®¹i häc quèc gia hµ néi


Chương 4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động



tải về 307.04 Kb.
trang6/6
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích307.04 Kb.
1   2   3   4   5   6

Chương 4

Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động

khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk hiện nay

4.1 Ảnh hưởng của những đặc điểm nhân khẩu xã hội tới hoạt động khám chữa bệnh của người dân

4.1.1 Điều kiện kinh tế


Khi xem xét tương quan giữa điều kiện kinh tế và hoạt động khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk, chúng tôi nhận thấy ảnh hưởng rõ nhất của điều kiện kinh tế tới khả năng chi trả y tế của nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo. Khả năng đối phó với những biến cố về sức khỏe của người nghèo rất cần sự hỗ trợ cụ thể hơn nữa từ phía nhà nước và chính quyền địa phương. Công bằng dọc trong việc tiếp cận dịch vụ y tế giữa các nhóm dân cư đang là một thách thức lớn. Do vậy cần có sự điều tiết phúc lợi y tế cho người nghèo thông qua các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để đối phó với thách thức này ở Đắk Lắk.

4.1.2 Trình độ học vấn


Trình độ học vấn thấp là một trong những rào cản trong việc người dân tiếp nhận, chọn lọc các kiến thức về sức khỏe và bệnh tật, các chủ trương, chính sách để nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ y tế của bản thân, từ đó cũng hạn chế hành động khám chữa bệnh của họ. Đồng thời những người dân trong nhóm có trình độ học vấn thấp cũng thường thuộc nhóm nghèo, khi bệnh tật thì cả gia đình rơi vào vòng luẩn quẩn nghèo đói, bệnh tật, thất học. Điều này càng khắc sâu bất bình đẳng trong khám chữa bệnh của các nhóm dân cư khác nhau.

4.1.3 Độ tuổi


Xét theo tương quan độ tuổi và hoạt động khám chữa bệnh của người dân, người cao tuổi có nhu cầu khám chữa bệnh nhiều hơn và có mô hình bệnh tật đặc thù nhưng việc khám chữa bệnh của người cao tuổi ở Đắk Lắk còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở các huyện, xã vùng sâu. Có tới 67,2% số người trên 65 tuổi được hỏi vẫn cho rằng chỉ khi nào có bệnh mới xuất hiện nhu cầu chăm sóc sức khỏe, điều này đòi hỏi chủ trương của Đắk Lắk phải hướng tới đảm bảo các cơ sở y tế phải chủ động có kế hoạch tổ chức khám sức khỏe định kỳ nhằm phát hiện bệnh cho người cao tuổi.

4.2 Ảnh hưởng của các chính sách y tế tới hoạt động khám chữa bệnh của người dân

4.2.1 Các chính sách liên quan đến cơ sở khám chữa bệnh, nhân lực y tế


Nhờ các chính sách liên quan đến cơ sở khám chữa bệnh, nhân lực y tế, tuy điều kiện vật chất ở cơ sở khám chữa bệnh được cải thiện, người dân bắt đầu đến khám chữa bệnh tại khu vực chuyên môn đông hơn, thay vì tự chữa trị và tìm đến các ông lang, bà mụ vườn, thầy mo, thầy cúng thì lại gặp trở ngại từ phía nhân lực y tế không đủ và không đảm bảo, điều này không những ảnh hưởng tới việc tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh, từ đó cũng ảnh hưởng tới nhận thức, thái độ và hành động khám chữa bệnh của người dân.

4.2.2 Các chính sách khám chữa bệnh


Về ảnh hưởng của chính sách khám chữa bệnh nói chung và khám chữa bệnh cho nhóm người nghèo, người dân tộc thiểu số, Đắk Lắk tập trung nỗ lực đảm bảo cho người dân, đặc biệt người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các nhóm người dễ bị tổn thương được tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh. Trong đó, ba nhóm đối tượng được chú ý là trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, điều tiết công bằng dọc trong y tế bằng phúc lợi xã hội tại Đắk Lắk đối với các nhóm xã hội yếu thế còn nhiều hạn chế. Từ đó khiến bất bình đẳng trong khám chữa bệnh vẫn tồn tại cản trở quá trình phát triển y tế đặt trong phát triển xã hội ở Đắk Lắk.

4.2.3 Chính sách bảo hiểm y tế


Về các chính sách liên quan đến BHYT, Đắk Lắk thực hiện phát triển BHYT theo hướng tăng cường phủ sóng BHYT trên toàn tỉnh đồng thời chú trọng một số nhóm đối tượng được miễn phí như người nghèo, người dân tộc thiểu số và nhóm được hỗ trợ như nhóm cận nghèo, học sinh, sinh viên giúp thu hẹp khoảng cách trong phân bổ lợi ích về y tế trong xã hội. Mặc dù phân bổ phúc lợi y tế, bao cấp khám chữa bệnh cho người nghèo thông qua chính sách BHYT, nhìn từ góc độ của nhiều nhà kinh tế học, giống như việc lội ngược dòng con nước lớn cơ chế thị trường buộc xã hội hóa y tế và gia tăng chi phí y tế, cơ chế thị trường lại không phải là môi trường lý tưởng để duy trì sự công bằng trong y tế, tuy vậy, chính sách BHYT tại Đắk Lắk vẫn là công cụ điều tiết phúc lợi mở ra cơ hội và lối thoát cho người dân trong khám chữa bệnh. Chính sách BHYT không những góp phần tạo ra cơ hội khám chữa bệnh cho cá nhân xét ở cấp vi mô, mà còn giảm nhẹ bất bình đẳng trong y tế xét ở cấp vĩ mô.

4.3 Ảnh hưởng của một số yếu tố khác đối với hoạt động khám chữa bệnh của người dân

4.3.1 Ảnh hưởng của một số thói quen sinh hoạt đến hoạt động khám chữa bệnh của người dân


Một trong những thói quen sinh hoạt có ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật của người dân tộc thiểu số là thói quen uống nước lã và không sử dụng nhà tiêu.

Một trong những ảnh hưởng rõ nét nhất của thói quen sinh hoạt, phong tục tập quán của người dân tộc thể hiện ở những tập tục sinh nở. Hoạt động khám chữa bệnh của bà mẹ và trẻ em vùng sâu ở Đắk Lắk cũng bị hạn chế bởi các hủ tục và tính khép kín của người dân tộc thiểu số.

Do đặc điểm văn hóa lâu đời của người bản địa ở Đắk Lắk, y học hiện đại và y học dân tộc ở Đắk Lắk tồn tại và phát triển song song trong sự quản lý của nhà nước nhưng còn một bộ phận y học lạc hậu, mê tín được số ít người dân chấp nhận và vẫn có ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức, thái độ và hành động khám chữa bệnh của người dân.

4.3.2 Ảnh hưởng của khoảng cách địa lý đến hoạt động khám chữa bệnh của người dân


Tại Đắk Lắk, dân số tỉnh phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana. Các huyện có mật độ dân số thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, Ea Hleo v.v… Các dân tộc thiểu số sinh sống ở 125/184 xã trên địa bàn tỉnh, nhưng phần lớn tập trung ở các xã vùng cao, vùng xa. Ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông khác dân di cư từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp. Tại các khu vực mật độ dân số thấp, đi lại khó khăn, heo hút, người dân tộc thiểu số khó tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh.

Khoảng cách giữa nơi ở và cơ sở khám chữa bệnh xa cũng là rào cản lớn đối với việc tiếp cận dịch vụ y tế của người dân tộc thiểu số, nhất là đối với các cơ sở y tế tuyến trên.



Trong nhiều trường hợp cấp bách, như chuyển dạ, sinh nở, người phụ nữ không có lựa chọn nào khác ngoài sinh nở tại nhà với cô đỡ thôn bản, hoặc trong trường hợp bệnh cần hỗ trợ, họ tìm y tá thôn bản. Nhưng cũng có nhiều người dân chấp nhận bệnh không chữa trị, hoặc chữa trị theo thầy mo, thầy cúng… Điều này cho thấy khoảng cách địa lý quá xa từ nơi ở đến cơ sở khám chữa bệnh là một rào cản đối với cơ hội ra quyết định của người dân, hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh.

4.3.3 Ảnh hưởng của bất đồng ngôn ngữ đến hoạt động khám chữa bệnh của người dân


Rào cản ngôn ngữ cũng góp phần hạn chế sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành động khám chữa bệnh của người dân tộc thiểu số, thể hiện ở việc họ không tiếp cận được các hướng dẫn về bệnh tật và khám chữa bệnh, không nắm được những nội dung tuyên truyền về phòng bệnh, giữ sức khỏe.

4.3.4 Ảnh hưởng của truyền thông y tế đến hoạt động khám chữa bệnh của người dân


Một trong những thách thức lớn nhất trong truyền thông y tế về hoạt động khám chữa bệnh ở Đắk Lắk là làm sao thông tin tới được tới đồng bào vùng sâu, vùng xa, nhất là khi trình độ văn hoá và nhận thức của người dân địa phương còn hạn chế? Trên thực tế, công tác tuyên truyền vẫn được thực hiện thường xuyên nhưng còn nhiều bất cập. Đồng bào dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk thường cư trú ở những địa bàn giao thông kém phát triển lại mang tính khép kín, do đó ngoài sự phối hợp tuyên truyền của chính quyền, đoàn thể thì vai trò của các cộng tác viên dân số, nhân viên y tế thôn bản, các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng rất quan trọng. Chính họ mới là những người gần dân nhất, hiểu được các phong tục tập quán, sinh hoạt của đồng bào để vận dụng các hình thức tuyên truyền hiệu quả nhất.

Kết luận VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận


Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, cùng với những điển cứu liên quan đến các cá nhân cụ thể, các số liệu thống kê, các quan sát được ghi lại để hướng đến việc phân tích hoạt động khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk như một quá trình từ nhận thức, thái độ và hành động của người dân với tư cách là chủ thể ra quyết định lựa chọn cách thức, nơi chốn thực hiện việc khám chữa bệnh. Toàn bộ hoạt động khám chữa bệnh của người dân chịu ảnh hưởng của các yếu tố về phía người dân cũng như về phía chính quyền địa phương như: nhóm yếu tố nhân khẩu học, nhóm yếu tố chính sách y tế, ngoài ra là một số yếu tố khác. Ban đầu, luận án đã đưa ra một số giả thuyết. Việc đưa ra các kết luận sau sẽ lần lượt chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết đã đưa ra:

Thứ nhất, trong công tác y tế ở Đắk Lắk hiện nay, tỉnh chú trọng chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho người dân, chất lượng khám, chữa bệnh từng bước được nâng cao lồng ghép Đông y và Tây y tại cơ sở khám, chữa bệnh. Đắk Lắk cũng chú ý công tác khám chữa bệnh BHYT, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, đối tượng chính sách. Các cơ sở khám chữa bệnh và đội ngũ nhân lực y tế ở Đắk Lắk cũng gia tăng về số lượng và chất lượng tuy nhiên vẫn tồn tại sự chênh lệch về số lượng, chất lượng và sự phân bố cán bộ y tế giữa khu vực trung tâm và các huyện nghèo, vùng sâu, vùng xa. Cán bộ y tế ở tuyến xã và huyện vẫn còn thiếu. Về tình hình bệnh tật và dịch bệnh ở Đắk Lắk, đây là khu vực có nhiều dịch bệnh, mặc dù các bệnh truyền nhiễm có giảm theo năm tỷ lệ tăng giảm không ổn định. Số người có bệnh và cần được khám chữa bệnh gia tăng, một số bệnh tật là kết quả của cuộc sống hiện đại dần phổ biến như: bệnh tim mạch, huyết áp, ung thư, lao, tiểu đường, các bệnh về tổn thương sức khỏe tâm thần…

Thứ hai, về nhận thức của người dân Đắk Lắk về sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh, mặc dù người dân có những hiểu biết cơ bản về sức khỏe và bệnh tật song nhận thức của họ về vấn đề này chưa đầy đủ, nhất là ý thức phòng bệnh truyền nhiễm. Sự chênh lệch về nhận thức giữa nam và nữ không đáng kể nhưng có sự khác biệt giữa nhóm dân tộc Kinh và nhóm dân tộc thiểu số. Kiểu nhận thức khá phổ biến ở người dân là ốm đau có thể tự xử trí, tự mua thuốc chữa trị. Một số người dân tộc thiểu số tin tưởng vào khu vực chữa bệnh dân gian với nghi lễ cúng bái để chữa bệnh của thầy mo, thầy cúng.

Thứ ba, về nhu cầu sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh, đa số người dân khi nào có bệnh mới nghĩ đến sức khỏe. Không có sự chênh lệch về nhu cầu sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh ở nhóm nam và nữ nhưng trong so sánh nhóm dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số thì nhóm dân tộc thiểu số ít quan tâm đến sức khỏe hơn. Khi có bệnh, người dân trước tiên mong muốn tự chữa trị và được hỗ trợ khám chữa bệnh ở khu vực phổ thông, khi triệu chứng nặng mới đến cơ sở y tế. Một số người dân tộc thiểu số vẫn tin tưởng và mong muốn tìm kiếm hỗ trợ ở khu vực dân gian.

Thứ tư, về hành động khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk, có ba nội dung đáng chú ý. Đầu tiên là hành động khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk diễn ra trong sự chồng chéo giữa ba khu vực phổ thông, chuyên môn và dân gian với lựa chọn khu vực phổ thông khi bắt đầu có bệnh là phổ biến nhất, sự khác biệt giữa nhóm dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số là một số người dân tộc thiểu số với kiểu hành động truyền thống trong nhiều trường hợp lựa chọn khu vực dân gian để khám chữa bệnh. Khi gặp điều kiện, hoàn cảnh xã hội thay đổi và tình trạng sức khỏe, bệnh tật cụ thể, chủ thể hành động linh hoạt đưa ra những lựa chọn thực tế với bản thân, họ sẽ nhanh chóng thay đổi khu vực khám chữa bệnh (phổ thông, chuyên môn hay dân gian) cũng như kiểu hành động của mình (hành động hợp lý về mặt mục đích, hợp lý về mặt giá trị, truyền thống hay tình cảm). Tiếp theo, khi bệnh tật nặng lên, lựa chọn duy lý cuối cùng của người dân vẫn phải là tiếp cận khu vực chuyên môn với các chuyên gia y tế. Lúc này, người dân hành động trên cơ sở suy tính, cân nhắc lựa chọn các nguồn lực vật chất và tinh thần để kết quả khám chữa bệnh đạt được hiệu quả tối đa nhưng trong nhiều trường hợp, sự lựa chọn đó bị giới hạn bởi khả năng nhận thức và sử dụng nguồn lực của bản thân chủ thể nên người dân phải chấp nhận lựa chọn không phải tốt nhất mà phù hợp nhất trong khám chữa bệnh. Khi đã chọn thực hiện hành động khám chữa bệnh tại khu vực chuyên môn, người dân phải từ bỏ sự chủ động, trao quyền quyết định cho các chuyên gia y tế trong khám chữa bệnh và chấp nhận nguyên tắc “trao đổi ngang giá”. Sự chênh lệch giữa nhóm người Kinh và nhóm dân tộc thiểu số nghèo ở Đắk Lắk là cơ hội lựa chọn của nhóm dân tộc thiểu số để đạt được kết quả sức khỏe cuối cùng tốt nhất khó khăn hơn. Từ đó, nội dung thứ ba trong phần nghiên cứu về hành động khám chữa bệnh của người dân chúng tôi tìm hiểu việc sử dụng BHYT của họ để có cơ hội thụ hưởng phúc lợi y tế. Ở Đắk Lắk, chính sách BHYT hướng đến những đối tượng nghèo, dân tộc thiểu số đã có hiệu quả khi Nhà nước chú ý tới vấn đề công bằng dọc trong thụ hưởng phúc lợi y tế. Độ phủ sóng BHYT ở Đắk Lắk khá cao, các nhóm tham gia BHYT như người nghèo, người dân tộc và các đối tượng khó khăn được nhà nước bao cấp cho thấy thông qua chính sách BHYT, chủ trương của nhà nước điều tiết bất bình đẳng trong khám chữa bệnh giữa nhóm nghèo, dân tộc thiểu số với các nhóm xã hội khác đã được thực hiện và có hiệu quả ở Đắk Lắk. Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như thời gian khám chữa bệnh bằng BHYT kéo dài, thủ tục phức tạp… ảnh hưởng đến người dân.

Thứ năm, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk gồm các đặc điểm nhân khẩu xã hội, các chính sách y tế và một số nhân tố khác như thói quen sinh hoạt, khoảng cách từ nơi ở đến nơi khám chữa bệnh, rào cản ngôn ngữ, truyền thông y tế. Về ảnh hưởng của các đặc điểm nhân khẩu xã hội như điều kiện kinh tế, trình độ học vấn và độ tuổi: mặc dù được nhà nước hỗ trợ phúc lợi y tế thông qua BHYT, nhưng chi phí về dịch vụ y tế luôn là gánh nặng đối với nhóm nghèo và cận nghèo ở Đắk Lắk so với nhóm trung bình và khá giả. Trình độ học vấn thấp cũng là một trong những rào cản trong việc người dân tiếp nhận, chọn lọc các kiến thức về sức khỏe và bệnh tật, các chủ trương, chính sách để nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ y tế của bản thân, từ đó cũng hạn chế hành động khám chữa bệnh của họ. Độ tuổi có ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk, trong đó, người cao tuổi có nhu cầu khám chữa bệnh nhiều hơn nhưng việc khám chữa bệnh của người cao tuổi ở Đắk Lắk còn nhiều hạn chế. Về ảnh hưởng của các chính sách y tế ở Đắk Lắk với ba nhóm gồm các chính sách liên quan cơ sở vật chất và nguồn nhân lực, chính sách khám chữa bệnh và chính sách BHYT, cho thấy, Đắk Lắk rất quan tâm đến hoạt động khám chữa bệnh của người dân, ảnh hưởng của các chính sách tạo điều kiện để người dân, đặc biệt là các nhóm người nghèo, người dân tộc thiểu số đã có cơ hội thụ hưởng phúc lợi y tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại như nguồn nhân lực y tế thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, nhóm nghèo và cận nghèo mặc dù đã được hỗ trợ nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong cơ hội tiếp cận cơ sở khám chữa bệnh. Tuy vậy, chính sách BHYT tại Đắk Lắk vẫn là công cụ điều tiết phúc lợi mở ra cơ hội và lối thoát cho người dân trong khám chữa bệnh. Cuối cùng, nhóm các yếu tố ảnh hưởng khác tới hoạt động khám chữa bệnh của người dân như: như thói quen sinh hoạt, khoảng cách từ nơi ở đến nơi khám chữa bệnh, rào cản ngôn ngữ, truyền thông y tế… vì Đắk Lắk là khu vực nhiều dân tộc cùng chung sống, diện tích đất rộng, mật độ dân cư không đồng đều, một số nhóm dân tộc thiểu số sống biệt lập, khép kín, giữ các thói quen lạc hậu… nên tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đến khám chữa bệnh. Đây là thách thức đối với y tế Đắk Lắk hiện nay.

2. Khuyến nghị


Từ trước đến nay, có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động khám chữa bệnh của người dân. Tại Đắk Lắk, cũng có nhiều nhà nghiên cứu xem xét công tác y tế, tình hình bệnh tật của người dân khu vực này từ góc nhìn y học, y tế công cộng. Tuy nhiên, nghiên cứu hoạt động khám chữa bệnh của người dân từ góc độ xã hội học y tế, đặt người dân vào vai chủ thể trong quá trình đi từ nhận thức, nhu cầu đến hành động với các quyết định lựa chọn về khu vực khám chữa bệnh, cách thức khám chữa bệnh, sử dụng BHYT trong khám chữa bệnh…, nghiên cứu của chúng tôi đã tiếp cận nghiên cứu hoạt động khám chữa bệnh của người dân từ một góc nhìn mới. Trong cách thức tiếp cận này, chúng tôi nhấn mạnh tính chủ động và vị trí trung tâm của người dân trong khám chữa bệnh thay vì đặt trọng tâm vào các động thái của nhân viên y tế. Bởi như nhà dân tộc học người Pháp Jacques Dournes từng có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng về Tây Nguyên đã nói: “Nếu phải hiểu để có thể mà yêu thì lại phải yêu để có thể mà hiểu”, để khắc phục được những tồn tại, đạt được những kỳ vọng xa hơn về sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk, các nhà lãnh đạo và quản lý phải hiểu được hoàn cảnh, điều kiện, các động cơ, yếu tố ảnh hưởng, quá trình diễn biến nhận thức, thái độ và hành động của người dân trong hoạt động khám chữa bệnh. Từ kết quả nghiên cứu này, chúng tôi có một số khuyến nghị nhằm hỗ trợ người dân trong hoạt động khám chữa bệnh như sau:

Trước hết, một trong hạn chế ban đầu của người dân Đắk Lắk nói chung là tâm lý ngại tiếp cận cơ sở y tế, thường tự chữa trị, mua thuốc khi có bệnh. Để thay đổi thói quen này của người dân, các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị y tế cần:

Tiếp tục phát triển đồng bộ hệ thống mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở, tăng cường khả năng của các tuyến y tế cơ sở trong khám chữa bệnh cho người dân, giảm tải các bệnh viện tuyến trên.

Khắc phục hạn chế về đội ngũ nhân viên y tế như thiếu nhân lực ở các tuyến y tế cơ sở, thiếu nhân lực có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.

Có biện pháp tuyên truyền, giáo dục về chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho người dân, đặc biệt chú ý đến cách thức tuyên truyền, giáo dục đặc thù đối với nhóm người nghèo, người dân tộc thiểu số sống tại các khu vực vùng sâu, vùng xa sao cho hiệu quả.

Hỗ trợ người dân về khả năng tiếp cận các cơ sở y tế, nâng cao vai trò của BHYT trong khám chữa bệnh của người dân, đặc biệt với các nhóm đối tượng như hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số trên cơ sở chú ý đặc điểm riêng của các nhóm này.

Cuối cùng, chú ý đến ảnh hưởng của những yếu tố văn hóa – xã hội đến tình hình chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho người dân Đắk Lắk hiện nay để khi đưa ra các quyết định liên quan đến các nhóm dân tộc trên địa bản phải xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu, khả năng của họ.

Xã hội Việt Nam hiện nay đi theo xu hướng kinh tế thị trường, xóa bỏ hoàn toàn bao cấp. Trong y tế, chủ trương chung của Đảng và Nhà nước là xã hội hóa y tế, tăng đóng góp từ phía người dân, mở rộng hình thức y tế tư nhân để người dân có nhiều lựa chọn. Tuy nhiên, với một tỉnh nghèo, thành phần tộc người phức tạp, nhiều nhóm dân cư dân trí thấp, nghèo đói, ở các vùng sâu vùng xa, xu thế chung của chủ trương trên không thể thay đổi được song vẫn cần những công cụ chính sách để điều tiết công bằng trong y tế. Từ đó, tạo cơ hội cho mọi nhóm dân cư có quyền được hưởng phúc lợi y tế trong khám chữa bệnh để vấn đề của các nhóm nghèo, nhóm dân tộc thiểu số không trở thành vấn đề xã hội bức xúc kìm hãm sự phát triển y tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung không chỉ ở Đắk Lắk mà trên toàn lãnh thổ.



Danh mục công trình khoa học của tác giả

liên quan đến luận án


  1. Nguyễn Thị Thu Hà, Vũ Thị Minh Ngọc (2014), Quản lý phát triển xã hội trong lĩnh vực y tế ở Tây Nguyên, Tạp chí Cộng sản (94), tr.39 – 43.

  2. Nguyễn Thị Thu Hà, Vũ Thị Minh Ngọc (2015), Bảo hiểm y tế và hoạt động khám chữa bệnh của người dân Tây Nguyên hiện nay, đăng trong cuốn sách An sinh xã hội và công tác xã hội (Phạm Tất Dong – Nguyễn Thị Kim Hoa – đồng chủ biên), Đề tài KX.04-17/11-15, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr. 53-66.

  3. Vũ Thị Minh Ngọc (2015), Quản lý nhà nước trong hoạt động khám chữa bệnh ở các tỉnh khu vực Tây Nguyên, Tạp chí Quản lý nhà nước, tr.70-72.



1 Nhà nhân học Arthur Kleinman (1980) đã giới thiệu mô hình khu vực gồm khu vực chuyên môn, khu vực dân gian và khu vực phổ thông. Mỗi khu vực có cách giải thích và khám chữa bệnh theo cách khác nhau. (Hoàng Bá Thịnh, “Xã hội học Sức khỏe” – tr. 25, 26 - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2010).

2 Hoàng Bá Thịnh (2010) Xã hội học Sức khỏe. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Tr. 25, 26.

3 Hoàng Bá Thịnh (2010) Xã hội học sức khỏe. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Tr. 25

[Type text]


Каталог: userfile -> User -> songtran -> files


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương