®¹i häc quèc gia hµ néi


Nhận thức của người dân về sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh



tải về 307.04 Kb.
trang5/6
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích307.04 Kb.
1   2   3   4   5   6

3.2 Nhận thức của người dân về sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh

3.2.1 Nhận thức chung của người dân về sức khỏe, bệnh tật


Mặc dù người dân có những hiểu biết cơ bản về sức khỏe và bệnh tật song nhận thức của họ về vấn đề này chưa đầy đủ, nhất là ý thức phòng bệnh truyền nhiễm.

3.2.2 Nhận thức của người dân về khám chữa bệnh


Hạn chế trong nhận thức về khám chữa bệnh ở người dân là một nhân tố góp phần vào hậu quả thực tế là hầu hết các chỉ số sức khỏe, y tế trong vùng đều thấp hơn so với trung bình của cả nước. Người dân mặc dù lạc quan về tình trạng sức khỏe của bản thân và gia đình, nhưng hiểu biết không rõ ràng và đầy đủ về sức khỏe, bệnh tật, khám chữa bệnh. Người dân tin tưởng khu vực y học chuyên môn được nhà nước công nhận nhưng còn một bộ phận người dân tự ý chữa trị khi có bệnh hoặc vẫn tin vào cách chữa bệnh của ông lang vườn, bà mụ vườn, thầy mo, thầy cúng…

3.3 Nhu cầu của người dân về sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh

3.3.1 Nhu cầu của người dân về sức khỏe, bệnh tật


Bảng 3.9: Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân




CSSK thường xuyên

Khi nào có bệnh mới nghĩ đến

sức khỏe

Không cần CSSK

Tổng

Tần số

Tần suất

Tần số

Tần suất

Tần số

Tần suất

Nam

24

7,31

300

91,5

4

1,19

328

100,0

Nữ

23

7,47

282

91,4

3

1,13

308

100,0

Hệ số Phi = 0,305

Sig <0,001

Người dân tộc Kinh

45

9,35

433

90,0

3

0,65

481

100,0

Người dân tộc khác

2

1,3

149

96,12

4

2,58

155

100,0

Hệ số Phi = 0,353

Sig <0,001

N = 636

(Nguồn: Kết quả Khảo sát của đề tài TN3/X070, năm 2013: “Vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Tây Nguyên” – nhóm người dân)

Đa số người dân do nhận thức chưa rõ về vấn đề sức khỏe dẫn đến việc thể hiện nhu cầu về sức khỏe cũng chưa chính xác.


3.3.2 Nhu cầu của người dân về khám chữa bệnh


Khi có bệnh, người dân mong muốn tự chữa trị và được hỗ trợ khám chữa bệnh ở khu vực phổ thông, khi triệu chứng nặng lên mới tìm đến nhân viên y tế ở khu vực chuyên môn. Một số đối tượng dân tộc thiểu số, do nhận thức lạc hậu nên họ vẫn tin tưởng và mong muốn tìm kiếm hỗ trợ ở khu vực dân gian với các thầy mo, thầy cúng và bà mụ vườn không bằng cấp.

3.4 Hành động khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk

3.4.1 Khám chữa bệnh tại khu vực phổ thông và dân gian


Người dân mặc dù nhận thức được bệnh nặng thì phải đến khu vực chuyên môn nhưng cách họ tự quyết định chữa trị tại khu vực phổ thông luôn là lựa chọn đầu tiên, điều này càng nguy hiểm nếu chủ thể quyết định có chút hiểu biết, tự cho mình hiểu biết phần nào những kiến thức chuyên môn y khoa để áp dụng.

Qua các điển cứu được trình bày trong luận án, có thể thấy như Weber nhận định, sự tồn tại của bốn kiểu hành động không độc lập với nhau mà chúng đan xen, bổ trợ, đặc biệt trong thực tiễn ranh giới giữa các hành động không phải lúc nào cũng minh định được. Cũng như một hành động khám chữa bệnh cũng không thể rạch ròi việc chủ thể đặt nó chính xác vào khu vực chuyên môn, phổ thông hay dân gian. Đây là sự “chồng chéo” giữa ba khu vực khám chữa bệnh – như cách mô tả của Arthur Kleinman (1980)3:



Tóm lại, nghiên cứu về hành động khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk ở các khu vực khám chữa bệnh, chúng tôi thấy có ba điểm đáng lưu ý: thứ nhất, bắt đầu từ ý thức chủ quan e ngại trong tương tác với các đại diện ở khu vực khám chữa bệnh chuyên môn, người dân thường lựa chọn cách tự chữa trị ở khu vực phổ thông, trong đó, nhóm người dân tộc thiểu số có xu hướng hành động theo kiểu truyền thống tiếp cận khu vực dân gian để đối phó với tình trạng sức khỏe, bệnh tật của mình. Thứ hai, do điều kiện, hoàn cảnh xã hội thay đổi và tình trạng sức khỏe, bệnh tật khiến chủ thể hành động phải có những lựa chọn thực tế với bản thân, họ sẽ nhanh chóng thay đổi khu vực khám chữa bệnh cũng như kiểu hành động của mình, do vậy có thể thấy sự chồng chéo giữa ba khu vực cũng như ranh giới giữa các kiểu hành động như trong phân loại của Weber không phải lúc nào cũng vạch rõ được. Tuy nhiên, những biểu hiện thay đổi kiểu hành động cũng như chồng chéo giữa các khu vực cho thấy hành động khám chữa bệnh của người dân Đắk Lắk thể hiện sự thiếu hụt, lệch lạc trong nhận thức, nhu cầu của người dân. Thứ ba, những trường hợp nghiên cứu về hành động khám chữa bệnh của người dân tộc cho thấy cần có tác động từ bên ngoài của các thiết chế như giáo dục, văn hóa, chính trị, y tế… để thay đổi nhận thức, nhu cầu và hành động của người dân tộc thiểu số - để vấn đề trong nhóm nhỏ không còn là rào cản với sự phát triển của cả nền y tế trong một cộng đồng lớn.

3.4.2 Khám chữa bệnh tại khu vực chuyên môn

3.4.2.1 Tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh


Bảng 3.10: Mức độ tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của người dân

Lần khám chữa bệnh gần đây nhất ở cơ sở y tế

Nam

Nữ

Tần số

Tần suất

Tần số

Tần suất

Cách đây < 3 tháng

80

24,4

84

27,3

Cách đây 3 – <6 tháng

94

28,6

98

31,8

Cách đây 6 – <9 tháng

64

19,5

59

19,2

Cách đây 9 – <12 tháng

23

7,0

18

5,9

Cách đây 12 tháng trở lên

24

7,3

25

8,1

Không nhớ

43

13,2

24

7,7

Tổng

328

100

308

100

Hệ số Phi = 0,315

Sig <0,001

N = 636

Lần khám chữa bệnh gần đây nhất ở cơ sở y tế

Người dân tộc Kinh

Người dân tộc khác

Tần số

Tần suất

Tần số

Tần suất

Cách đây < 3 tháng

141

29,3

25

16,1

Cách đây 3 – <6 tháng

164

34,1

28

18,1

Cách đây 6 – <9 tháng

94

19,5

29

18,7

Cách đây 9 – <12 tháng

29

6,0

12

7,7

Cách đây 12 tháng trở lên

8

1,7

39

25,2

Không nhớ

45

9,4

22

14,2

Tổng

481

100

155

100

Hệ số Phi = 0,323

Sig <0,001

N = 636

(Nguồn: Kết quả Khảo sát của đề tài TN3/X070, năm 2013: “Vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Tây Nguyên” – nhóm người dân)

Hạn chế về nhận thức dẫn đến việc nhiều người dân cố chịu những triệu chứng bất thường của cơ thể, sợ khám bệnh ra bệnh, sợ tốn tiền trị bệnh mà không nghĩ tới nếu để bệnh nặng thì chi phí, thời gian, công sức và sức khỏe càng hao mòn nhiều hơn. Nhiều người bệnh thường nhịn đau vì nghĩ đến việc đi khám bệnh tốn tiền, ảnh hưởng đến người thân…Sau khi trì hoãn khám chữa bệnh không được, đến giai đoạn người dân phải lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh. Qua khảo sát, chúng tôi có bảng số liệu sau:



Bảng 3.11: Hành động lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân

Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh

Nam

Nữ

Tần số

Tần suất

Tần số

Tần suất

Bệnh viện tuyến tỉnh

30

9,1

26

8,4

Bệnh viện tuyến huyện

109

33,2

87

28,2

Trạm y tế xã, phường

80

24,44

71

23,1

Bệnh viện/phòng khám/bác sĩ tư

66

20,1

77

25,0

Khác

43

13,1

47

15,2

Tổng

328

100

308

100

Hệ số Phi = 0,287

Sig <0,001

N = 636

Lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh

Người dân tộc Kinh

Người dân tộc khác

Tần số

Tần suất

Tần số

Tần suất

Bệnh viện tuyến tỉnh

29

6,0

27

17,4

Bệnh viện tuyến huyện

193

40,1

3

1,9

Trạm y tế xã, phường

45

9,3

106

68,4

Bệnh viện/phòng khám/bác sĩ tư

132

27,4

11

7,1

Khác

82

17,2

8

5,2

Tổng

481

100

155

100

Hệ số Phi = 0,575

Sig <0,001

N = 636

(Nguồn: Kết quả Khảo sát của đề tài TN3/X070, năm 2013: “Vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Tây Nguyên” – nhóm người dân)

Về nguyên nhân hành động lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân ở bảng 3.12:



Bảng 3.12: Nguyên nhân hành động lựa chọn nơi khám bệnh của người dân

Nguyên nhân lựa chọn nơi khám chữa bệnh

Nam

Nữ

Tần số

Tần suất

Tần số

Tần suất

Có thẻ BHYT

201

61,3

163

52,9

Chất lượng khám chữa bệnh tốt

44

13,4

50

16,2

Thái độ phục vụ tốt

22

6,7

24

7,8

Thủ tục đơn giản

19

5,8

23

7,5

Chi phí hợp lý

24

7,3

36

11,7

Tiết kiệm thời gian

66

20,1

63

20,5

Gần nhà

37

11,3

42

13,6

N = 636

N = 328

N= 308

Nguyên nhân lựa chọn nơi khám chữa bệnh

Người dân tộc Kinh

Người dân tộc khác

Tần số

Tần suất

Tần số

Tần suất

Có thẻ BHYT

246

51,1

118

76,1

Chất lượng khám chữa bệnh tốt

76

15,8

18

11,6

Thái độ phục vụ tốt

42

8,7

4

2,6

Thủ tục đơn giản

33

6,9

9

5,8

Chi phí hợp lý

48

10,0

12

7,7

Tiết kiệm thời gian

122

25,4

7

4,5

Gần nhà

72

15,0

7

4,5

N = 636

N = 481

N= 155

(Nguồn: Kết quả Khảo sát của đề tài TN3/X070, năm 2013: “Vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Tây Nguyên” – nhóm người dân)

Trong phần 3.4.2.1 chúng tôi vận dụng thuyết lựa chọn duy lý để lý giải hành động khám chữa bệnh ở khu vực chuyên môn của người dân Đắk Lắk với một số điểm đáng chú ý như sau: Thứ nhất, người dân hành động trên cơ sở suy tính, cân nhắc lựa chọn các nguồn lực vật chất và tinh thần để kết quả khám chữa bệnh đạt được hiệu quả tối đa nhưng trong nhiều trường hợp, sự lựa chọn đó bị giới hạn bởi khả năng nhận thức và sử dụng nguồn lực của bản thân chủ thể nên người dân phải chấp nhận lựa chọn không phải tốt nhất mà phù hợp nhất trong khám chữa bệnh. Thứ hai, khi cần, người dân phải từ bỏ sự chủ động, trao quyền quyết định cho các chuyên gia y tế trong khám chữa bệnh, lựa chọn này về tổng thể vẫn mang tính duy lý nhưng cũng cho thấy không thể máy móc phân biệt rạch ròi tính logic và phi logic trong từng hành động, từng trường hợp cụ thể. Thứ ba, trong hoạt động khám chữa bệnh, người bệnh chấp nhận nguyên tắc “trao đổi ngang giá” căn cứ trên mục đích và nhu cầu cá nhân của họ với nguồn lực, điều kiện cá nhân của họ. Trong quá trình xem xét ba điểm đáng chú ý nói trên, chúng tôi cũng nhận thấy bắt đầu từ sự chênh lệch về nhận thức, sự giới hạn các cơ hội, điều kiện và nguồn lực, nhóm dân tộc thiểu số nghèo ở các huyện vùng sâu Đắk Lắk đưa ra các lựa chọn duy lý để đạt được kết quả sức khỏe cuối cùng tốt nhất khó khăn hơn nhiều so với các nhóm xã hội khác. Thực trạng bất bình đẳng trong y tế ở Đắk Lắk buộc nhà nước và chính quyền địa phương phải có những điều tiết về phúc lợi y tế phù hợp, cụ thể với chính sách BHYT mà chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu ở phần 3.4.2.2.


3.4.2.2 Sử dụng BHYT trong khám chữa bệnh


Về tình hình phủ sóng BHYT ở Đắk Lắk: Chính sách BHYT trong khám chữa bệnh của người dân thể hiện ở hai điểm: Đầu tiên, chính sách BHYT định hình mức độ bất bình đẳng về khía cạnh sức khỏe của các nhóm dân cư (ví dụ, các nhóm yếu thế như người nghèo, người dân tộc thiểu số…). Thứ hai, chính sách BHYT phải được thể hiện mối quan hệ phù hợp giữa nhà nước, thị trường, y tế, và công dân. Việc người dân sử dụng BHYT trong khám chữa bệnh luôn gắn liền với sự thay đổi phát triển của bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội thực tế.

Bảng 3.13: Độ phủ sóng BHYT ở Đắk Lắk

Năm

Tần số (người)

Tần suất (%)

2005

≈152.000

9,1

2010

1.064.261

60,8

2014

1.293.145

72,0

2015

1.359.960

75,5%

(Nguồn: Tác giả luận án tổng hợp từ các Báo cáo Công tác khám chữa bệnh BHYT Đắk Lắk các năm 2005-2015, Sở Y tế Đắk Lắk, UBND tỉnh Đắk Lắk)

Về các nhóm tham gia BHYT ở Đắk Lắk, theo thông tin tổng hợp từ báo cáo Tình hình khám chữa bệnh BHYT 2014 của BHXH Tỉnh Đắk Lắk, có thể thấy:

Bảng 3.15: Các nhóm tham gia BHYT ở Đắk Lắk

Nhóm tham gia BHYT

Tần số (người)

Tần suất (%)

Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động

106.967

8,3

Người có công, hưu trí

85.779

6,6

Người nghèo, dân tộc thiểu số vùng khó khăn

579.060

44,8

Trẻ em dưới 6 tuổi

227.094

17,5

Học sinh, sinh viên

179.643

13,9

Hộ gia đình

114.602

8,9

Tổng

1.293.145

100

(Nguồn: Báo cáo Tình hình khám chữa bệnh BHYT 2014, BHXH Tỉnh Đắk Lắk)

Tóm lại, qua việc tìm hiểu người dân sử dụng BHYT trong khám chữa bệnh, từ góc độ lý thuyết nhà nước phúc lợi trong lĩnh vực y tế, chúng tôi nhận thấy thông qua chính sách BHYT, chủ trương của nhà nước điều tiết bất bình đẳng trong khám chữa bệnh giữa nhóm nghèo, dân tộc thiểu số với các nhóm xã hội khác đã được thực hiện và có hiệu quả thông qua độ phủ sóng BHYT ở Đắk Lắk, cũng như sự tham gia BHYT của các nhóm nghèo, nhóm người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao. Tuy vẫn còn một số tồn tại như thời gian khám chữa bệnh bằng BHYT kéo dài, thủ tục phức tạp… ảnh hưởng đến người dân nhưng thông qua BHYT, phúc lợi y tế dần dần hướng tới đảm bảo tính phổ quát của quyền khám chữa bệnh của công dân, tạo một lưới an toàn cho các nhóm yếu thế trong bối cảnh kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.



Каталог: userfile -> User -> songtran -> files


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương