Mẹo):



Giấc vừa tỉnh tinh-thần trong suốt,

Tưởng đến ơn ngọn Đuốc Thái-Dương;

Kim-quang chánh-chánh đường-đường,

Hang cùng nẻo thẳm, khắp phương soi vào.

Gọi khắp kẻ đồng bào bổ ích,

Đại-Võ xưa du tích thốn âm;

Sanh-sanh bể khổ luân trầm,

Một phân bóng ác vàng cầm mấy mươi.

MỘT lo bỏ biếng lười nọc quỉ,

Chính là đồ tiêu hủy thân danh;

Dầu cho phải mặt hùng anh,

Thờ thần hèn nhát thì mình phải hư.

HAI lo phải dứt trừ bốn vách,

Cổ chí kim tai ách tại đây;

Lo cho công nghệ trương bày,

Lo sao danh giá sánh tày non sông.

BA lo phải đồng lòng đồng dạ,

Đặng lo trừ cái họa dại khờ;

Học hành lo chớ bơ thờ,

Tứ-dân tứ-thú hỏng hờ sao nên.

Trăm việc giữ sự bền làm trước,

Một bước cho một bước vững vàng.

Nhà no người đủ mọi đàng,

Cậy nhờ Đức-Cả Thái-Dương độ trì.

(Lạy 12 lạy)

—————————d&c—————————


KINH NHỰT TRUNG

(Đọc giờ Ngọ)


Thẳng một mực theo đường Chơn-Lý,

Vẻ vang thay Nhựt chí Đương Trung;

Rạng ngời khắp cả non sông,

Tuần-hoàn Võ-Trụ vô-cùng vô-biên.

Tiếng khen tặng Nghiêu Thiên Thuấn Nhựt,

Hưởng Thái-bình nhờ Đức-Chí-Công.

Ban cho điểu thú côn trùng,

Ấm no thân thể vẫy vùng thảnh thơi.

Xưa nấu đá vá Trời còn được,

Nay há không dõi bước tập rèn;

Dày công muôn việc phải nên,

Đào sông trồng núi vụ bền công-phu.

Trời đúng Ngọ làu làu cảnh sắc,

Người chí-thành vặc-vặc gan phơi;

Tuy rằng người ở trong Trời,

Lời Trời đã dạy chớ rời Trời trong.

Mùa vẫn có Thu Đông Xuân Hạ,

Người đừng lòng nhĩ ngã tôn ti;

Đam mình vào cửa qui-y,

Hãy xem con bóng Hóa-Nhi xây-vần.



Con ác chẳng chút ngừng nghỉ cánh,

Giúp sanh-sanh Kiến-Tánh Minh-Tâm;

Muôn đời một mực không lầm,

Sớm trưa chiều tối Quang-Âm chẳng lờ.

Người thức-tỉnh mang nhờ ơn nặng,

Biết giác-mê phấn-chấn Linh-Quang.

Chơn-thân mừng được nhẹ nhàng,

Bước đường tấn-hóa ngày càng cao-siêu.

(Lạy 12 lạy)

—————————d&c—————————


KINH THÁI ÂM

(Đọc giờ Dậu)


Trọn ngày được tinh-thần thơ thới,

Ơn Thái-Dương muôn loại đều nhờ;

Đoài-cung nay đã đến giờ,

Thái-Âm lãnh việc chuyển cơ đêm đầy.

Luật tấn-hóa vần xây máy Tạo,

Hết ngày rồi phiên đáo tới đêm;

Luật ngày lửa thét rất nghiêm,

Luật đêm mát mẻ khỏe êm Nguơn-Thần,

Nhờ Thái-Âm một vừng trong trắng,

Giúp sức người nhìn nhận Ngôi xưa;

Ngôi xưa quí báu chẳng vừa,

Ngôi xưa thanh tịnh không trưa không chiều.

Ngôi xưa vốn tiêu diêu khoái lạc,

Bỏ Ngôi xưa mộc mạc thân hình;

Ngày nay nhìn lại mà kinh,

Trách ai thúc dục cho mình ra đi.

Ngày nay đến thời kỳ hối quá,

Nguyền Thái-Âm Ngôi-Cả phò trì.

Một lòng bất dịch bất di,

Định-Tâm quyết chí hiệp qui nhau về.

Cơ Thái-Âm nhiều bề thần-bí,

Ấy là nơi thâm-thúy vô-cùng.

Sanh-sanh hóa-hóa trùng-trùng,

Chính đây thiệt chỗ Hóa-Công nhiệm-mầu.

Diệu trung diệu, ẩn châu đáy biển,

Huyền trung huyền, dội tiếng hang Thần;

Hư, không, trầm, tĩnh, bổn căn.

Âm-Dương ngưng kiết hóa phân Tam-Tài.

Đạo dạy kỹ một, hai, ba, bốn,

Đến năm rồi, định chốn Trung-Ương;

Tại người sớm liệu tối lường.

Liệu, lường, đong, sớt, chế phương thêm mùi.

Rày mến Đạo nguyền vui với Đạo,

Dứt những điều khờ khạo gọi khôn;

Nguyền xin yên vững Linh-Hồn,

Thân, Tâm, Tánh, Mạng, hiệp tròn như xưa.

(Lạy 12 lạy)

—————————d&c—————————


KINH CẦU SIÊU CỨU

CỬU-HUYỀN THẤT-TỔ

(Đọc giờ Tý, trước bài Sám Hối)


Trời thường dạy con Trời tỉnh-ngộ,

Phú Linh-Quang thấy đủ mọi bề;

Thấy Thân nhờ gốc chở che,

Thấy bề, thấy bến, thấy quê, thấy nhà.

Trời ban sẵn người ta một Tánh,

Khắp trần-hoàn yếu mạnh bằng nhau;

Phàm-gian tuy khác giống màu,

Chơn-Linh vốn Một, Một nhau Một hòn.

Sống ở thế xác hồn chia rẽ,

Khiến lộn lầm dâu bể Luân-Hồi;

Đua chen đây lở kia bồi,

Khôn khôn, dại dại, đời đời trả vay.

Trời thương kẻ đọa đày kiếp số,

Lập Cao-Đài Phổ-Độ kỳ ba;

Con nào muốn gặp mặt Cha,

Khuyên mau tỉnh giấc gần xa một lòng.

Lò Tạo-Hóa Đại-Đồng có một,

Xác với Hồn vốn ruột thịt nhau:

Hồn khôn, Xác được sáng màu,

Xác khôn, Hồn được mau chầu Chí-Tôn.

Đạo Thầy mở vuông tròn Trời Đất,

Dạy Xác Hồn Hiệp-Nhứt theo Thầy;

Xác dầu tỉnh tỉnh say say,

Hồn-Linh phải nhớ Cao-Đài Ngôi xưa.

Quên Ngôi xưa đảo lừa trốn tránh,

Càng làm cho hại Thánh hại Thần.

Thầy ban Linh-Điển đồng cân,

Thầy đà nhìn nhận Thiên-Ân bủa đều.

Lãnh Thiên-Ân nghe theo Thiên-Tánh,

Hiệp với Cha mới rảnh nợ trần;

Hồn linh Hồn khá ân cần,

Hồn linh Hồn nhận Chân-Thân Hồn Hồn.

Thầy cứu độ muôn muôn thế-giới,

Độ thoát mê trở lại Ngôi xưa;

Khuyên Hồn phàm tục ráng chừa,

Khuyên Hồn phải tránh phải ngừa lưới ma.

Hồn hiệp đủ Một Ba, Ba Một,

Hồn rảnh rang ngục nhốt vô biên.

Hiệp xong Thất-Tổ Cửu-Huyền,

Hiệp đồng Võ-Trụ Khôn-Kiền thiêng-liêng.

Đầu vọng bái Cao-Thiên chứng giám,

Rưới Thiên-Ân ứng-cảm chúng-sanh;

Muôn nhà đồng hưởng phước lành,

Muôn nhà xưng tụng Hồng-Danh nơi Trời.

Đầu vọng bái vơi-vơi Chúa-Tể,

Chứng tấc lòng cho trẻ thơ ngây;

Cả kêu một tiếng lạy Thầy,

Lạy Thầy Chúa-Tể tràn đầy thế-gian. (Lạy 12 lạy)

(Trích từ “Đuốc Chơn-Lý” số 28, trang 17Š21)
—————————d&c—————————

BA BÀI KỆ TU-CHƠN

I.- Giáng cơ chỉ rõ máy Kiền-khôn,

Ghi chép vài trang sách Thánh-ngôn.

Luân-lý, cang-thường nên cả cội,

Nghĩa-nhơn, trung-hiếu vốn sâu nguồn.

Thành Chơn phước bởi công Vô-lượng,

Đắc Đạo ơn nhờ Đức Chí-Tôn.

Khuyên nhủ các con tua gắng chí,

Tam-kỳ muôn thuở tiếng bia đồn.
II.- Tiếng bia đồn đẻ ức muôn năm

Khuyên thế, đừng tu độc hiểm tâm;

Thầm tối, mưu gài chông lễu-lễu,

Cao xanh lưới bủa dạng tâm-tâm.

Vô-thường chẳng sợ tay oanh-liệt,

Quỉ-tốt nào kiên bực phẩm-hàm.

Thiện ác đáo đầu vay có trả,

Hoàng-thiên hữu nhãn, chắc không lầm.


III.- Chắc không lầm-lỗi tiếng Mười Khuyên,

Thì được tên đề bản Địa Tiên.

Muốn hưởng lâu dài nền hậu-quả,

Phải lo bồi đắp cảnh tiền-duyên.

Làm lành, lánh dữ, câu thành ngữ,

Tốt đất, sung nhành, lẽ tự nhiên.

Chí dốc siêu phàm, lên cõi Thánh,

Phải lo vun tưới, miếng Tâm-Điền./-

—————————d&c—————————




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương