ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo



tải về 1.54 Mb.
trang9/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

3.4. Gia tăng dân số

3.4.1. Hiện trạng gia tăng dân số


Mật độ dân số trung bình các huyện khu vực nghiên cứu đạt 88,9 người/km2, trong khi đó mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 188 người/km2. Huyện có mật độ dân số thấp nhất là huyện Tiên Yên chỉ 68,4 người/km2, huyện có mật độ dân cư cao nhất là Đầm Hà với 108 người/km2. Dân số trong khu vực không cao, phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở một số thị trấn như Đầm Hà, Tiên Yên, Cồn. Người dân ở đây sống chủ yếu dựa vào các hoạt động nông nghiệp, một số khai thác, NTTS; số ít trong các ngành công nghiệp nhỏ và dịch vụ.

Bảng 3.3. Diện tích, dân số và mật độ dân số các huyện khu vực cửa sông Tiên Yên năm 2009

Huyện

Diện tích (km2)

Dân số (người)

Mật độ dân số (người/km2)

Tiên Yên

647,9

44.300

68,4

Đầm Hà

310,2

33.500

108,0

Hải Hà

513,9

53.100

103,3

Tổng

1.472,0

130.900

88,9

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009.

Bảng 3.4. Kết cấu dân số các huyện khu vực nghiên cứu theo giới tính

Huyện

2008

2009

Nam

Nữ

Nam

Nữ

Tiên Yên

53,4

46,6

50,5

49,5

Đầm Hà

53,2

46,8

53,1

46,9

Hải Hà

50,8

49,2

50,2

49,8

Khu vực nghiên cứu

50,9

49,1

51,2

48,8

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009.

Kết cấu dân số phân theo giới tính khá đồng đều, hơi nghiêng về phía nam giới, trung bình chiếm khoảng 51,2% dân số năm 2009, tăng so với năm 2008. Huyện có tỷ lệ nam giới cao nhất là huyện Đầm Hà với 53,1%. Các huyện khu vực nghiên cứu chủ yếu là dân cư nông thôn chiếm khoảng 85% tổng số dân.

Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên nhìn chung tăng theo các năm. Năm 2009, tỷ lệ gia tăng tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh là 11,8%, tăng 0,5% so với năm 2008.

3.4.2. Phân tích, đánh giá giá trị mất đi của TN-MT do tác động của vấn đề gia tăng dân số






Hình 3.2. Bãi đổ rác của người dân ở khu vực cửa sông Tiên Yên
Trong sinh hoạt, con người xả thải ra môi trường một lượng lớn bao gồm nước thải và chất thải các loại. Với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay cùng với những hạn chế của các công trình xử lý nước thải và chất thải nên lượng chất thải xả ra ngoài môi trường vượt quá ngưỡng tự phân hủy của môi trường. Từ đó ô nhiễm môi trường là điều không tránh khỏi. Việc bảo vệ môi trường ở khu vực nông thôn có nhiều hạn chế, chất thải, rác thải sinh hoạt chủ yếu được người dân đổ trực tiếp ra môi trường và chưa có quy định cụ thể nên gây ô nhiễm nguồn nước, môi trường đất; làm xấu cảnh quan thiên nhiên. Các rải thác bị phân hủy ở mức độ khác nhau và được vận chuyển theo các sông đổ ra biển làm cho môi trường nước và trầm tích vùng cửa sông và dải ven bờ bị nhiễm bẩn đáng kể.

Trong khu vực nghiên cứu, một bộ phận dân định cư ngay trên tàu thuyền, dọc theo các cửa sông với mật độ cao. Tại đây, mọi hoạt động như sử dụng nguồn nước, đổ thải nước, rác sinh hoạt, đánh bắt hải sản gần bờ đều liên quan trực tiếp đến khu vực cửa sông, ven biển. Chính vì vậy đã kéo theo hoạt động cung cấp xăng dầu cho tàu thuyền ở đây cũng diễn ra tấp nập. Các trạm xăng dầu được xây dựng ngay sát bờ sông, bờ kênh thậm chí là các tàu chở xăng di động. Hàng ngày các hoạt động bốc dỡ xăng dầu cho thuyền vẫn xảy ra, trong quá trình bốc dỡ không tránh khỏi để xăng dầu dò rỉ ra ngoài gây ảnh hưởng tới môi trường, cùng với lượng xăng dầu dò rỉ do các thế hệ máy móc quá cũ nát. Thực tế cho thấy hiện tượng rò rỉ xăng dầu rất phổ biến, tạo ra váng dầu nổi trên mặt nước, ảnh hưởng đến môi trường sống của thực vật thủy sinh, làm suy giảm đa dạng sinh học, tác động xấu đến chất lượng môi trường nước cũng như môi trường trầm tích. Bên cạnh đó, bến đậu tàu thuyền tại xã, phía dưới cầu Hà Cối có hiện tượng ô nhiễm bởi các rác thải sinh hoạt, nilon và nước thải nhân sinh.

Gia tăng dân số đồng thời với việc gia tăng các hoạt động khai thác nguồn lợi từ thiên nhiên, phát triển mạnh hơn các ngành sản xuất và từ đó tác động mạnh hơn tới TN-MT:

Khu vực nghiên cứu với các đặc thù về điều kiện tự nhiên và xã hội mà tại đây vẫn diễn ra các hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, khai thác và đánh bắt thủy sản. Một bộ phận lớn dân cư các xã ven biển khu vực nghiên cứu sinh sống chủ yếu dựa vào hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản. Thêm vào đó là một lượng lớn cư dân từ những vùng lân cận cũng tập trung về đây để khai thác nguồn lợi sẵn có này. Người dân tham gia đánh bắt thuỷ, hải sản ngày càng tăng, sản lượng cũng theo đó tăng lên. Như vậy, áp lực tác động lên TN-MT rất lớn. Theo số liệu thống kê, sản lượng khai thác của các địa phương khu vực nghiên cứu lớn hơn sản lượng từ ngành nuôi trồng. Điều này thể hiện sự phát triển không cân đối và bền vững. Việc khai thác quá mạnh mẽ dẫn tới nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, suy giảm nguồn giống.

Ngoài ra, các phương tiện đánh bắt ở đây còn thô sơ, tàu thuyền công suất nhỏ, đánh bắt gần bờ. Các hoạt động khai thác mang tính chất huỷ diệt nguồn lợi như dùng hóa chất, nổ mìn đánh bắt thủy hải sản, dùng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu trong nông nghiệp,... Điều này dẫn đến việc suy giảm tài nguyên, ảnh hưởng đến chất lượng môi trường trong khu vực.






Hình 3.3. Nuôi ngao trên bãi cát bùn vùng gian triều xã Phú Hải, huyện Hải Hà

Ảnh: Nguyễn Tài Tuệ, 2007

Hình 3.4. Đầm nuôi tôm xã Quảng Điền, huyện Hải Hà

Ảnh: Nguyễn Tài Tuệ, 2007

Hiện nay, một mối đe dọa đến TN-MT khu vực nghiên cứu nữa là việc chặt phá RNM làm đầm NTTS, khai thác thủy – hải sản quá mức hủy hoại môi sinh, quá trình xói lở tự nhiên làm thu hẹp tài nguyên ĐNN,... Tác động đầu tiên là gây suy giảm thực vật ngập mặn. Thực tế là diện tích ĐNN cửa sông Tiên Yên có sự thay đổi lớn do các hoạt động này như ở các xã Đồng Rui. Trước hết là sự suy giảm diện tích RNM, sau đó là sự suy giảm nguồn lợi thủy sản cà phá hủy môi sinh. Như tại xã Đồng Rui, 80% dân số sống bằng nghề khai thác thủy sản. Trên các bãi triều ở khu vực cửa sông Tiên Yên, mật độ người khai thác khoảng 5 - 7 người/ha/ngày với hình thức khai thác thủy sản đa dạng như cào bới ngao, vạng, ngó, sò, móng tay, đào sá sùng, cuốc bông thùa, bắt cua, cá, giá biển… Đặc biệt, tại các bãi sá sùng và bông thùa ở Đồng Rui, Chương Cả, Chương Hai Thoi, Quảng Minh, Quảng Điền… có tới vài trăm đến vài nghìn người tập trung khai thác. Ngư dân khai thác không chỉ cá thể trưởng thành mà cả con non để bán hoặc xuất khẩu. Việc khai thác bằng phương thức huỷ diệt vẫn xảy ra như đánh cá bằng mìn, bằng lưới mắt nhỏ bắt các loài tôm cá con dẫn đến khả năng tự phục hồi nguồn lợi thuỷ sản rất khó khăn. Như vậy, hoạt động khai thác hải sản quá mức cùng với hình thức khai thác hủy diệt đã dẫn đến tình trạng suy giảm nguồn lợi thủy sản nghiêm trọng trong khu vực nghiên cứu.

Bên cạnh khai thác nguồn lợi sinh vật, hiện nay, nhân dân sống quanh vùng cửa sông Tiên Yên chủ yếu dùng củi từ RNM làm chất đốt. Đây là mối đe doạ nghiêm trọng đến RNM bởi lượng lâm sản khai thác đã vượt quá mức tự nhiên cung cấp. Hơn nữa hoạt động khai thác của người dân lại không theo quy hoạch, hướng dẫn mà thường diễn ra tự phát. Vì vậy mà chất lượng và diện tích của RNM đã bị giảm sút gây ảnh hưởng đến nguồn hải sản sống trong đó, đồng thời giảm chức năng điều tiết bão lũ.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương