ĐẠi học quốc gia hà NỘI



tải về 195 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu15.11.2017
Kích195 Kb.
#1798

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



----------------------------------------


NGUYỄN THỊ HUYỀN


HIỆN TƯỢNG CHUYỂN MÃ TIẾNG ANH TRONG

GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT (TRƯỜNG HỢP SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 62 22 01 02

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC


Hà Nội, 2016

Công trình được hoàn thành tại: Khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học KHXH & NV - ĐHQG Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRỊNH CẨM LAN

Phản biện 1: …………………………

Phản biện 2: …………………………

Phản biện 3: …………………………


Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp ĐHQG chấm luận án tiến sĩ họp tại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …….

vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

MỞ ĐẦU

1. Lí do lựa chọn đề tài

Tiếng Anh đã và đang trở thành thứ ngôn ngữ toàn cầu, một phương tiện giao tiếp chung của toàn nhân loại.

Vai trò và vị thế của tiếng Anh càng được chú trọng hơn từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11.01. 2007.

Hiện tượng dùng xen tiếng Anh trong khi đang sử dụng một ngôn ngữ khác giữa người bản ngữ và người phi bản ngữ tiếng Anh cũng đang trở thành một hiện tượng ngôn ngữ học xã hội phổ biến ở nhiều nước và Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó.



2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các hội thoại tự nhiên của sinh viên chuyên ngữ có chuyển mã tiếng Anh.

Phạm vi tư liệu mà chúng tôi khảo sát là 100 hội thoại tự nhiên của sinh viên chuyên ngữ ở trường Đại học Hà Nội – những người được xác định là người song ngữ không hoàn toàn.

3. Mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án là ứng dụng một số cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội để nghiên cứu và tìm ra bản chất, những cơ chế ngữ pháp và ngữ dụng bên trong hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt của người Việt song ngữ không hoàn toàn. Đồng thời ứng dụng một số phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội để điều tra, nghiên cứu những cơ chế tâm lý, những động cơ, những đặc điểm xã hội và thái độ ngôn ngữ có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi chuyển mã của họ.



4. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

(1)Thống kê, phân loại, mô tả đặc điểm và những cơ chế ngữ pháp bên trong của hiện tượng này dựa trên cơ sở mô hình lý thuyết mà luận án lựa chọn. (2) Khảo sát một số nhân tố ngữ dụng của hành vi chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt của các đối tượng được nghiên cứu. (3) Điều tra thái độ ngôn ngữ (bao gồm cả những động cơ chuyển mã) của người Việt từ cả hai điểm nhìn: chủ thể chuyển mã và đối tượng tiếp nhận hiện tượng chuyển mã.

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng một số phương pháp làm việc như sau: (1) Phương pháp điều tra điền dã ngôn ngữ học; (2) Phương pháp phân tích ngữ pháp; (3) Phương pháp phân tích định lượng; (4) Các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu và xử lý dữ liệu ngôn ngữ học.



6. Đóng góp của luận án

Với đề tài này, luận án sẽ có những đóng góp mới cả về mặt lí luận và thực tiễn.



6.1. Về mặt lí luận

Góp phần khẳng định ưu thế của tiếng Việt (ngôn ngữ ma trận) so với tiếng Anh (ngôn ngữ nhúng).

Góp phần chứng minh tính đúng đắn trong lý thuyết Ngôn ngữ ma trận của Myers-Scotton (1993b).

6.2. Về mặt thực tiễn

Góp phần nhỏ giải đáp vai trò, chức năng, mục đích, cách chuyển mã cũng như các chủ đề chuyển mã trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay.

Ứng dụng trong định hướng học tập và giảng dạy tiếng Anh.

7. Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận án gồm 3 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương 2. Đặc điểm hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt

Chương 3. Động cơ và thái độ ngôn ngữ đối với hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆN TƯỢNG CHUYỂN MÃ

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã

1.1.1. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã trên thế giới

Có 3 hướng nghiên cứu về hiện tượng chuyển mã:

- Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận tâm lý học xã hội mà cụ thể là mô hình đánh dấu.

- Một số nghiên cứu đặc tính của hiện tượng chuyển mã.

- Hiện tượng chuyển mã và các ảnh hưởng của hiện tượng này lên các tương tác hội thoại.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã trên ngữ liệu tiếng Việt và ở Việt Nam

Ở hải ngoại (Mỹ, Úc): Có nhiều công trình chuyên sâu hoặc đề cập đến hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt. Ở Việt Nam: Các công trình nghiên cứu còn khá khiêm tốn, dựa trên cơ sở một vài hiện tượng tản mạn mà các tác giả quan sát được. Do đó, chúng tôi mong muốn thực hiện nghiên cứu mang tính hệ thống hơn hơn để tìm ra bản chất và những cơ chế ngôn ngữ, xã hội, tâm lý bên trong của hiện tượng từ bình diện ngữ pháp, ngữ dụng và thái độ ngôn ngữ.

1.2. Cơ sở lý thuyết

1.2.1. Mã và sự lựa chọn mã trong giao tiếp

Trong phần này, chúng tôi có trình bày về (1) Khái niệm mã; (2) Sự lựa chọn mã trong giao tiếp; (3) Chuyển mã và các khái niệm có liên quan.



1.2.2. Song ngữ, đa ngữ, người song ngữ, người đa ngữ

Trong mục này, chúng tôi cũng nêu thêm một số khái niệm về (1) Song ngữ ; (2) Đa ngữ ;(3) Người song ngữ/ đa ngữ



1.2.3. Một vài vấn đề về tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt với tiếng Anh ở Việt Nam

1.3. Tiểu kết

Ở nước ngoài, việc nghiên cứu lý luận về hiện tượng chuyển mã giữa tiếng Anh với các ngôn ngữ khác đã có những thành tựu đáng kể. Ở Việt Nam, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về hiện tượng tiếp xúc Việt - Anh hay cụ thể là hiện tượng chuyển mã Việt - Anh nhưng chủ yếu đối tượng là người Việt ở hải ngoại và phạm vi nghiên cứu bên ngoài lãnh thổ Việt Nam (Mỹ, Úc,...). Vấn đề nghiên cứu hiện tượng chuyển mã trong các phát ngôn tiếng Việt mới chỉ được đề cập một cách chung chung, chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu các mô hình chuyển mã chủ yếu khi người nói tiếng Việt chuyển sang mã tiếng Anh trong các hoàn cảnh giao tiếp thực tế, cơ chế ảnh hưởng, những tương tác lẫn nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh cũng như thái độ ngôn ngữ của người Việt tại Việt Nam (cụ thể là trên địa bàn Hà Nội) với hiện tượng này.

Do đó, đề tài nghiên cứu “Hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt (trường hợp sinh viên chuyên ngữ ở một số trường đại học tại Hà Nội)“ của chúng tôi sẽ cố gắng khảo sát toàn cảnh hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt, từ đó cung cấp cái nhìn cụ thể hơn về thực trạng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp hàng ngày của giới trẻ ở Việt Nam nói chung và giới trẻ ở thủ đô Hà Nội nói riêng. Có thể nói, hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt là một hiện tượng ngôn ngữ xã hội phổ biến trong tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên Việt Nam hiện nay. Các kết quả nghiên cứu trước đây đã cho thấy hiện tượng này chịu ảnh hưởng khá nhiều của môi trường giao tiếp, giới tính, năng lực, sở thích, cơ hội thực hành ngoại ngữ của người nói.

Liên quan đến những cơ sở lý thuyết quan trọng, làm chỗ dựa cho nghiên cứu, chúng tôi đã trình bày ngắn gọn những khái niệm có liên quan mật thiết với hiện tượng chuyển mã như trộn mã, vay mượn và phân biệt rõ những hiện tượng này. Liên quan đến chủ thể của hành vi chuyển mã, chúng tôi đã làm rõ các khái niệm song/ đa ngữ và người song/ đa ngữ. Về mặt cơ chế, chuyển mã là một trong những hệ quả quan trọng của sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp ở môi trường song/ đa ngữ, vì thế, chúng tôi đã trình bày khái lược những nội dung quan trọng của vấn đề lựa chọn ngôn ngữ như một trong những thành tố lý thuyết căn bản. Và cuối cùng, với quan niệm chuyển mã là một trong những hệ quả quan trọng của tiếp xúc ngôn ngữ, chúng tôi đã trình bày sơ lược những vấn đề về tiếp xức ngôn ngữ cùng những hệ quả của nó. Đó là những cơ sở quan trọng, cần thiết để triển khai việc nghiên cứu trong luận án này.



CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM HIỆN TƯỢNG CHUYỂN MÃ TIẾNG ANH TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT

2.1. Lý thuyết ngôn ngữ ma trận

2.1.1. Các khái niệm cơ bản của khung lý thuyết

Các khái niệm cơ bản bao gồm: Khái niệm Ngôn ngữ ma trận; khái niệm Ngôn ngữ nhúng; khái niệm Cù lao ngôn ngữ ma trận; khái niệm Cù lao ngôn ngữ nhúng.



2.1.2. Nội dung lý thuyết ngôn ngữ ma trận

Giới thiệu bốn thành tố của Mô hình khung ngôn ngữ ma trận bao gồm: (1) Giả thuyết ngôn ngữ ma trận (Matrix Language Hypothesis); (2) Giả thuyết hãm (Blocking Hypothesis); (3) Giả thuyết khởi tạo cù lao ngôn ngữ nhúng (The Embedded Language Island Trigger Hypothesis); (4) Giả thuyết tôn ti hàm ý của cù lao ngôn ngữ nhúng (Embededd Language Implication Hierarchy Hypothesis).



2.1.3. Sự tương tác giữa ngôn ngữ ma trận và ngôn ngữ nhúng

2.2. Một số đặc điểm ngữ pháp của tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ ma trận và tiếng Anh với tư cách là ngôn ngữ nhúng

2.3. Kết quả khảo sát hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt theo khung ngôn ngữ ma trận

Trong 100 hội thoại ghi thu được, có tổng số 964 phát ngôn. Xét theo thành phần ngôn ngữ được sử dụng để tạo lập các phát ngôn, chúng tôi thấy có 3 loại sau: (1) Các phát ngôn chỉ được tạo bởi ngôn ngữ ma trận (tiếng Việt): 321 phát ngôn, chiếm 3 3,3%; (2)Các phát ngôn chỉ được tạo bởi ngôn ngữ nhúng (tiếng Anh): 163 phát ngôn, chiếm 16,9%; (3) Các phát ngôn hỗn hợp được tạo bởi cả ngôn ngữ ma trận và ngôn ngữ nhúng (tiếng Việt + tiếng Anh): 480 phát ngôn, chiếm 49,8%.

Do mục tiêu của chương này là khảo sát và chỉ ra những đặc điểm của hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt dựa vào mô hình khung ngôn ngữ ma trận nên chúng tôi chỉ khảo sát hai loại phát ngôn thứ 2 (các phát ngôn chỉ được tạo bởi ngôn ngữ nhúng) và thứ 3 (các phát ngôn hỗn hợp được tạo bởi cả ngôn ngữ ma trận và ngôn ngữ nhúng), loại phát ngôn thứ nhất chúng tôi sẽ không đưa vào khảo sát.

2.3.1. Các phát ngôn chỉ được tạo bởi ngôn ngữ nhúng

Khảo sát 163 phát ngôn được tạo bởi ngôn ngữ nhúng, áp dụng mô hình khung ngôn ngữ ma trận, chúng tôi thấy loại phát ngôn này được kiến tạo bởi 5 loại mô hình chủ yếu sau: (1)Các từ nghi vấn tạo lập phát ngôn hỏi; (2) Các từ khẳng định/phủ định tạo lập phát ngôn khẳng định/phủ định; (3) Các từ/biểu thức chào tạo lập phát ngôn chào; (4) Các từ/ biểu thức biểu cảm tạo lập phát ngôn cảm thán; (5) Các từ/ biểu thức khác



2.3.2. Các phát ngôn hỗn hợp được tạo bởi cả ngôn ngữ ma trận và ngôn ngữ nhúng

Khảo sát 480 phát ngôn hỗn hợp dựa trên mô hình khung ngôn ngữ ma trận, chúng tôi thấy loại phát ngôn này cũng được kiến tạo bởi 3 mô hình chủ yếu đó là: (1) Các cù lao ngôn ngữ ma trận; (2) Các cù lao hỗn hợp (các thành phần hỗn hợp); (3) Các cù lao ngôn ngữ nhúng.

Trong đó (2) là các mô hình biểu thức kết hợp giữa ngôn ngữ ma trận (tiếng Việt) với ngôn ngữ nhúng (tiếng Anh): Mô hình biểu thức tính từ; Mô hình biểu thức danh từ; Mô hình biểu thức động từ. (3) là các cù lao ngôn ngữ nhúng bao gồm: Các thành ngữ và các biểu thức mang tính đặc ngữ; Các biểu thức chỉ cách thức hoặc thời gian; Các biểu thức chỉ số lượng.

2.4. Một số đặc điểm khác của các thành tố ngôn ngữ nhúng

Bao gồm (1) Đặc điểm cấu trúc của các thành tố ngôn ngữ nhúng (thành tố ngôn ngữ nhúng là từ; là cụm từ hay cù lao ngôn ngữ nhúng; là các thành ngữ và các tổ hợp đặc ngữ; là phát ngôn); (2) Đặc điểm từ loại của các thành tố/ hình vị nội dung của ngôn ngữ nhúng: Nếu từ góc độ đặc điểm cấu tạo, thành phần áp đảo các mã được nhúng là từ thì trong số các từ đó, tỉ lệ các thực từ chiếm đa số. Thống kê một cách tỉ mỉ, chúng tôi thấy từ loại danh từ chiếm 70,5%; từ loại động từ chiếm 20,1%; từ loại tính từ chiếm 8.5%; các từ loại khác chỉ chiếm 0,9 %.



2.5. Tiểu kết

Thông qua khảo sát, thống kê và phân loại các mô hình chuyển mã trong giao tiếp của sinh viên chuyên ngữ, chúng tôi nhận thấy chuyển mã xảy ra liên tục từ cấp độ từ đến cấp độ phát ngôn (lượt lời). Trong đó chuyển mã ở cấp độ từ chiếm tỉ lệ vượt trội, cao gấp nhiều lần so với các loại chuyển mã khác. Đồng thời mỗi cấp độ chuyển mã cũng yêu cầu người dùng có vốn tiếng Anh khác nhau và khả năng sử dụng ngôn ngữ khác nhau.

Cũng theo vốn tư liệu tiếng Việt thu thập được, chúng tôi chưa thấy sự xuất hiện của chuyển mã nội từ (xảy ra trong giới hạn một từ) cũng như chuyển mã kéo theo thay đổi về phát âm (xảy ra ở cấp độ âm vị khi người nói phát âm một từ trong ngôn ngữ A nhưng biến đổi nó theo cấu trúc âm vị của ngôn ngữ B- nói lái đi, không giống cách phát âm chuẩn của ngôn ngữ A). Kết quả này là dễ thấy bởi lẽ đối với sinh viên chuyên ngữ đều là những người có vốn Anh ngữ khá tốt, có nhiều cơ hội giao tiếp với người bản ngữ cũng như đối tượng nghiên cứu này luôn học hỏi, trao dồi khả năng ngoại ngữ đặc biệt là hướng tới cách phát âm chuẩn. Hơn thế nữa, theo những gì mà chúng tôi thu thập được hai cấp độ chuyển mã nói trên thường xuất trên facebook hay các bài viết trong các tạp trí dành cho tuổi vị thành niên (tuổi teen) chẳng hạn như báo hoa học trò.

Về từ loại, kết quả trên đây cũng có sự tương hợp đáng kể với những kết quả nghiên cứu trước đó của Hill ở cộng đồng người Mexico [Dẫn 6] và của Gibbon ở cộng đồng Quảng Đông tại Hồng Kông [Dẫn 3]. Đặc biệt, ở Việt Nam, những nghiên cứu có liên quan ít nhiều đến vấn đề từ loại trong vay mượn cũng ủng hộ kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Nguyễn Văn Khang thì nhận định rằng từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt chủ yếu là danh từ, tiếp đến là động từ, tính từ và một số từ loại khác [Dẫn 26]. Hoàng Thị Châu khi xem xét những từ đồng nghĩa do khác nguồn gốc trong các phương ngữ Việt cũng đã khẳng định nổi bật nhất trong loại này là hiện tượng tập trung chủ yếu vào một từ loại là danh từ [Dẫn 7]. Những kết quả nghiên cứu này nếu được kiểm chứng thêm ở một vài cộng đồng nữa có thể sẽ cung cấp những bằng chứng quan trọng để kiểm chứng và bổ sung cho những lý thuyết về chuyển mã ngôn ngữ từ phương diện đặc điểm hình thức nói chung và đặc điểm từ loại nói riêng.



CHƯƠNG 3

ĐỘNG CƠ VÀ THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI HIỆN TƯỢNG CHUYỂN MÃ TIẾNG ANH TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT

3.1. Động cơ chuyển mã hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt

3.1.1. Cơ sở của nghiên cứu

Ở phần trên, chúng tôi đã áp dụng mô hình đánh dấu vào việc phân loại chuyển mã trên những tư liệu thu được (từ tư liệu khách quan). Ở phần này, chúng tôi đi tìm những động cơ dẫn đến hành vi chuyển mã từ góc độ chủ quan của những người thực hiện hành vi ấy.

Có thể nói, về bản chất thì những động cơ chuyển mã mà các nhà nghiên cứu đưa ra có sự tương ứng tương đối với những biểu hiện của chuyển mã có đánh dấu theo mô hình đánh dấu của Myers-Scotton mà chúng tôi đã phân tích. Chúng tôi cũng nhận thấy có sự tương ứng tương đối trong lưỡng phân chuyển mã có đánh dấuchuyển mã không đánh dấu trong mô hình đánh dấu của Myers-Scotton với lưỡng phân chuyển mã do vô tình chuyển mã do cố ý mà Nguyễn Văn Khang đưa ra khi nghiên cứu động cơ chuyển mã.

Trong quá trình khảo sát trên tư liệu của mình,dựa trên một vài chỉ báo, chúng tôi cũng nhận thấy hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt thường là kết quả của một số động cơ nào đó. Để kiểm tra những dự cảm này, chúng tôi đưa vào phiếu điều tra 8 động cơ chuyển mã (là sự kết hợp giữa mô hình 9 động cơ của Nguyễn Văn Khang và 10 động cơ mà Hoffman, Saville-Troike & Malik) để thăm dò ý kiến của các chủ thể chuyển mã, những sinh viên chuyên ngữ mà chúng tôi khảo sát 8 động cơ được đưa ra trong phiếu điều tra là: (1) Đề cập đến một chủ đề nhất định; (2) Do thói quen của người nói; (3) Để luyện tiếng Anh; (4) Lặp lại thông điệp để nhấn mạnh; (5) Giảm nhẹ ý thô tục; (6) Lấp đầy khoảng trống từ vựng; (7) Thể hiện tâm trạng người nói; (8) Thấy có vẻ sành điệu, phù hợp với giới trẻ



3.1.2. Cách thức thực hiện nghiên cứu

Điều tra động cơ chuyển mã được thực hiện trên 15 sinh viên là những người tham gia giao tiếp trong các hội thoại có chuyển mã mà chúng tôi thu được.

Do phiếu điều tra cho phép lựa chọn nhiều phương án nên trong số 15 sinh viên, có những người trả lời cùng lúc 2 hoặc 3 phương án, chính vì vậy, tổng tỉ lệ các thống kê không phải là 100% như đối với những câu hỏi chỉ cho phép lựa chọn một phương án duy nhất.Trong một số trường hợp, chúng tôi đã có những cuộc trò chuyện với chính những tác giả của những hội thoại có chuyển mã. Các cuộc trò chuyện thường bắt đầu bằng việc cho các CTV xem những hội thoại mà họ là người nói, sau đó, đề nghị họ trả lời xem động cơ nào trong số 8 động cơ đã dẫn họ đến hành vi chuyển mã trong tình huống hội thoại đó. Ngoài ra, để có thêm cứ liệu phân tích, chúng tôi cũng đề nghị họ cung cấp thêm thông tin về những ý định, mục đích, lý do của mình khi cần thiết.

3.1.3. Kết quả khảo sát

Bảng 3.3. Các động cơ chuyển mã


STT

Động cơ chuyển mã

Tỉ lệ

1

Đề cập đến một chủ đề nhất định

25,5%

2

Do thói quen của người nói

25%

3

Để luyện tiếng Anh

23,5%

4

Lặp lại thông điệp nhằm nhấn mạnh

19,5%

5

Giảm nhẹ ý thô tục

14,5

6

Lấp đầy khoảng trống từ vựng

11,8%

7

Thể hiện tâm trạng người nói

10,5%

8

Thấy có vẻ sành điệu, phù hợp với giới trẻ

6,6%


3.1.4. Chuyển mã không đánh dấu và chuyển mã có đánh dấu

Khung lý thuyết được sử dụng trong phần khảo sát này là mô hình đánh dấu (Markedness model) của Myers-Scotton trong nghiên cứu năm 1993. Mô hình này nhấn mạnh đến bối cảnh xã hội và thực tế cũng như định hướng của người nói song ngữ khi chuyển mã. Khái niệm lý thuyết cốt lõi trong mô hình này là khái niệm tính đánh dấu (markedness).



Tính đánh dấu ở đây được hiểu là sự khác biệt lưỡng phân liên quan đến khả năng có hay không có thuộc tính x của một cặp đối lập: có thuộc tính x – có đánh dấu (marked) và không có thuộc tính x – không đánh dấu (unmarked). Một sự lựa chọn ngôn ngữ không đánh dấu là sự sử dụng các đơn vị ngôn ngữ một cách tự nhiên, không bị chi phối bởi bất kỳ ý đồ giao tiếp nào. Ngược lại, sự lựa chọn ngôn ngữ có đánh dấu là việc sử dụng những biến thể nào đó mà ẩn chứa trong biến thể đó là những ý định, mục đích hay những động cơ của người nói và những thông điệp người nói muốn chuyển tải tới người nghe.

3.1.4..1. Chuyển mã không đánh dấu

3.1.4.2. Chuyển mã có đánh dấu

(a) Sử dụng mã đánh dấu như một chiến lược tô đậm bản sắc nhóm; (b) Sử dụng mã đánh dấu như một chiến lược duy trì sự phù hợp ngữ cảnh; (c) Sử dụng mã đánh dấu như một chiến lược khai trừ người và /hoặc nhóm thứ 3; (d) Sử dụng mã đánh dấu như một chiến lược để nhận biết tính thông dụng của ngôn ngữ; (e) Sử dụng mã đánh dấu như một chiến lược truyền tải sự biểu cảm mang đặc trưng văn hóa



3.2. Thái độ ngôn ngữ đối với hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt

3.2.1. Cơ sở lý thuyết về thái độ ngôn ngữ

3.2.1.1. Khái niệm

3.2.1.2. Phương pháp nghiên cứu thái độ ngôn ngữ

Có nhiều phương pháp khác nhau để nghiên cứu thái độ ngôn ngữ nhưng các nhà ngôn ngữ học xã hội thường sử dụng chủ yếu 3 phương pháp sau: phương pháp dung bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp và quan sát.



3.2.1.3. Kỹ thuật xử lý tư liệu

(1) Kỹ thuật lốt ngôn ngữ (The matched-guise technique); (2) Kỹ thuật sử dụng phép đo đạc ngữ nghĩa (the measurement of meaning) thông qua việc dùng một thang vi phân ngữ nghĩa (Semantic differential scales)

3.2.2 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

3.2.2.1. Tư liệu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 200 bảng hỏi đối với CTV chuyên ngữ (sinh viên năm cuối khoa Ngôn ngữ Anh- Đại học Hà Nội) và 250 bảng hỏi dành cho CTV không chuyên ngữ (sinh viên năm cuối của Học viện Ngân Hàng) được thiết kế sẵn nhằm tìm hiểu thái độ của CTV đối với việc chuyển mã, vừa với tư cách chủ thể chuyển mã, vừa với tư cách đối tượng tiếp nhận hiện tượng chuyển mã. Nguồn tư liệu này cũng thu thập cả những thông tin liên quan đến nhân thân của người nói với tư cách là những đặc điểm xã hội được giả định là có chi phối ở một mức độ nhất định đến động cơ chuyển mã.



3.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu

Hai phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là:(1)Phương pháp điều tra điền dã ngôn ngữ học: để thu thập tư liệu nghiên cứu; (2) Phương pháp phân tích định lượng: để thống kê tần số các câu trả lời, đồng thời để phân tích nhằm tìm ra những mối tương quan về lượng giữa các phương án trả lời cũng như tương quan giữa các phương án trả lời với những đặc trưng xã hội của người được nghiên cứu.



3.2.3. Kết quả nghiên cứu

Bảng 3.1. Các yếu tố được giả định có ảnh hưởng đến sở thích và động cơ chuyển mã

Các đặc trưng

Tần số

Tỉ lệ

Giới tính

Nam

Nữ

Tổng



107

93

200



53,5%

46,5%


100%

Gia đình có người biết t. Anh

Không có


Tổng

164

36

200



82%

18%


100%

Bắt đầu học tiếng Anh

Tiểu học

Trunghọc cơ sở

Trung học

Đại học


Tổng

150

34

6



10

200

75%

17%


3%

5%

100%



Thích/ không thích học t. Anh

Rất thích

Thích


Bình thường

Không thích



Tổng

64

78

50



8

200

32%

39%


25%

4%

100%



Kết quả học

Tốt

Khá


Trung bình

Kém


Tổng

60

96

39



5

200

30%

48%


19,5%

2,5%


100%

Tiếp xúc với người bản ngữ


Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ



Tổng

17

67

91



25

200

8,5%

33,5%


45,5%

12,5%


100%

Tần suất xem TV tiếng Anh

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ



Tổng

62

93

41



4

200

31%

46,5%


20,5%

2%

100%



Bảng 3.2: Sở thích chuyển mã trên thực tế

Các đặc trưng

Tần số

Tỉ lệ

Sở thích chuyển mã

Thích

Không thích



Tổng

119

81

200



59,5%

40,5%


100%

Tần suất chuyển mã trên thực tế

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ



Tổng

28

70

73



29

200

14%

35%


36,5%

14,5%


100%

Bảng 3.3. Các yếu tố được giả định có ảnh hưởng đến sở thích và động cơ chuyển mã

Các đặc trưng

Tần số

Tỉ lệ

Giới tính

Nam

Nữ

Tổng



98

152


250

39,4%

60,6%


100%

Gia đình có người biết t. Anh

Không có


Tổng

192

58

250



76,9%

23,1%


100%

Bắt đầu học tiếng Anh

Tiểu học

Trung học cơ sở

Trung học

Đại học


Tổng

185

50

9



6

250

74%

20%


3,6%

2,4%


100%

Thích/ không thích học t. Anh

Rất thích

Thích


Bình thường

Không thích



Tổng

48

89

95



18

250

19,2%

35,6%


38%

7,2%


100%

Kết quả học

Tốt

Khá


Trung bình

Kém


Tổng

32

107


90

21

250



12,8%

42,8%


36%

8,4%


100%

Tiếp xúc với người bản ngữ


Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ



Tổng

15

57

110



68

250

6%

22,8%


44%

27,2%


100%

Tần suất xem TV tiếng Anh

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ



Tổng

43

123


66

18

250



17,2%

49,2%


26,4%

7,2%


100%

Bảng 3.4: Sở thích chuyển mã trên thực tế

Các đặc trưng

Tần số

Tỉ lệ

Thích

Không thích



Tổng

123

127


250

49,2%

50,8%


100%

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ



Tổng

27

158


58

7

250



10,8%

63,2%


23,2%

2,8%


100%

Bảng 3.5: Giá trị trung bình của các thang đo đối với sinh viên chuyên ngữ

TT

Thang đo

Giá trị trung bình

1

Không thoải mái – thoải mái

3,23

2

Không dễ nghe – dễ nghe

3,43

3

Không hay – hay

3,18

4

Không gần gũi – gần gũi

2,90

Bảng 3.6: Giá trị trung bình của các thang đo đối với sinh viên đơn ngữ

TT

Thang đo

Giá trị trung bình

1

Không thoải mái – thoải mái

4,15

2

Không dễ nghe – dễ nghe

4,04

3

Không hay – hay

3,77

4

Không gần gũi – gần gũi

3,56

Bảng 3.7: Tương quan giữa các nhân tố được giả định là có ảnh hưởng tới tần suất chuyển mã trên thực tế của sinh viên chuyên ngữ

Các nhân tố

Tần suất chuyển mã trên thực tế

Tổng

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ

Giới

Nam

Nữ


15,9%

11,8%


27,1%

44,1%


38,3%

34,4%


18,7%

29,7%


100,0%

100,0%


P

0.47

Kết quả học tiếng Anh kém

Tốt

Khá


Trung bình
Kém

36,7

5,2


2,6

0


38,3

41,7


17,9

0


18,3

39,6


53,8

60


6,7

13,5


25,6

40


100,0%

100,0%


100%

100%


P

0,70

Sở thích học tiếng Anh

Rất thích

Thích


Bình thường

Không thích



35,9

5,1


2

0


29,7

51,3


22

0


25

30,8


60

37,5


9,4

12,8


16

62,5


100%

100,0%


100,0%

100,0%


P

1,12

Tiếp xúc với người bản ngữ

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ



41,2

20,9


7,7

0



17,6

55,2


29,7

12


35,3

19,4


41,8

64


5,9

4,5


20,9

24


100,0%

100,0%


100,0%

100,0%


P

2,38

Cảm giác hay

Hay

Bình thường

Không hay


0

10,9


0

100

58,7


10,3

0

30,4


27,6

0

0

62,1



100,0%

100,0%


100,0%

P

0.14

Bảng 3.8: Tương quan giữa các nhân tố được giả định là có ảnh hưởng

tới tần suất chuyển mã trên thực tế của sinh viên đơn ngữ

Các nhân tố

Tần suất chuyển mã trên thực tế

Tổng

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ

Giới

Nam

Nữ


9,2%

11,2%


67,3%

60,5%


20,4%

25,7%


3,1%

2,6%


100,0%

100,0%


P

0.070

Kết quả học tiếng Anh kém

Tốt

Khá


Trung bình

Kém


1

8,8


11,2

8,9



59,4

62,6


68,9

47,6


18,8

23,4


20

47,6


3,1

2,8


2,2

4,8


100,0%

100,0%


100%

100%


P

0,054

Sở thích học tiếng Anh

Rất thích

Thích


Bình thường

Không thích



12,5

14,6


4,2

16,7


70,8

61,8


66,3

33,3


16,7

20,2


26,3

44,4


0

3,4


3,2

5,6


100%

100,0%


100,0%

100,0%


P

0,013

Tiếp xúc với người bản ngữ

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Ít khi

Không bao giờ



35,7

16,4


8,1

4,3



50

70,9


64,9

58,1


14,3

12,7


24,3

32,9



0

0

2,7



5,7


100,0%

100,0%


100,0%

100,0%


P

0.002

Cảm giác hay

Hay

Bình thường

Không hay


7,1

12

5,9



71,4

70,7


35,3

21,4

17,3


50

0

0

8,8



100,0%

100,0%


100,0%

P

0.39


3.3. Tiểu kết

Các phân tích được tiến hành theo mô hình tính đánh dấu của Myers-Scotton (1993) cho thấy người song ngữ (đối tượng được nghiên cứu trong bài viết này là những sinh viên chuyên ngữ - người song ngữ không hoàn toàn) thường xuyên sử dụng chuyển mã đánh dấu và chuyển mã không đánh dấu. Có thể nhận định rằng, giới trẻ đặc biệt là các sinh viên chuyên ngữ Việt Nam rất “yêu” chuyển mã mà điển hình là chuyển mã đánh dấu bởi tiềm năng và những lợi ích về phong cách tạo ra cho người tham gia cuộc thoại.

Kết quả cho thấy một số chiến lược giao tiếp ẩn sau hành vi lựa chọn mã có đánh dấu trong chuyển mã ngôn ngữ Việt-Anh. Những kết quả thu được có thể giúp làm sáng tỏ phần nào hiện trạng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt của sinh viên chuyên ngữ cũng như các nhóm xã hội biết tiếng Anh nói riêng và của giới trẻ Việt Nam hiện nay nói chung.

Về động cơ chuyển mã, có thể thấy rằng, chuyển mã là hành vi lựa chọn ngôn ngữ của người nói vô cùng đa dạng. Phụ thuộc vào ngữ cảnh, mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp cũng như vai giao tiếp mà những động cơ chúng tôi trình bày ở trên đều hợp lý và chính đáng. Do vậy, có thể nói chuyển mã là hiện tượng vừa mang tính tích cực lại vừa tiêu cực. Tích cực vì chuyển mã là hiện tượng không thể tránh khỏi trong cộng đồng song ngữ, đa ngữ. Khi hai hay nhiều hơn hai ngôn ngữ cùng tồn tại trong cộng đồng, các thành viên trong cộng đồng đó có quyền đưa ra sự lựa chọn ngôn ngữ cho cá nhân mình. Hơn thế nữa, khi các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau, chúng sẽ bổ sung, lấp đầy những khoảng trống từ vựng còn tồn tại ở một trong hai ngôn ngữ. Xét về mặt cấu trúc ngôn ngữ thì chuyển mã có phần tiêu cực ở chỗ hiện tượng này là một phần nguyên nhân khiến tiếng Việt bị mất đi sự trong sáng vốn có của nó, đặc biệt là đối với giới trẻ như những sinh viên chuyên ngữ- là đối tượng của chúng tôi trong nghiên cứu này. Sự thay thế, loại bỏ những từ tiếng Việt đã có sẵn bằng các mã tiếng Anh có nghĩa tương đương ngày càng được giới trẻ ưa dùng bới tính cập nhật, sự ngắn gọn và tiện ích mà chúng mang lại. Vấn đề cần quan tâm ở đây, theo chúng tôi đó là ý thức của người nói làm sao cân bằng được mức độ và giới hạn của chuyển mã để khi giao tiếp họ vừa gìn giữ, bảo tồn được tiếng mẹ đẻ lại vừa học tập những cái mới, cái hay của ngôn ngữ toàn cầu như tiếng Anh.



KẾT LUẬN

(1) Luận án của chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt (nghiên cứu trường hợp sinh viên các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn Hà Nội). Có thể nói về mặt định hướng nghiên cứu, sự lựa chọn này là phù hợp với trào lưu nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội hiện đại – đi sâu nghiên cứu những biểu hiện đa dạng của lời nói, của ngôn ngữ tự nhiên trong giao tiếp. Theo hướng tiếp cận Ngôn ngữ học xã hội, luận án đã áp dụng một số quan điểm lý thuyết, và đặc biệt là các phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành này để khảo sát và tìm ra những quy luật của hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt thuộc các bình diện ngữ pháp, ngữ dụng và thái độ ngôn ngữ. Những kết quả nghiên cứu thu được cũng cho thấy một số mô hình lý thuyết vốn chỉ thích dụng trong các cộng đồng ngôn ngữ phương Tây cũng có thể ứng dụng một cách khả quan trên ngữ liệu tiếng Việt. Xét về phương diện lý thuyết, những kết quả ấy đã giúp chứng minh tính cơ động, hiệu quả của cách tiếp cận và những mô hình lý thuyết mà luận án đã áp dụng.

(2) Trong quá trình triển khai nghiên cứu, chúng tôi đã lựa chọn khách thể nghiên cứu mà theo chúng tôi là những người song ngữ không hoàn toàn điển hình - các sinh viên chuyên ngữ của hai trong số những trường đại học hàng đầu ở Việt Nam về đào tạo ngoại ngữ đó là Đại học Hà Nội và Đại học Ngoại Thương. Sự lựa chọn này xuất phát từ quan điểm cho rằng hành vi chuyển mã là hành vi chỉ xuất hiện ở những người song/đa ngữ, những người có khả năng sử dụng ít nhất hai ngôn ngữ trong một số hay hầu hết các phạm vi giao tiếp của họ. Trong số đó, có những người song ngữ hoàn toàn – những người có năng lực ngôn ngữ như nhau đối với cả hai hay nhiều ngôn ngữ và có những người song ngữ không hoàn toàn - những người có năng lực ngôn ngữ không hoàn toàn như nhau đối với các ngôn ngữ mà họ làm chủ, trong đó có ngôn ngữ ưu thế (ngôn ngữ có thể sử dụng hoàn toàn, thành thạo trong mọi phạm vi giao tiếp, thường là tiếng mẹ đẻ) và một hay một số ngôn ngữ kém ưu thế hơn (ngôn ngữ có thể sử dụng được hoàn toàn trong một số phạm vi giao tiếp nhất định, thường là ngoại ngữ). Những khách thể nghiên cứu của chúng tôi thuộc đối tượng thứ hai này – những người song ngữ không hoàn toàn.

(3) Dựa trên nội dung Lý thuyết ngôn ngữ ma trận mà cụ thể là bốn thành tố của Mô hình khung ngôn ngữ ma trận (giả thuyết ngôn ngữ ma trận; giả thuyết hãm; giả thuyết khởi tạo cù lao ngôn ngữ nhúng và giả thuyết tôn ti hàm ý của cù lao ngôn ngữ nhúng), chúng tôi nhận diện được sự tương tác giữa ngôn ngữ ma trận và ngôn ngữ nhúng đồng thời tiến hành khảo sát tư liệu một cách tổng quát xét theo thành phần ngôn ngữ được sử dụng để tạo lập các phát ngôn, kết hợp sử dụng một số phương pháp phân tích ngôn ngữ học như phân tích thành tố, phân tích cú pháp, chúng tôi đã phân tích, tổng hợp và xác lập được một số mô hình kết hợp giữa ngôn ngữ ma trận (tiếng Việt) với ngôn ngữ nhúng (tiếng Anh). Qua đó, luận án cũng đã tìm ra một vài quy luật của hiện tượng chuyển mã ngôn ngữ này như đặc điểm kết hợp và sự ảnh hưởng lẫn nhau về cấu trúc ngữ pháp (bao gồm cả cấp độ từ pháp và cú pháp) giữa tiếng Việt (ngôn ngữ ma trận) và tiếng Anh (ngôn ngữ nhúng), đặc điểm cấu tạo và từ loại của các mã ngôn ngữ nhúng... Thông qua khảo sát, thống kê và phân loại các mô hình chuyển mã trong giao tiếp của sinh viên chuyên ngữ, chúng tôi nhận thấy chuyển mã xảy ra liên tục từ cấp độ từ đến cấp độ phát ngôn (lượt lời). Trong đó chuyển mã ở cấp độ từ chiếm tỉ lệ vượt trội, cao gấp nhiều lần so với các cấp độ khác. Đồng thời mỗi cấp độ chuyển mã cũng cho thấy người dùng có vốn tiếng Anh khác nhau và khả năng làm chủ ngôn ngữ này khác nhau. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, không có sự xuất hiện của chuyển mã nội từ (xảy ra trong giới hạn một từ), thực tế này có lẽ là do đặc điểm đơn lập không biến hình của từ tiếng Việt, thứ ngôn ngữ có khả năng chi phối các mô hình biến đổi của mã tiếng Anh khi được “nhúng” vào ngôn ngữ ma trận này. Những kết quả nghiên cứu này nếu được kiểm chứng thêm ở một vài cộng đồng ngôn ngữ nữa có thể sẽ cung cấp những cứ liệu quan trọng để kiểm chứng và bổ sung cho những lý thuyết về chuyển mã ngôn ngữ từ phương diện đặc điểm hình thức nói chung và đặc điểm ngữ pháp nói riêng.

(4) Ở bình diện ngữ dụng, việc khảo sát được tiến hành trên cơ sở ứng dụng mô hình đánh dấu của Myers-Scotton (1993). Kết quả cho thấy giới trẻ đặc biệt là các sinh viên chuyên ngữ Việt Nam rất “hứng thú” với hành vi chuyển mã, trong đó, chuyển mã đánh dấu là hành vi phổ biến hơn bởi tiềm năng và những lợi ích về phong cách tạo ra cho người tham gia giao tiếp. Ẩn sau hành vi lựa chọn mã có đánh dấu là một số chiến lược ngôn ngữ nhằm đạt được mục đích giao tiếp của người nói. Những kết quả thu được có thể giúp làm sáng tỏ phần nào hiện trạng sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt của sinh viên chuyên ngữ cũng như các nhóm xã hội biết tiếng Anh nói riêng và của giới trẻ Việt Nam hiện nay nói chung. Đó là những kết quả tìm được trên cơ sở phân tích tư liệu một cách khách quan theo một mô hình lý thuyết có sẵn.

Động cơ chuyển mã, một cách gọi khác của chuyển mã có đánh dấu nhưng được khảo sát từ góc nhìn chủ quan của người nói thông qua một cuộc khảo sát trường hợp bằng bảng hỏi cho thấy hành vi lựa chọn ngôn ngữ của người nói là vô cùng đa dạng. Với các khách thể điều tra là chính những chủ thể giao tiếp trong các hội thoại có chuyển mã đã thu được, những động cơ chuyển mã được họ thể hiện khá thoải mái, tự nhiên, không cần che giấu. Điều này có hiệu ứng tích cực của nó, vì chuyển mã là hiện tượng thường thấy trong các cộng đồng song ngữ, đa ngữ. Khi hai hay nhiều hơn hai ngôn ngữ cùng tồn tại trong cộng đồng, các thành viên trong cộng đồng đó có quyền đưa ra sự lựa chọn ngôn ngữ cho cá nhân mình. Hơn thế nữa, khi các ngôn ngữ tiếp xúc với nhau, chúng sẽ bổ sung, lấp đầy những khoảng trống từ vựng còn tồn tại ở một trong hai ngôn ngữ. Xét từ khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá thì chuyển mã có phần tiêu cực ở chỗ hiện tượng này là một phần nguyên nhân khiến tiếng Việt bị mất đi sự trong sáng vốn có của nó, đặc biệt là đối với giới trẻ như những sinh viên chuyên ngữ- là đối tượng của chúng tôi trong nghiên cứu này. Sự thay thế, loại bỏ những từ tiếng Việt đã có sẵn bằng các mã tiếng Anh có nghĩa tương đương ngày càng được giới trẻ ưa dùng bới tính cập nhật, sự ngắn gọn và tiện ích mà chúng mang lại. Vấn đề cần quan tâm ở đây, theo chúng tôi đó là ý thức của người nói làm sao cân bằng được mức độ và giới hạn của chuyển mã để khi giao tiếp họ vừa gìn giữ, bảo tồn được tiếng mẹ đẻ lại vừa học tập những cái mới, cái hay của ngôn ngữ toàn cầu như tiếng Anh.

(5) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiện tượng này chịu ảnh hưởng khá nhiều của môi trường giao tiếp, giới tính năng lực, sở thích, cơ hội thực hành ngoại ngữ của người nói. Chúng tôi không có ý định bàn đến bản chất của hiện tượng, nó là tốt hay là xấu, tích cực hay không tích cực, nó có thể gây nên những hiệu ứng xã hội nào. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng chưa có đủ thời gian để tìm hiểu xem những định giá chung của cộng đồng, cả phạm vi những người biết tiếng Anh và không biết tiếng Anh, về hiện tượng này như thế nào. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những tác động tích cực không thể chối cãi của hiện tượng này đối với sự ham thích và động cơ học tiếng Anh của giới trẻ. Đặc biệt là khi thái độ của cộng đồng tiếp nhận (chỉ phạm vi những người biết tiếng Anh) là tích cực thì nó sẽ có tác dụng kích thích và chủ động hóa việc học tiếng Anh của giới trẻ. Điều này thực sự cần phải được nhìn nhận là một tác động tốt đối với việc nâng cao tri thức, quốc tế hóa và hội nhập của giới trẻ Việt Nam hiện nay.

(6) Đây chỉ là đề tài nghiên cứu bước đầu về hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt với đối tượng là sinh viên chuyên ngữ (người song ngữ không hoàn toàn trong cộng đồng người Việt). Với tốc độ toàn cầu hóa như hiện nay, cùng với nhu cầu cấp thiết của việc học tiếng Anh phổ cập toàn xã hội, chắc chắn trong tương lai phạm vi và đối tượng nghiên cứu sẽ được mở rộng, khai phá chẳng hạn có thể khảo sát hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt của đối tượng học sinh chuyên ngữ tại các trường THPT hay với đối tượng và nhân viên công sở đang làm việc cho các công ty, tập đoàn lớn có vốn đầu tư của các đối tác nước ngoài…chắc chắn sẽ thu được những kết quả nghiên cứu có ý nghĩa, từ đó càng làm cho cơ sở lý luận cũng như hướng nghiên cứu về hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt mà chúng tôi thực hiện trong chuyên luận này càng có ý nghĩa hơn.

(7) Với hướng tiếp cận nghiên cứu và việc áp dụng những lý thuyết ngôn ngữ còn khá mới mẻ ở Việt Nam, những kết quả nghiên cứu mà chúng tôi tìm được vẫn còn rất khiêm tốn và chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Chúng tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu để chúng tôi có thể hoàn thiện hơn về mặt lý luận trong những nghiên cứu trong tương lai. Về phần mình chúng tôi vẫn hy vọng những kết quả nghiên cứu trong luận án này sẽ là gợi ý cho những ai quan tâm đến hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt.

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA

TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Trịnh Cẩm Lan, Nguyễn Thị Huyền (2013), "Hiện tượng trộn mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt và thái độ ngôn ngữ của sinh viên", Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư (3), tr.35-41.



2. Nguyễn Thị Huyền (2016), “Hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ Ma trận”, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống (9), tr45–53.

3. Nguyễn Thị Huyền (2016), “Chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt – Một cách nhìn từ bình diện dụng học”, Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ (48), tr29-41.
Каталог: userfile -> User -> songtran -> files
files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn nguyễn Phương Khánh CÁi huyềN Ảo trong tiểu thuyết toni morrison
files -> Từ truyền thống đẾn hiệN ĐẠi chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số: 62 22 01 20
files -> Của nó TỪ 1991 ĐẾn nay chuyên ngành: Chính trị học Mã số: 62310201 TÓm tắt luậN Án tiến sĩ chính trị HỌC
files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văN
files -> Nguyễn thị kim bình tổ chức và quản lý CÔng tác lưu trữ
files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văN
files -> Nguyễn khắc sâm tư TƯỞng của phan bội châu về TÔn giáO, TÍn ngưỠNG
files -> Ts. LƯU minh văn pgs. Ts. Phạm thái việT
files -> Phạm hoàng hưng vấN ĐỀ thừa kế TÀi sản trong ngự thành bại thức mụC
files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn nguyễn Thị Năm Hoàng truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ GÓC ĐỘ thể loạI

tải về 195 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương