®¹i häc quèc gia hµ néi


Tổng quan các nghiên cứu về sức khỏe, bệnh tật và hoạt động khám chữa bệnh



tải về 307.04 Kb.
trang3/6
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích307.04 Kb.
1   2   3   4   5   6

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về sức khỏe, bệnh tật và hoạt động khám chữa bệnh

1.2.1 Các nghiên cứu về chính sách liên quan đến sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh


Một số tên tuổi tiêu biểu trên thế giới có thể kể đến như: Bloom SW (1960), Freeman H (1979), Gray BH, Phillips SR (1995), Jennie Jacobs Kronenfeld (1995), Sarah Nettleton (1995)... Bên cạnh đó, là các nghiên cứu ở Việt Nam của tác giả Đặng Nguyên Anh và Nguyễn Đức Vinh, Nguyễn Thị Vân Anh (2007), Trịnh Hòa Bình (2008), Nguyễn Thị Thu Hà (2013)... Các nghiên cứu rất đa dạng, phong phú các mặt của chính sách liên quan đến sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh, đặc biệt là chính sách BHYT.

1.2.2 Các nghiên cứu về hệ thống dịch vụ khám chữa bệnh


Rất nhiều nhà nghiên cứu xã hội học như Wennberg và Gittelsohn (1973), Fredric D. Wolinsky (1988), Wholey và Burn (2000), Francois Houtart và Geneviève Lemercinier (1979), Phí Minh Ba (1992), Vũ Tuấn Huy (1992), Trịnh Minh Hoan (2002), Trịnh Hòa Bình và Đào Thanh Trường (2004)… chú ý đến vấn đề chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh như điều kiện vật chất của cơ sở y tế, trình độ cán bộ y tế, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở ở Việt Nam, vì đây là tuyến y tế gần với người dân nhất, vai trò của các dịch vụ khám chữa bệnh tư nhân trong xu thế hàng hóa hóa các dịch vụ xã hội nói chung và dịch vụ khám chữa bệnh nói riêng.

1.2.3 Các nghiên cứu về nhận thức, nhu cầu và hành động khám chữa bệnh của người dân


Các nghiên cứu của Cockerham WC (1975), Sarah Nettleton (1995), Blendon RJ, Brodie M, Benson J (1995), Mai Kim Thanh (2003), Trịnh Hòa Bình (2008), Hoàng Bá Thịnh (2010), Lưu Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thiềng (2010)... chỉ ra nhận thức, nhu cầu và hành động khám chữa bệnh luôn có những đặc điểm khác nhau khi các nghiên cứu được thực hiện ở các bối cảnh xã hội khác nhau, hoặc các nhóm xã hội khác nhau.

1.2.4 Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh của người dân


Một số tác giả như Rossand Wu (1996), Krieger (1994), McLeod và Shanahan (1993, 1996); McLeod và Nonnemaker (2000), Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2000), Nguyễn Đức Truyến (2000), Bế Quỳnh Nga (2010), Hoàng Bá Thịnh (2010), Dương Chí Thiện (2013), Phạm Tất Dong (2013)…

Trong các nghiên cứu kể trên, các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật và hoạt động khám chữa bệnh của người dân thường được các nhà nghiên cứu xem xét là văn hóa – kinh tế – xã hội – môi trường hay yếu tố nhân khẩu xã hội như tuổi, giới tính, thu nhập… Các nhân tố này đã tạo ra sự khác biệt về mô hình bệnh tật ở các nhóm xã hội khác nhau, đồng thời có liên quan tới bất bình đẳng trong hoạt động khám chữa bệnh.


CHƯƠNG 2

Cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu

2.1 Các khái niệm công cụ

2.1.1 Khái niệm sức khỏe

2.1.2 Khái niệm bệnh tật

2.1.3 Khái niệm hoạt động khám chữa bệnh


Với vấn đề nghiên cứu của luận án, chúng tôi chọn cách tiếp cận từ phía người dân – là chủ thể hành động trong quá trình khám chữa bệnh (khác cách tiếp cận hành động khám chữa bệnh trong quy định của Luật Khám chữa bệnh số 40/2009/QH12 của Quốc hội). Khái niệm hoạt động khám chữa bệnh là khái niệm chính trong nghiên cứu của tác giả. Trong khuôn khổ vấn đề nghiên cứu của luận án, khái niệm hoạt động khám chữa bệnh được xác định như sau:

- Về chủ thể hành động trong hoạt động khám chữa bệnh: chủ thể hành động trong hoạt động khám chữa bệnh là người dân, cụ thể là những người có trạng thái bất thường của cơ thể biểu hiện ở các mặt thể chất, tâm thần và xã hội. Do vậy, hành động khám chữa bệnh là chỉ hành động xã hội của người bệnh nhằm ứng phó với trạng thái bệnh của bản thân, không phải hành động của những người hành nghề y, đi khám và chữa bệnh cho người khác. Đồng thời, khi giới hạn chủ thể hành động khám chữa bệnh là người dân, tác giả luận án không tách khám và chữa bệnh là hai hành động khác nhau mà coi khám chữa bệnh là một chuỗi các chọn lựa và thực hiện các quyết định nhằm cải thiện sức khỏe, thoát khỏi trạng thái bệnh tật của bản thân. Hành động khám chữa bệnh của người dân là kết quả của nhận thức và nhu cầu về sức khỏe và bệnh tật của họ.

- Về khái niệm hoạt động khám chữa bệnh: hoạt động khám chữa bệnh là một quá trình bao gồm:

+ Nhận biết bệnh tật của cơ thể dựa trên nhận thức của bản thân về sức khỏe, bệnh tật.

+ Xuất hiện nhu cầu đối phó với bệnh tật.

+ Thực hiện hành động phản ứng với trạng thái bệnh của cơ thể: người bệnh tìm cách thoát khỏi trạng thái bệnh của cơ thể trong ba khu vực y tế phổ thông, dân gian hay chuyên môn.

Quá trình thực hiện hành động của khám chữa bệnh của cá nhân thông qua mối quan hệ tương tác giữa họ với cán bộ y tế (khu vực chuyên môn), với thầy lang, thầy cúng, pháp sư và các bà mụ vườn (khu vực dân gian) hoặc những người thân, bạn bè, hàng xóm không có chuyên môn (khu vực phổ thông) 1.

Bên cạnh đó, hoạt động khám chữa bệnh của người dân trong các khu vực y tế nói trên đặt trong một bối cảnh xã hội cụ thể nên sẽ chịu ảnh hưởng của các nhân tố như hệ thống chính sách y tế của địa phương, mạng lưới y tế và nhân lực y tế, các yếu tố nhân khẩu xã hội, truyền thông y tế, các yếu tố văn hóa tộc người…



- Về nơi diễn ra hoạt động khám chữa bệnh của người dân: Chúng tôi sử dụng mô hình khu vực của Arthur Kleinman. Arthur Kleinman (1980) đã giới thiệu mô hình khu vực (sector model) như một công cụ để tìm hiểu hoạt động khám chữa bệnh. Ông gợi ý ba khu vực: chuyên môn, dân gian và phổ thông. Mỗi khu vực này sẽ có cách giải thích và điều trị bệnh tật theo cách khác nhau. Khu vực chuyên môn gồm các chuyên gia y học. Khu vực này được tổ chức một cách chính thống và được công nhận về pháp luật. Ở Việt Nam, khu vực chuyên môn bao gồm cả những người hành nghề Tây y và Đông y. Hai nhóm này đều được chuyên nghiệp hóa. Khu vực dân gian bao gồm các thầy lang, thầy cúng, pháp sư và các bà mụ vườn. Những thầy lang này không thuộc hệ thống y tế chính thống. Các cách chữa bệnh của họ có thể mang tính chất thần bí, hoặc dân dã hoặc phối hợp cả hai cách. Ở Việt Nam, những người hành nghề trong khu vực dân gian bao gồm thầy cúng, thầy bói, thầy lang và bà đỡ. Cuối cùng, khu vực phổ thông đại chúng là khu vực của người dân, những người không có chuyên môn. Khu vực này chiếm phần lớn nhất trong bất kỳ hệ thống khám chữa bệnh nào. Đây chính là khu vực diễn ra hầu hết các hoạt động chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh. Người ốm thường được phát hiện và nhận được những chăm sóc đầu tiên ở khu vực này. Khu vực phổ thông cũng bao gồm cả hoạt động tự chữa trị. Ở Việt Nam, các kiêng cữ khi mang thai và sau đẻ của phụ nữ, sử dụng thuốc Tây y của người bán thuốc… thường diễn ra ở khu vực này. Tuy nhiên, cả ba khu vực có phần chồng chéo lên nhau. Mô hình khu vực của Kleinman rất có ích không phải vì có thể xếp tất cả mọi người, mọi việc vào một khu vực nhất định mà vì mô hình này giúp chúng ta thấy rõ hơn sự đa dạng cũng như chồng chéo giữa các khu vực2.

2.1.4 Khái niệm Bảo hiểm y tế


Trong chương 1, điều 2 – khoản 1 Luật BHYT (đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14-11-2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2009) quy định “BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này”. Các đối tượng theo quy định của Luật BHYT bao gồm: tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam có liên quan đến BHYT.

Каталог: userfile -> User -> songtran -> files


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương