ĐẠI ĐẠo tam kỳ phổ ĐỘ HỘi thánh cao đÀi chơn-lý TÒa thánh chơn-lý (TIỀn giang) ĐUỐc chơn- lý


Ngày 15 Tháng 11 Annam 1941 (7 giờ sáng)



tải về 0.69 Mb.
trang5/6
Chuyển đổi dữ liệu22.12.2018
Kích0.69 Mb.
1   2   3   4   5   6

Ngày 15 Tháng 11 Annam 1941 (7 giờ sáng) [ĐCL.46/102]

ĐẠO RÀNH NGHE RÕ LỜI CHUNG

Nầy mỗi con cả đồng Nam, Nữ có mặt làm lễ tại giờ Ngọ nơi Thánh thất Thủ Thừa ngày nay đây, ráng nhớ lại chỗ cơ Trời như nháy mắt, hằng lo dựng cuộc phổ thông. Nếu trong mỗi con mà được nhớ cho đồng với nhau như vậy, thì cái sự lo lường, cái công hành đạo; dầu cho khó nhọc bấy lâu đó, dầu ít dầu nhiều; hễ nhớ được lời Thầy nhắc trên đây, thì thiệt là cái công cái sự đó nó quí biết là bao nhiêu. Nhưng trái lại, cho những đứa giả tâm lo thầm sự quấy, làm không thiệt mà lại tính kể công, thì đứa đó có bao giờ hưởng cho đặng cái tiếng nói quí trên đó. Đó là tại đứa đó, chớ không phải tại Thầy, thì mỗi con phải xét lấy. Chớ đừng để cho đến cơn nào vậy, rồi trở lại than phiền, thì tội càng thêm mới, nghe mỗi con.

Nầy mỗi con ôi !! cái dạ muốn của phàm, cái ưa của tục,cái nết xấu, cái đồ hư….. Thầy đã nói hoài, mà đứa vậy lại càng thêm làm vậy; lại muốn kiếm thêm cho nhiều là khác.! Vì tại đó mà trở day không nỗi, tấn thối không rành. Đạo đã tới ngày hôm nay, mà đứa vậy cũng còn thêm vậy. Rồi làm sao cho phải phận tu hành, là cũng tại nơi lòng con so hơn, tính thiệt.

Nầy mỗi con, Thầy nói rồi thì mỗi con phải biết đặng mỗi việc phải lo, đừng có bắt chước như mấy đứa vậy, rồi thì đâu có rõ Trời là Chơn Lý – thì đâu có biết Đạo là chỗ Vô Vi; rồi thành ra Trời Phật thiệt ở gần, còn xa đó là tại cái lòng vậy đó. Hỏi vậy rồi cái tiếng tu hành đó nó co kết quả chi không, thì mỗi con nghiệm lấy.

Đây Thầy cho ra ít lời. Đọc nghe rành rẻ.


T H I :

1.- Đọc rành, nghe rõ lời chung

Nhưng mà chỗ gạn, chỗ dùng có ngăn

Mỗi con rằng nhớ, sao rằng

Là sao rằng Đạo, sao rằng muội mê

2.- Mỗi điều có thấy, có nghe

Có nhìn lại có gớm ghê lâu rồi

Tới nay rành đạo lý Trời

Người sao lại ước, ao lời thị phi

3.- Công dày, quả trọn Thầy ghi

Tội xưa dồn lại, buổi thì hiện đây

Kiếp tu Thầy đã nói hoài

Ráng chừa sanh nạnh, tao mầy dại khôn

4.- Trước, sau vì phận lo đồng

Là lo gỡ tội, đừng trông lợi quyền

Đặng an bề một cho Hiền

Thì xa chuyện dữ, bình yên có phần

5.- Máy Linh Thầy lộ ra lần

Thấy rồi sao lại, liều thân đám tà

Vậy rồi sao trọn Người, Ta

Sao thành đạo lý, ai hòa với ai !!

6.- Khuyên trừng dạy cả gái, trai

Biết bao lời nói, trong ngoài nhặc thưa

Đặng nghe nhằm chuyện ngăn ngừa

Ngặt phần đông cãi, cho vừa dạ tham


ĐƯỢC, bài nầy con đọc tại Đạo tràng cho mỗi đứa nghe chung, rồi về H.T.Đ Vô Vi, Thầy sẽ dạy tiếp./-

————————————d&c————————————


Ngày 16 tháng 11 năm 1941 (7 giờ sáng) [ĐCL.46/104]

[Cho tiếp bài Ngày 15 tháng 11 năm 1941 (7 giờ sáng)]


7.- Xét xa Thầy nói sao nhàm

Vì công chuyện mới, tâm phàm dậm thêm

Tu hành là nết lặng êm

Đã không kềm thoát, lại tìm móc bươi

8.- Đó là kêu tội dễ ngươi

Làm sao mà đặng tốt tươi cho bền

Vậy rồi ma, quỉ kề bên

Kiếm điều xô lấn, khó nên tại vầy

9.- Phải chi lòng quyết sợ Thầy

Thì ghi dạ nhớ, đừng gay gắt hờn

Đặng làm cho xác sạch trơn

Cho hồn trong nhẹ, thì chơn chánh gần

10.- Tại vì thân chẳng biết thân

Biết lo kình cự, so phần, sánh ngôi

Mà quên phận sự chưa rồi

Tại vầy ngày thỏn, mỏn thôi hết chờ

11.- Ngồi trông đợi ngó ngày giờ

Mà không xét phận, bơ thờ bởi đâu

Ngày qua, tháng lại cơ mầu

Gió đưa nhặc thúc, là thâu nhặc người

12.- Nhắc cho người nhớ phận người

Sống trong ngày, tháng; đạo đời nghĩ sao ??

Nghĩ cho mình tới hạng nào

Sao mà trọn phải, còn sao thiếu lành

13.- Vậy rồi nghĩ lại đừng sanh

Là sanh lười biếng, ghét ganh bợ lùa

Tục đời thường chác tranh đua

Quyết tu đừng dựa, tiếng mua tặng cầu

14.- Biết trong thời vận đáo đầu

Thì buông nết chạ, khỏi sầu buộc đeo

Con nào lòng thuận, ý theo

Là theo lời dạy, khúc khiêu bấy chầy

15.- Thì trong đứa đó gặp Thầy

Còn con nào ngỗ, nghịch ngày thấy nguy

Đã nhiều lời nói tiên tri

Trước rồi, sau có; còn nghi lẽ nào

16.- Nghi là không chắc Trời cao

Không tường Đất rộng, ra vào đám u

Vậy dầu cho Trí, cũng Ngu

Cho gần đạo đức, cũng tu không rồi

17.- Giờ trưa mỗi đứa nghe lời

Nghe rồi sau thấy, Đạo Đời đó đây./.


ĐƯỢC, bài nầy giao lại CA đặng in ra để dành dạy đạo; một bổn trả cho Thủ Thừa ; trong đó đọc cho Đạo nghe cho rõ, rồi buộc phải chép ra mà học./-

————————————d&c————————————


Ngày 27 Tháng 1 Annam 1939 (10 giờ trưa) [ĐCL.46/106]

TU HÀNH ĐẠO LÝ RA SAO ??

ĐƯỢC, con phải nói cho NGÔ nó hay : trong bài nó hỏi đó là vì khi Đạo mới khai; phần đông chưa rõ tu hành đạo lý ra sao; mà lại dám xưng hô mình là trọn Công bình, Bác ái, Từ bi, Tu tâm dưỡng tánh….vv…

Bởi đó nên Đệ nhị tiểu thời kỳ, Đức Chưởng Giáo phải thay mặt cho Thầy đứng ra gạn hỏi, đặng coi trong đó có ai trả lời đúng hay chưa, để lần lần dạy dỗ mà đem qua cho đủ Tam Tiểu thời kỳ, cũng không ngoài hai lẽ đó.

Một lẽ , hỏi sao gọi là ĐẠO; đó là chỉ về tinh thần đạo lý trong chỗ HƯ, VÔ mà đem ra hình thể đặng dễ thấy, dễ nghe mà làm cho tới Đạo;

Còn một lẽ thì hỏi về phần xác đây , làm sao mà gọi là Tu. Tu cho đến đâu là cùng, là hết, là trọn, là nhằm; thì cũng trong 10 điều đó mà chia ra hai lẽ cho rành. Chớ kỳ trung là Chơn Lý.

Đây, Thầy dạy cho NGÔ nó biết, đặng có ngày nó gặp đứa bất thông, nó sẽ lấy đó mà độ dẫn chúng về Chơn Lý.

1.- Hỏi làm sao cho đời gọi là cái Đạo ?

-Phải làm cho đúng sự Thiệt.


2.- Sao gọi là Vô Vi ?

- Phải lấy trong chỗ Không mà làm ra chỗ Có. Đó là Vô Vi


3.- Sao gọi là Niết Bàn ?

- Tại chỗ tu hành, nhứt trần bất nhiễm, nên gọi Niết Bàn


4.- Sao gọi là Ông Phật ?

-Tại lòng thương yêu nhơn loại, cứu đời, nên kêu là Phật


5.- Sao gọi là Từ Bi ?

- Không giận ghét, oán hờn thù khích ai. Chỉ biết mừng cho người có Tu khỏi tội ( là Từ) – Thương người không biết tu mà mang tội (Là Bi)


6.- Sao gọi là Bác ái ?

- Hai chữ Bác ái chẳng khác nào như ngọn suối trong núi, chảy ra cho mọi người nhờ lấy nước đó mà dùng cho đỡ khát. Ngọn nước ấy không chê bực nào hết, ai muốn thì uống, không thì thôi. Nghĩa là trong núi cao mà có được một suối nước thì có lẽ cứu người cũng đều hữu ích, nên gọi là Bác Ái, là rộng rãi mến yêu.


7.- Sao gọi là Công bình ?

- Đó là cái cân của Tạo Hóa, hoặc là cái Luật của Thiên nhiên; lấy hai chữ Công bình làm chủ nghĩa : Công là không tư vị - Bình là cho mình tự xét trước mình; đó là bình tâm dưỡng tánh.


8.- Tại sao gọi rằng Ta ?

-Ta là 1 tiếng để nói chung cho đời và đạo. Đó là 1 tiếng để chỉ về các việc chi chi trong cũng phải có Ta mới được, đó gọi là Thần, là trong chỗ biết. Nếu không có Ta thì có đâu là biết; nếu người theo đạo hay là người đời mà mượn lấy iếng nầy rồi đem ra chưng hô, viện cớ, thì chịu đứng vào bản ngã, đó là Cái Ta; thì sớm muộn gì cũng phải hư, chớ không bền vững.


9.- Tại sao gọi rằng Người ?

-Người là có vóc, có hình, đi đứng, cao lùn, đen trắng; gái trai khác hơn loài thú. Nên gọi là Người.


10.- Sao gọi rằng Tu ?

-Tại vì sanh chỗ tội lỗi, đọa đày; căn lành kiếp dữ. Nhờ sợ đó, nên mới Tu.


RỒI TỪ ĐÂY TRỞ LẠI SỐ 1

1.- Sao gọi rằng Tu ?

- Phải sửa nết cho Hiền noi theo đạo lý, đó gọi là Tu.


2.- Sao gọi là Người ?

- Phải giữ cho trọn Cang Thường Luân Lý, gọi là Người


3.- Sao gọi rằng Ta ?

- Mỗi mỗi đều sợ nơi lòng.Tuy Ta sẵn có Thầy rõ thiệt, hư; chớ nên làm điều trái hẵn . Chỗ đó gọi là Ta.


4.- Sao gọi là Công Bình ?

- Việc chi mà mình không đành làm cho mình; như vậy thì chẳng nên làm cho người kia.


5.- Sao gọi rằng Bác Ái ?

- Vì lòng quá thương mà dạy dỗ cho đến cùng, đó là Bác Ái.


6.- Sao gọi là Từ Bi ?

- Chẳng nên ham giàu, chê khó; chẳng bỏ điều lành; lánh xa điều dữ; thì gọi là Từ Bi.


7.- Sao gọi rằng Phật ?

- Sửa lòng cho trong sạch, thương khắp chúng sanh. Quyết trọn đời không làm việc quấy.


8.- Sao gọi là Niết Bàn ?

- Chỗ đó là chỗ để ra, vào thi; thế như làm được vị Phật rồi, còn phải đến Niết Bàn đặng chứng minh quả Vị; rồi mới trở về Vô Vi đặng, đặng qui ư Đạo. Còn mấy bực ở trên Niết Bàn rủi bị hạ trần, cũng phải qua cho khỏi Niết Bàn rồi, mới đặng giáng sinh mà độ thế. Chỗ nầy là chỗ “ lúc đi Thầy dặn, lúc về Thầy qui” – Chữ nầy đó gọi là qui mô; qua đó được rồi mới gọi là siêu phàm, nhập Thánh. Còn ở trên đi xuống, hễ qua đó rồi thì gọi là “ lãnh gánh giáng trần”. Nên kêu Niết Bàn Diệu Quả, là vậy đó .


9.- Sao gọi là Vô Vi ?

- Hễ qua khỏi Niết Bàn rồi thì Tâm Tánh vẫn hư không chẳng ham mùi tục, hết nếm cuộc trần; trong Không làm ra Có. Có rồi thì Tâm Tánh cũng không; là không ham dành để đặng nuôi dưỡng lâu dài như kẻ tục. Đó gọi là Đạo Tâm.


10.- Sao gọi là Đạo ?

- Nhờ lấy trong chỗ Vô Vi mà làm ra kinh sách, đặng để sửa đổi cho có vẻ thuần phong, mỹ tục, trên dưới thuận hòa, không chen giành lấn, lấy Lý xử mình, biết sợ chỗ KHÔNG, gọi là Đạo đó.

Vậy Người đứng vào hạng tu hành, nếu ai làm được trong 10 điều nầy cho trọn, thì đắc quả nhãn tiền. Hễ đứng vào hạng Người Ta, thì phải lấy chữ TU làm trước.

Vậy con phải giao Ca, đặng nó in ra để dành dạy Đạo. Song nó phải hỏi lại trong Đạo tràng, con cũng vậy. Hỏi coi đứa nào muốn học thì phát ra; bằng không thì không ép. Chớ để phát ra rồi chúng nó chê là bài cũ - Còn NGÔ, thì phần nó một bổn. Chớ Thầy xem rõ thì phần đông còn thiếu trong hai lẽ đó rất nhiều. Ngặt chúng nó mãn tự kiêu, nên Thầy phải biểu CA với Con hỏi rành như vậy. Trước khi đọc rồi sẽ hỏi. Như có ai chịu học thì phải biên tên gởi đến Cửu Trùng Đài , thì CA cứ việc ban hành; nam Nữ cũng vậy. Còn các Chủ Thánh thất thì gởi một bổn; trong đó cũng phải làm y Thầy dặn trên, đặng phát ra cho Đạo học.

-THĂNG-

————————————d&c————————————


Ngày 23 Tháng 4 Annam 1939 (4 giờ chiều) [ĐCL.46/111]

[Giải nghĩa Chuyển Mê số 9 – vé 226]

“Con đã dại, Thầy yên sao được

Kiếp Ngũ Lôi, kế dượt gần đây

Nếu con tránh được buổi nầy

Mới được chầu Thầy, Bạch Ngọc tiêu diêu

Nếu con ma quỉ tinh yêu

Ngũ lôi hõa kiếp, diệt tiêu Linh Hồn »

TRÂN, Con nghe Thầy dạy :


Thấy con đã dại vô cùng

Thầy yên sao được, tại lòng Đại Bi

1.- Ngũ Lôi kiếp, là kỳ chuyển phạt

Vượt gần đây bạo ác, tiêu trừ

Đã gần tạo mấy kiếp dư

Nối theo Điều Lệ Vô Tư Luật Trời

2.- Con nào biết, kỳ thời mạt kiếp

Lo tránh lần vầy hiệp cùng nhau

Buổi Thầy khai Đạo truyền trao

Mỗi con lãnh gánh, chen vào lập công

3.- Thầy phán xét, mảy lông chẳng sót

Chế trừ châm tội, phước hai đường

Nhọc nhằn phổ độ là phương

Tuân theo lời Đạo, nghĩa phương đặng dùng

4.- Làm bổ ích, nhờ chung trong đó

Hễ có công, thì có chỗ trừ

Đến ngày mãn kiếp phước dư

Chầu Cha cực lạc, huệ từ thưởng ban.

5.- Con nào nặng kiếp mang về bạo

Chẳng tin Thầy, ngược ngạo ngỗ ngang

Tinh yêu, ma quỉ, vầy đoàn

Cản ngăn ñường Đạo, phòng toan phá đời

6.- Đó là phạm Luật chống Trời

Cho năm loài dữ, phạt nơi Linh Hồn

Hồn tiêu, xác diệt không còn

Là vương tội lớn, án còn hậu lưu

7.- Tu hành tránh đặng thì vui

Là vui về Đạo, tới lui thanh nhàn

Đã đành Luật có thưởng, răn

Thưởng, răn biết đặng, đừng toan trách thầm

8.- Biết là nhờ có Định Tâm

Tâm an, Thần vững; thậm tham thấy liền

Thưởng, răn kẻ dữ, người hiền

Rõ đâu sợ đó, cần chuyên dặn lòng

9.- Từ nầy trẻ rán chí công

Tập rèn theo Lý, đặng thông Chơn truyền

Chớ rằng cậy chốn phước, duyên

Lòng ưa biếng nhác, tội riêng ai trừ

10.- Tấc vàng hiệp với ba dư

Là trong chỗ rảnh, thuận cư Tâm bình

Học hành cho trọn Đức Tin

Sợ oai Trời Phật, đừng khinh dễ thầm

11.- Dạy rồi con nhớ vào Tâm

Từ nay Thầy sẽ, chỉ châm thêm nhiều

Ráng dò hai chữ tịch triêu

Ngày nay tuy nhỏ, mai chiều lớn khôn

Rõ trong có Xác, có Hồn

Muốn nên danh phận, hết lòng mới nên

ĐƯỢC, bài nầy con giao CA, đặng nó in ra dạy Đạo. Còn một bổn, trả lại cho Trân.

( Ấm Sanh TRÂN, ở Tân Lý Đông)

————————————d&c————————————
Ngày 20 Tháng 6 Annam 1939 ( 8 giờ tối ) [ĐCL.46/113]

“Lời Thầy đã dạy đinh ninh

Con tua Tam Tĩnh, hớ hinh đặng nào”

[C. Mê số 10 – vé 282]

LÁI, Con nghe Thầy dặn :
1.- Con học đặng tu thân thì phải

Phải dằn lòng, liệu phải xét lầm

Đó là nhẩn nại, an tâm

Là tu thận độc, thận châm hạnh thuần

2.- Tu thân đặng, mới gần Tiên, Phật

Khó khăn vì còn vật không hòa

Hễ gìn chẳng đặng phải xa

Xa rồi phải đọa, đó là hoại thân

3.- Lời Thầy dạy, nhiều lần lại nhắc

Nhắc nhiều khi dè dặt lấy mình

Đó là chỗ gọi đinh ninh

Dặn đi, dặn lại; rán gìn đừng sai

4.- Chữ Tam Tĩnh là bài Tăng Tử

Thánh còn lo tự xử xét mình

Một là xét một chữ Tin

Cùng ai kết bạn, hỏi mình trọn không

5.- Hai là tự nghĩ trong chỗ Thiệt

Vì người mưu, bày việc sanh điều

Xét rành quấy, phải bao nhiêu

Chẳng trong hơn thiệt, hai điều phải thông

6.- Đó là sự Chí Công tìm học

Luật Thầy truyền, có tập hay chăng

Trong ba điều đó có ngằn

Một tin, hai cậy, ba phần phụng sư

7.- Hớ hinh lời nói chẳng ngừa

Nên Thầy phải nhắc, sớm trưa dặn lòng

Phận con coi đó phải phòng

Chớ nên vì Bạn, vướng vòng họa tai

8.- Thầy thương dạy trẻ một bài

Để coi mà học, hoc hoài thấy hay

Thấy hay thì biết sợ Thầy

Thầy thêm sự sáng, giúp tài độ chung./.

ĐƯỢC, bài nầy giao cho CA, đặng nó in ra để dành dạy Đạo. Còn 1 bổn trả cho LÁI ( LÁI, ở Phong Nẫm – Sadec)

————————————d&c————————————



Ngày 7 Tháng 7 Annam 1941 (5 giờ chiều) [ĐCL.46/114]

[Giải Nghĩa 8 câu trong Thánh Giáo Chánh Truyền Mới, Trang 45]


ĐƯỢC, con giải nghĩa bài của KHUÊ nó xin hỏi đó, đặng trả lại cho nó học. Con giải đi có Thầy dạy cho – Giải văn xuôi:

Câu 1: Làm khuây đặng có nghĩ trong lòng



-: Lời của Ngôi Chị Thể Liên nhắc cho mỗi người muốn tìm Lý Đạo cho ra, thì trước phải làm khuây, bỏ cho đặng các sự giận hờn, thì mới có thể mà nghĩ lại trong lòng của mình được; là nghĩ lại coi mình đi học Đạo đây, rồi phải tìm ở đâu mà hiểu đặng, thì tự trong lòng nó sẽ chỉ cho.

Câu 2: Hà Lạc Đồ Thơ số tứ tung

- Phải nhớ lại coi, sách Hà Đồ với sách Lạc Thơ đó của ai làm ra, mà trong đó lại có số tứ tung, là số Đông Tây Nam Bắc. Hễ trong lòng nghĩ tới được chỗ đó, thì tự đó rán học thêm thấy lần Lý Đạo; nhưng mà phải làm khuây việc đời mới được.

Câu 3: Bắc Đẩu chốt then sao chói rạng

- Thấy trong đó có số tứ tung gọi là Đông Tây Nam Bắc. Hễ muốn biết phương Bắc, thì nhìn sao Bắc Đẩu; trong đó có cả chốt then, là cái khóa với cái gài, là cơ vận chuyển theo mỗi tháng. Hễ tháng nào thì chỉ theo tháng nấy. Khóa, gài là không cho ai biết đặng trong đó có ai , chỉ có thấy sao ngoài chói rạng. Hễ tháng Giêng thì sao đó chỉ ngay hướng Dần, rồi sáng – Tháng hai thì chỉ hướng Mẹo; tháng ba chỉ hướng Thìn – tháng tư chỉ hướng Tỵ - tháng năm chỉ hướng Ngọ - tháng sáu chỉ hướng Mùi – tháng bảy chỉ hướng Thân – tháng tám chỉ hướng Dậu – tháng chín chỉ hướng Tuất – tháng 10 chỉ hướng Hợi – tháng 11 chỉ hướng Tý – tháng 12 chỉ hướng Sửu. Thì ra 12 tháng đó cũng ở chung trong số Hà Đồ Lạc Thơ, là số Bát Quái của Phục Hy về hồi khi trước, là khi trước Nhứt Kỳ - Muốn rõ Đạo cho rành, thì do đó lần ra, thấy rành mọi lẽ.

Câu 4: Tây Phương hình dạng, cõi Hư không

- Đừng có vội tưởng Tây phương là chỗ có hình dạng chi cả. Chỉ về đạo lý thì, cõi đó là cõi Hư Không. Theo phép tu hành đừng tưởng đó có hình dạng như cuộc giàu sang mà sái chánh Lý. Bất luận là cõi nào, hễ trong đó mà phô bày ra đạo lý, tỏ việc hư vô, không lòng tật đố, yêu chuộng hòa binh…… thì đó là Tây phương một cõi. Đó là Ngôi Chị chỉ cho rõ cách suy nghĩ trong lòng, thấy ra đạo lý.
Câu 5: Vô Vi ấy, Đạo phi Chơn tướng

- Cõi nào hiểu đặng cái Lý Vô Vi ấy, cũng là nhờ do Lý đạo mà ra; chớ không phải lấy theo cái Chơn hành hay là cái Tướng mạo chi , như người sống bày biện thâu thân mà gọi Vô Vi - Mỗi việc cứ trong Không mà Có.

Câu 6: Hữu dụng cho người chiếm Hóa Công

- Đức Chí Tôn cũng để phần hữu dụng cho có một người là người đó đủ chiếm đặng Luật của Hóa Công; đó là tay Thợ khéo đặng để cho người đời noi đó mà dùng.

Câu 7: Khuyên rữa tánh phàm, noi Thánh-huấn

- Ngôi Chị khuyên chung, hễ muốn vào nơi đạo đức, thì phải rữa cho sạch tánh phàm là : thất tình, lục dục . Rữa đó là làm khuây đó, thì mới nghĩ suy mà noi theo các lời Thánh Huấn của Thầy giải ra thì rõ.

Câu 8: Đạo Thầy huyền diệu, thấu sao cùng

- Đạo Thầy là huyền thâm diệu cảm, nếu không rữa sạch Tánh Tâm mà lo học Đạo, thì không thể thấu cho cùng trọn. Nên Ngôi Chị khuyên, trước phải làm khuây là vậy đó.


ĐƯỢC, con giải rồi giao lại CA, đặng nó in ra để dành dạy Đạo. Còn 1 bổn thì giao Thiên Sư trả cho KHUÊ.

( L.S KHUÊ, ở làng Mỹ Phong)


————————————d&c————————————
Ngày 4 Tháng 8 Annam 1941 (10 giờ trưa) [ĐCL.46/117]

[Giải Nghĩa 8 câu trong Chuyển Mê số 4]

ĐƯỢC, Con sửa bài giải nghĩa cho TẬP đi, đặng trả lại cho nó coi, nó học - Con sửa đi, có Thầy dạy cho.

S Ử A :


Câu 1: Hơn chàm, được thấy có Tam Thanh

- Lời Ngôi Chị nói tỷ dụ cho mỗi người nghe rõ, là ít có ai dưới thế hạ nầy mà bền chặc một màu xanh như màu chàm . Duy Ngôi Chị có thấy được là bậc Tam Thanh Giáo Chủ là : Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh; màu nào chắc màu nấy cho tới tột, cũng không đổi lòng được. Vậy mới hiệp với cái Lý Thanh Thanh, lộng nhìn tột là màu da Trời đó. Đó là chỉ cho mỗi người, hễ muốn tu cho thành công đắc quả, thì phải rán bền nơi đó.

Câu 2: Mà được cùng không, cũng tại mình

- Lời Ngôi Chị nói trở lại cho mỗi người xét lấy, dầu cho Tam Thanh hồi trước cũng người như mình bây giờ đây; như mình ngày nay muốn được thì phải noi gương trước đó. Muốn không được thì cũng tại nơi mình, chớ không ai ép được hay là xúi giục chi đặng. Tại mình quyết cùng không quyết đó thôi.

Câu 3: Đạo lý cao kiêng lo chảy cứu

- Lời đạo lý của Trời Phật nói ra thì rất cao thượng, mà lòng người biết kiêng sợ thì phải lo chạy tìm kiếm học, đặng phòng cứu lấy thân mình. Rồi còn lo cứu lại người khác nữa. Chớ như lời nói mà không kể, bỏ qua; dầu cho có gần được như màu chàm, thì cũng là phai lợt.

Câu 4: Công trình trung tín, nỡ ngồi khoanh

- Lời nói ra đây cho hết là chỉ nghĩa về có công trình tìm học. Chữ Trung, chữ Tín mà ngàynay là thời kỳ Trời khai Đạo, cứu đời. Sao không hết lòng Trung với Trời. Lòng Tín với Bạn, đặng đem thân ra làm phận sự cho nên. Lại nỡ để ngồi khoanh làm chi vậy.

Câu 5: Minh mông biển khổ, đua chìm đắm

- Đời rất nên giành giựt, chẳng khác nào lằn nước minh mông có biết đâu là bờ, đâu là bến. Thảy đều là một bọn ở chung trong vòng biển khổ. Vậy mà còn đua nhau giành giựt thêm cho sóng nổi ba đào. Kẻ trước đã chìm, người sau còn dám theo. Vậy thì người có chi công trình, gọi mình là Trung Tín, sao lại nỡ ngồi khoanh.

Câu 6 : Chợp rợp đường tu, thiếu học hành

- Người đời tin hay chợp rợp, không để ý cho vững vàng. Nghe Trời mở dạy đường tu, tưởng đâu là dễ, không rõ ngày giờ. Cứ tưởng theo bọn Bàn Môn, tưởng vào đó đặng tập luyện cho mau thành. Nên rốt cuộc lại thì đường tu niệm là phải học hành cho đủ điều mới mong thành tựu. Nay Ngôi Chị ngó lại thì cái sự học hành, tu niệm phần chiếm quá đông; vì đó mà không được như màu chàm, là rày tỏ, mai lợt.

Câu 7: Dầu cạn, đèn khêu người ngây giấc

- Dầu cho có nói cạn lời, ráo lẽ ; đêm khêu đèn cho tỏ đặng người thức giấc mà nghe sự học, sự hành đi nữa; thì người cũng không chịu bỏ cái giấc ngây, làm sao mà thức đặng.

Câu 8: Chưa hay Trời đã quá năm canh

- Ngôi Chị nói như mấy hạng người đó vì ngây giấc ngủ. Trời đã quá năm canh mặc dầu, cũng chưa hay là sáng. Nói tóm lại là người không biết ngày, thì có trông chi là lập thành thân đặng.

ĐƯỢC, con giải rồi giao cho CA, đặng nó in ra để dành dạy đạo. Còn 1 bổn thì giao Thiên Sư trả cho Tập. (Giáo sư TẬP, ở Lương Hòa Lạc )

————————————d&c————————————


Ngày 5 Tháng 6 Annam 1940 (12 giờ trưa) [ĐCL.46/120]

[Giải nghĩa Thánh Huấn số 5 trang 28 - 12 câu]

Làm sao luyện đá, hóa vàng

Tìm đàng Chơn Lý, lánh đàng Dị Đoan

Cho hay ở cõi Dinh Hoàn

Cuộc đời giấc mộng, giàu sang ích gì

Ai mà trăm tuổi, đặng tri

Nhơn sanh thất thập, một kỳ lai hy

Có lúc thạnh, có lúc suy

Đố ai chạy khỏi, đàng đi cõi trần

Ở trần phải nhuộm mùi trần

Linh lang bể ái, nguồn ân buộc người

Mãng ham sắc đẹp, hoa tươi

Nào lo cho phận, khóc, cười về sau.”

NGƯU, Con nghe Thầy dạy :
1.- Con chẳng biết, làm sao luyện đá

Hóa ra vàng, vậy thõa lòng vui

Đó là dễ lắm con ôi !!

Rán tìm Chơn Lý, đặng nuôi tinh thần

2.- Lánh là Cách Cựu, Duy Tân

Đàng mê khổ vướng, xa phần Dị đoan

Đó là luyện đá, hóa vàng

Vàng đây là thiệt, lánh đàng bợn nhơ

3.- Đó là một giống trơ trơ

Dầu ai quấy, phải hình trơ tự mình

Nếu con biết phải, phải nhìn

Đó là chỗ luyện, sửa mình ra nên

4.- Làm sao hỏi lại chỗ bền

Bền suy xét cạn, luyện nên tuổi vàng

Cho hay ở cõi Dinh Hoàn

Là cho hay vậy, đừng toan giựt giành

5.- Dinh Hoàn cõi tạm phù sanh

Cuộc đời giấc mộng, dữ lành nào thông

Ích gì lường gạt của, công

Giàu sang cũng đó, tội đồng cũng đây

6.- Ai mà rộng xét mới hay

Vì trong trăm tuổi, buổi nầy mấy tên

Xây vần, dời đổi hư nên

Cũng là một lúc, nổi lên, lại chìm

7.- Có chi đâu lạ, mà tìm

Chạy đâu cho khỏi, phòng thêm ước cầu

Cõi trần, người tạm chẳng lâu

Đường đi thì sẵn, lại âu nỗi về

8.- Ở trần phải sợ, phải ghê

Linh lang tình dục, chịu bề khó khăn

Linh là thầm vái chuyện nhăn

Lang mùi thêm tục, nợ căn không dè

9.- Mãn ham tài sắc đẹp bề

Bề tươi vẻ lịch, lộn về nết hư

Khóc sau, cười trước chế trừ

Phận người không biết, sợ chừa thì lâm

10.- Đó là cũng tại tà tâm

Tiếc gì không bỏ, hại thêm lâu ngày

Giải cho con rõ Đạo Thầy

Đạo Thầy dạy lánh: Sắc, Tài, Tục mê

11.- Biết điều phi lễ phải chê

Chê thì đừng sợ, đợi chê mới thành

Chịu chê mà Đạo Lý rành

Đó là luyện đá, hóa thành vàng cao

12.- Nghĩ rồi mới biết làm sao

Làm sao là tại, biết sao học làm

Rán chừa cho dứt thói tham

Tham tài, tham sắc, tham hàm phẩm tôn

13.- Lại còn một nỗi bôn chôn

Rán kềm cho định, thì không khó gì

Mấy lời Thầy nói rán ghi

Ghi làm đồ luyện, nhiều khi hóa vàng


ĐƯỢC, bài nầy con giao CA, đặng nó in ra để dành dạy Đạo. Còn 1 bổn thì Thiên Sư trả lại cho Ngưu

( Lễ sanh NGƯU, ở Tân Hòa Thành)


————————————d&c————————————
Ngày 4 Tháng 10 Annam 1941 (1 giờ trưa) [ĐCL.46/122]

ĐƯỢC, con phải giải nghĩa bài “Mặc áo Chơn Long” của Phát nó xin hỏi đó. Con giải đi, có Thầy dạy cho.


Câu 1: Giờ nầy mặc áo Chơn Long

- Trong giờ hành lễ kỷ niệm Vô Vi thành lập là giờ Thầy cho Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài được mặc áo Chơn Long mà hành lễ. Từ đây sắp tới, hành lễ tại đó khỏi mặc ca sa. Hai chữ CHƠN LONG nghĩa là: Người đúng Thiệt, Thầy cho ra cầm mối Đạo, kêu là Cơ Vận Ứng Tâm, Tâm Tồn Đạo Chánh.

Câu 2: Trên Trời, dưới Đất quyền thông thể mầu

- Mặc áo đó vào thì: Trên phải biết Trời che; dưới nhờ Đất chở; Người là xác thân còn đó, thì phải nương theo Trời Đất đặng thông thể Đạo. Đó gọi là Cơ mầu.

Câu 3: Hai tay gài lại nút đầu

- Trong áo đó 9 nút màu xanh. Nút nầy là nút trên, nên gọi là đầu.

Câu 4: Đó là tóm lại, cơ mầu vận qui

- Trong 1 nút đầu đó tóm lại cho vừa đầu ngay thẳng, thì cơ vận hóa nhiệm mầu vận thời qui cũ, cũng đều trong đó.

Câu 5: Gài sang qua nút thứ nhì.

- Từ trên tới đó, một phải sang hai, gài cho kỹ.

Câu 6: Đó là Nhị chuyển, hành vi Đạo tràng

- Trong chỗ gài nút thứ nhì đó là phận sự của Hiệp Thiên Đài phải dò cơ vận chuyển, đặng làm cho đúng theo bài vở Đạo tràng, dạy Người tu niệm.

Câu 7: Thứ ba, gài lại gọn gàng

- Nút thứ ba cũng phải gài lại cho gọn gàng, đừng cho bỏ sót.

Câu 8: Là Tam Tài trọn, cần an mọi điều

- Nút thứ ba là về phận Tam Tài, phải để lòng thương cho trọn, cần cho an mọi điều , chi chi đừng để lòng ganh ghét.

Câu 9: Tiếp lần thứ bốn, gài theo

- Đạo lý thì phải tiếp lần, không cho dứt tuyệt. Nút nầy thứ bốn cũng phải gài y như vậy

Câu 10: Là tuân kỳ mạng, Thuấn Nghiêu lập đời

- Trong lời Thầy định cho Hiệp Thiên Đài phải tuân mạng vận của Trời, dò theo Điều Luật Thuấn Nghiêu, đặng lập đời nhờ chung là vậy.

Câu 11: Thứ năm, nút hiệp Ta, Người

- Nút nầy là nút thứ năm thì trong đó nhớ gọi là Ngũ Luân. Ta Người hiệp nhau phải tùng là nghĩa đó.

Câu 12: Ngũ hành sanh hóa một thời chuyển lâm

- Trong vạn vật đều có ảnh hưởng về Ngũ hành là: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ ; thì Ta Người phải có Ngũ Luân. Hễ có sanh thì có hóa; mỗi thời kỳ chuyển lâm một cách. Đó cũng là do vật đổi dời mà không quá số Ngũ.

Câu 13: Gài luôn thứ sáu, nút nhằm

- Nút nầy là nút thứ sáu cũng phải gài cho nhằm trong đó.

Câu 14: Nhằm Long Cơ hội, Lục tầm sắp sang

- Trong thời kỳ Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài ra từ năm Mậu Dần đến giờ; lấy theo Lục Long Cơ Vận thì là Hội Long Hoa rồi, thì sẽ bước qua hào lục, là hào thứ sáu tới đó kêu là cùng. Hễ cùng mà được thông thì phải tuân theo đạo lý, đặng Thầy dắt qua hào sơ; gọi là huờn nguyên Thượng Cỗ, nên gọi là sắp sang.

Câu 15: Gài luôn thứ bảy, ngay hàng

- Từ trên nút một xuống tới nút nầy là nút thứ bảy; nhiều nút ngay nhau thì cũng gài luôn như vậy.

Câu 16: Gồm Chơn Như lại, vẹt màn, phá mê

- Tới đây phận sự Hàng Long Chơn Tánh phải lo gồm hết các Chơn Như, là : Chơn Tánh, Chơn Hồn, Chơn Tâm………

Gồm lại một đặng dùng phía đó mà dạy ra mỗi người thấy rõ sự Thiệt, mà buông hết sự tà, vẹt hết màn trần; phá mê là vậy.

Câu 17: Vận khai Bát Quái thuận bề

- Phận sự Hàng Long Chơn Tánh phải do theo thời cuộc, đặng chỉ lần cho Người rõ, coi Đài Bát Quái đó mà đi cho thuận bề, vào ra có cữa, vận chuyển có năm. Chữ khai đó nghĩa là mở lần ra cơ mầu nhiệm.

Câu 18: Nút nầy thứ tám, gài cho phủ hình

- Nút nầy ngoài tuy là nút thứ 8; chớ kỳ trung đạo lý thì tới đó đủ rồi. Cũng như đi cùng 8 cữa Bát Quái, đó là đi về tinh thần. Thông hiểu năm nào tới đó là đi theo chỗ biết; chớ không phải đi cùng cái Bát Quái có hình đó. Thì chẳng khác nào đạo đức tinh thần che hết thân phàm, mát êm, lặng lẻ.

Câu 19: Cửu tuần Tam hiệp hội Linh

- Số Cửu gọi là 9, mà nó ở giữa Bát Quái. Hễ một thời kỳ khai đạo, thì phải có đủ Tam Tiểu thời kỳ, hiệp lại là Hội Vạn Linh, đó là số Cửu Tuần là nói về Đạo. Phép học đạo tới đâu, Thầy dạy tới đó; khó mà nói trước như mấy chuyện thường.

Câu 20: Nút nầy thứ chín, trọn bình thỉ chung

- Từ trên tới dưới là đủ 9 nút, đó là số Cửu, chuyển theo máy Tuần huờn, tới đây là đủ bình định trước, sau. Đạo đời vui vẻ. Ngoài thì để ra 9 nút ngay hàng giữa. Còn bề trong là Cửu số chuyển trong; ít người thấu đặng.

ĐƯỢC, con giải rồi giao lại CA, đặng nó in ra để dành dạy Đạo. Còn một bổn thì Thiên Sư trả lại Phát.

(Phối sư PHÁT, ở Sagiang )
————————————d&c————————————




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương