ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo


Phương pháp xử lý dữ liệu



tải về 1.54 Mb.
trang7/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14

2.3. Phương pháp xử lý dữ liệu


Các dữ liệu được thu thập được điều chỉnh cho phù hợp để chạy các mô hình phân tích lượng giá thiệt hại và biến động của TN-MT. Các phần mềm chuyên dụng được sử dụng trong quá trình chạy dữ liệu gồm Excel, SPSS va Stata.


CHƯƠNG 3

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ MẤT ĐI CỦA TÀI NGUYÊN – MÔI TRƯỜNG DO TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ NHIÊN VÀ NHÂN SINH

3.1. Lũ lụt

3.1.1. Lũ lụt





Hình 3.1. Lũ lụt ở thị trấn Tiên Yên (5/2011)
Ở khu vực nghiên cứu, bão thường kèm theo mưa lớn và gây ra lũ lụt. Vùng biển Quảng Ninh là một trong những khu vực có tần suất bão xuất hiện cao nhất so với cả nước. Trong giai đoạn 1945 - 2000, vùng biển Quảng Ninh có khoảng 33 - 48 số lần bão đổ bộ. Riêng khu vực vịnh Tiên Yên - Hà Cối trung bình mỗi năm chịu ảnh hưởng của 5 - 6 cơn bão, trên thực tế có năm số cơn bão lên đến 9 - 10 cơn. Tháng có tần suất xuất hiện bão cao nhất là tháng 7 và tháng 8. Bão đổ bộ gây mưa to, gió lớn (nhiều nơi tốc độ gió lên đến trên 20 m/s, đạt cực đại tới 45 m/s), sóng cao làm dâng nước ở các cửa sông, gây ngập úng các vùng canh tác có giá trị cũng như khu vực định cư của dân đặc biệt là các xã ven biển thuộc huyện Tiên Yên, Đầm Hà và Hà Cối. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tai biến nhiễm mặn trong khu vực nghiên cứu.

Lượng mưa trong đợt bão đổ bộ trung bình đạt trên 200 mm, có ngày đạt 450 mm và kéo dài từ 3 - 4 ngày, thậm chí 6 - 7 ngày. Cùng với địa hình dốc, hệ thống sông suối dày đặc làm tăng nguy cơ xảy ra lũ lụt trong vùng nghiên cứu. Sự tàn phá do gió to, mưa lớn và các hiện tượng đi kèm như nước dâng và lũ lụt nên các cơn bão thường gây ảnh hưởng nghiêm trọng hoạt động sản xuất và tính mạng của người dân. Bên cạnh đó, nó còn để lại nhiều hậu quả xấu cho môi trường như dịch bệnh, suy giảm nguồn lợi tài nguyên và chất lượng môi trường.

Nguyên nhân dẫn đến lũ lụt ở Tiên Yên chủ yếu là do yếu tố tự nhiên quyết định: đặc điểm địa hình, địa mạo; thời tiết khắc nghiệt với lượng mưa cao. Vào những ngày mưa, các hoạt động kinh tế đặc biệt là giao thông vận tải, du lịch, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, nông nghiệp bị trì trệ.

Việc chặt phá rừng đầu nguồn làm nương rẫy xảy ra trong mấy năm trở lại đây đã làm tăng lưu lượng và tốc độ dòng chảy mỗi khi có mưa làm các xã ven biển thuộc các huyện Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên bị ngập lụt. Bên cạnh đó, nạn chặt phá RNM ở Tiên Yên cũng là một tác nhân gia tăng lũ lụt đặc biệt là khi nước nguồn đổ về kết họp với triều cường. Vào những năm của thập kỷ 90, hàng ngàn ha RNM đã bị tàn phá vì nhiều mục đích như đắp đầm NTTS, khai thác cây làm củi đun, đẽo vỏ cây làm lưới chài...

Trận lũ gần đây nhất là vào tháng 5/2011, cả huyện Tiên Yên có 10 xã bị chìm trong nước. Khu vực ngã ba Yên Than có 3 tuyến quốc lộ lớn là 18A đi cửa khẩu Móng Cái, 18C đi cửa khẩu Bình Liêu và 4B đi TP Lạng Sơn bị ngập lụt trong thời gian dài. Khoảng 800 ngôi nhà thuộc các xã Tiên Lãng, Yên Than, Hải Lạng và thị trấn Tiên Yên bị ngập trong nước lũ sâu 1 - 2 m. Đặc biệt, khoảng 30 hộ tại 2 thôn Tài Tùng và thôn Tân tại xã Yên Than bị cô lập hoàn toàn. Đê sông đoạn Chẻ Mùi (thôn Hà Tràng Đông, xã Đông hải) bị lũ tràn qua 1,2 m. Trên 90 % đường giao thông ở thị trấn Tiên Yên ngập nước. 650 ha đầm NTTS chủ yếu ở khu vực Hải Lạng bị nước lũ tràn vào.

3.1.2. Phân tích, đánh giá giá trị mất đi của TN-MT do tác động của lũ lụt


Hoạt động lũ lụt trong khu vực nghiên cứu ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế và xã hội. Khu vực nghiên cứu nằm trên tuyến giao thông quan trọng lên cửa khẩu Móng Cái nên khi có lũ lụt sẽ làm tê liệt toàn bộ hệ thống giao thông chính. Hàng năm, số lượng hàng hóa vận chuyển qua khu vực này rất lớn nên khi có lũ lụt xảy ra sẽ gây những tổn thất không nhỏ.

Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp, lũ lụt diễn ra với cường độ mạnh hơn đã gây thiệt hại đến mùa màng, nhiều cánh đồng bị mất trắng trước khi đến vụ thu hoạch, số còn lại cũng bị giảm năng suất. Trong giai đoạn từ năm 2006 - 2007, sản lượng lúa của các xã ven biển thuộc huyện Đầm Hà giảm 2.440 tấn, sản lượng cây lạc giảm 18.1 tấn. Ngoài ra, lũ lụt ở khu vực nghiên cứu thường xuất hiện khi có bão. Nước dâng trong bão gây ngập úng diện tích đất nông nghiệp là nguyên nhân cường hóa tai biến nhiễm mặn. Trong giai đoạn 2006 - 2007, diện tích trồng lúa, cây khoai lang của các xã ven biển huyện Đầm Hà giảm tương ứng là 143.6 ha và 9,7 ha.

Ngoài ra, nước ngọt bị giữ lại lâu trong các đầm nuôi tôm sẽ gây ngọt hóa đầm nuôi dẫn đến môi trường sống trong đầm bị thay đổi và có thể dẫn đến phát sinh nhiều loại bệnh. Bên cạnh đó, trong quá trình lũ rút các loại chất thải gây ô nhiễm môi trường trong đất liền hay hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp một phần sẽ bị lắng đọng lại trong các đầm nuôi hay tại bãi nuôi (ngao, vạng…). Do đó, các loại thủy sản được nuôi sẽ không thích ứng được ngay với môi trường sống sau lũ và chúng có thể sẽ bị chết, nhiễm bệnh hay ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng. Như vậy, năng suất NTTS sẽ giảm, ảnh hưởng đến đời sống của người dân.

Ngoài ra, lũ lụt ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động công nghiệp trong khu vực, làm đình trệ các hoạt động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.


3.2. Xói lở và bồi tụ

3.2.1. Xói lở và bồi tụ


Theo nhiều kết quả nghiên cứu, vùng cửa sông Tiên Yên là vùng sụt lún hiện đại và khu vực các đảo diễn ra quá trình nâng kiến tạo, là vùng có hoạt động thủy triều mạnh. Khi triều cường, nước biển dâng cao, bị dồn nén bởi hệ thống đê kè và đặc biệt là hệ thống đảo bao quanh nên khi triều rút, động năng dòng chảy rất lớn. Cùng với quá trình triều rút, các vật liệu trầm tích được vận chuyển, lắng đọng ở khu vực cửa sông và các đảo ngầm gây ra hiện tượng bồi tụ. Trong vùng nghiên cứu, hiện tượng này xảy ra khá phổ biến ở khu vực cửa sông như cửa sông thuộc xã Vạn Yên, vụng Đài Chuối, xung quanh bãi Chương Cả, lạch Tiên Yên, phía tây nam đảo Vạn Vược và khu vực hòn Cái Khiên.

Bên cạnh đó, địa hình bờ khu vực nghiên cứu có đặc điểm phức tạp, thể hiện ở chỗ có nhiều cửa sông chia cắt, thành tạo rắn chắc xen kẽ thành tạo bở rời nên các đoạn bờ bị xói lở phân bố rải rác dọc theo đường bờ biển. Những khu vực xói lở diễn ra mạnh nhất là những đoạn đường bờ thuộc xã Quảng Điền, Đầm Hà. Tốc độ xói lở tại khu vực này tương đối cao, trung bình là 5 mm/năm. Trong vòng 60 năm (1936 - 1993), khu vực này đã mất 192 ha đất do xói lở.


3.2.2. Phân tích, đánh giá giá trị mất đi của TN-MT do tác động của xói lở - bồi tụ


Tai biến xói lở trong phạm vi nghiên cứu gây mất quỹ đất, thu hẹp diện tích thảm cỏ biển và san lấp luồng lạch – gây cản trở giao thông thủy. Trong vòng 60 năm (1936 - 1993), khu vực này đã mất 192 ha đất do xói lở. Ngoài hậu quả làm mất quỹ đất, xói lở còn phá hủy, làm sập đổ các công trình nhân sinh như kè đá chắn sóng; đập, đê biển và đảo ảnh hưởng lớn đến ổn định đời sống, phát triển kinh tế của người dân trong khu vực; làm mất diện tích RNM đe dọa đến suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến TN-MT vùng vịnh. Theo kết quả thống kê, từ trước 1995 đến sau 2003 diện tích cỏ biển đã giảm đi nhiều (bảng 3.1)

Bảng 3.1. Sự suy giảm diện tích thảm cỏ biển vịnh Tiên Yên

STT

Bãi Cỏ

Diện tích bãi cỏ trước 1995

Diện tích bãi cỏ sau 2003

Diện tích bãi cỏ 2009-2010

1

Vụng Hà Cồi

1.200

150

150

2

Bãi Đầm Hà

80

2

80

Nguồn: Cục bảo tồn đa dạng sinh học, 2011

Ngược lại với tai biến xói lở, quá trình bồi tụ đem lại lợi ích như làm tăng thêm quỹ đất. Tuy nhiên, dù tai biến bồi tụ không phải là một tai biến đột khởi, cường độ không mạnh nhưng nó cũng gây biến động luồng lạch, cản trở sự đi lại của tàu thuyền, không cho phép tàu lớn qua lại, ảnh hưởng đến giao lưu và phát triển kinh tế. Nghiêm trọng hơn, tàu thuyền có thể mắc cạn khi không thông thạo luồng lạch, đe dọa đến tính mạng và tài sản của người dân. Bên cạnh đó, tai biến bồi tụ gây biến động luồng lạch đã làm cho địa phương phải chi phí tốn kém cho việc nạo vét và khơi thông dòng chảy.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương