ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo


CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



tải về 1.54 Mb.
trang6/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp kế thừa, tổng hợp


Báo cáo đã tổng hợp và kế thừa các kết quả nghiên cứu về đặc điểm khí tượng thuỷ văn, đặc điểm địa chất, địa mạo, môi trường, các dạng tài nguyên, yếu tố xã hội... Các tài liệu này sẽ được phân loại, sắp xếp có trình tự và được định hướng vào nghiên cứu để lượng giá tổn thất TN – MT khu vực nghiên cứu.

Báo cáo đã kế thừa kết quả từ các đề tài, dự án nghiên cứu về khu vực, trên cơ sở đó, phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu theo mục đích mong muốn. Một số tài liệu thứ cấp báo cáo đã tham khảo bao gồm:

- Báo cáo thành lập Bản đồ Địa chất môi trường, Địa chất tai biến và Dự báo tai biến vịnh Tiên Yên (0-30m) nước;

- Hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Ninh năm 2005 và 2007;

- Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2009;

- Niên giám thống kê huyện Tiên Yên, Hải Hà, Đầm Hà năm 2010;

- Báo cáo thành lập mức độ tổn thương TN –MT vịnh Tiên Yên, 2009;

- Báo cáo năm 2009 của DATP 2 thuộc dự án “ Điều tra, đánh giá mức độ tổn thương Tài nguyên - Môi trường, Khí tượng thủy văn; dự báo thiên tai, ô nhiễm tại các vùng biển”;

Các tài liệu về tỉnh Quảng Ninh trên các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng của các xã phường trong vùng nghiên cứu.

2.2. Phương pháp lượng giá tổn thất TN-MT

2.2.1. Cơ sở khoa học và các phương pháp lượng giá tổn thất TN-MT


Dưới quan điểm kinh tế, môi trường là một loại tài sản vì nó cung cấp cho con người nhiều loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau. Môi trường có thể cung cấp những hàng hoá trực tiếp như tôm, cá gỗ củi, các nguồn nguyên vật liệu đầu vào của quá trình sản xuất; các dịch vụ sinh thái như hạn chế bão lũ, chống xói mòn bờ biển, điều hoà khí hậu, nạp và điều tiết nước ngầm, cũng như giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, các giá trị văn hoá lịch sử khác. Nói các khác, môi trường cung cấp cho con người và hệ thống kinh tế các loại giá trị và khi sử dụng chúng, bằng cách này hay cách khác thì con người sẽ thu về những lợi ích nhất định.

Tất nhiên, giống như những hàng hoá và dịch vụ thông thường, tài sản môi trường cũng có thể bị khấu hao do những tác động từ tự nhiên hoặc con người, ví dụ thiệt hại môi trường do thiên tai bão lũ gây ra. Khi xảy ra những sự cố hoặc suy thoái môi trường như trên thì những nhóm giá trị của môi trường bị suy giảm so với thời điểm trước khi xảy ra ô nhiễm suy thoái và lợi ích thu về từ việc tiêu dùng hàng hoá môi trường của xã hội cũng sẽ suy giảm.

Các nhà kinh tế đã xây dựng các mô hình lý thuyết và những kỹ thuật thực nghiệm để lượng giá sự suy giảm của các lợi ích này để từ đó đề xuất các nhóm công cụ, chính sách, các cách tiếp cận quản lý, sử dụng tài nguyên hiệu quả, bền vững hơn nhằm mang lại lợi ích lâu dài cho cộng đồng. Cho đến nay, các quốc gia trên thế giới đã áp dụng rất nhiều các kỹ thuật khác nhau nhằm xác định mức độ thiệt hại kinh tế của môi trường khi xảy ra suy thoái, sự cố, thiên tai bão lũ. Tuy nhiên, việc lựa chọn các kỹ thuật, qui trình tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của từng quốc gia và từng trường hợp, đồng thời bị giới hạn bởi các yếu tố khác như cơ sở dữ liệu về các hệ sinh thái, các nhóm đối tượng, phạm vi và thời gian tính toán.

2.2.1.1. Cơ sở khoa học lượng giá tổn thất TN-MT


Để đánh giá được các thiệt hại kinh tế của môi trường cần phải có khung tiếp cận đánh giá. Trọng tâm của khung này là mối quan hệ giữa hệ thống sinh thái và hệ thống kinh tế cũng như tổng giá trị kinh tế của môi trường. Khi xảy ra ô nhiễm, suy thoái thì phần tổng giá trị này sẽ bị suy giảm.

a. Mối quan hệ giữa hệ thống sinh thái và hệ thống kinh tế


Theo Gordon (2005), nghiên cứu mối liên hệ giữa hệ sinh thái và hệ thống kinh tế là một điểm quan trọng của quá trình đánh giá giá trị kinh tế của hệ sinh thái do các hoạt động kinh tế của con người phụ thuộc vào các điều kiện sinh thái.

Trước hết, trong hệ sinh thái, tại mọi thời điểm luôn có sự tác động qua lại giữa cấu trúc, quy trình và chức năng của hệ. Cấu trúc của hệ sinh thái bao gồm các thành phần vô cơ và hữu cơ. Các quá trình bao gồm sự chuyển hóa vật chất và năng lượng. Tác động qua lại giữa cấu trúc và các quá trình hình thành lên chức năng của hệ sinh thái. Các chức năng chủ yếu là chức năng sản xuất, chức năng điều tiết, chức năng lưu trữ và chức năng thông tin. Đến lượt mình, các chức năng lại này cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các hệ thống kinh tế của con người.

Theo Pearce và Tunner (1990), giá trị kinh tế là một khái niệm mang tính cụ thể và không phải là chất lượng bản chất của bất cứ thứ gì. Giá trị kinh tế chỉ xuất hiện khi có sự tương tác giữa các chủ thể và khách thể kinh tế. Cụ thể hơn, các thuộc tính môi trường chỉ có giá trị kinh tế khi nó xuất hiện trong hàm lợi ích của một cá nhân (individual utility function) hoặc hàm chi phí của một cá nhân/doanh nghiệp (firm production function). Như vậy, các chức năng của hệ sinh thái tự nó không mang lại giá trị kinh tế, thay vì đó, các chức năng cung cấp các hàng hóa và dịch vụ và việc sử dụng các hàng hóa và dịch vụ đó mới mang lại các giá trị kinh tế cho con người.

b. Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên - môi trường


Phần thứ ba của hình 2.1 trình bày về tổng giá trị kinh tế của một hệ sinh thái và vị trí của tổng giá trị kinh tế trong khung lý thuyết về lượng giá tài nguyên nói chung. Hình 2.2 minh hoạ các thành phần của tổng giá trị kinh tế. Cho đến nay, có rất nhiều các quan điểm về các nhóm giá trị khác nhau trong tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái. Tuy nhiên, điểm chung giữa các quan điểm này là việc chia tổng giá trị kinh tế thành hai nhóm chính là các giá trị sử dụng (use value) và các giá trị phi sử dụng (non use value).

Hình 2.1. Mối quan hệ giữa hệ thống sinh thái và hệ thống kinh tế

Nguồn: Turner (2000)

Theo Turner (1993), giá trị sử dụng được chia thành giá trị sử dụng trực tiếp (direct use value), giá trị sử dụng gián tiếp (indirect use value) và giá trị lựa chọn (option value); giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị lưu truyền (bequest value) và giá trị tồn tại (existence value). Tuy nhiên, trên thế giới, cũng có những cách phân loại và nhìn nhận về tổng giá trị kinh tế khác cách trên. Carson (1989) coi giá trị lưu truyền và giá trị thay thế là một phần của giá trị tồn tại; trong khi đó và Pearce (1989) quan niệm giá trị thay thế là một phần của giá trị lựa chọn. Wilks (1990) thì cho rằng giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị lựa chọn và giá trị bán lựa chọn, giá trị thừa kế và giá trị thay thế. Barbier (1993) đã đưa ra cách phân loại các thành phần của các giá trị, nguyên tắc phân loại được đưa ra trong hình 1.2; nguyên tắc này cũng được lần lượt thừa kế bởi Turner và Pearce (1993) và Turner (1995). Theo đó tổng giá trị kinh tế của môi trường được chia thành hai nhóm chính là giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng.

Giá trị sử dụng bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị tùy chọn


  • Giá trị sử dụng trực tiếp: những hàng hoá dịch vụ do môi trường cung cấp có thể tiêu dùng trực tiếp: gỗ, củi, tôm, cá, dầu mỏ, du lịch.

  • Giá trị sử dụng gián tiếp: là những giá trị, lợi ích từ những dịch vụ do môi trường cung cấp và các chức năng sinh thái như tuần hoàn dinh dưỡng, hấp thụ CO2, điều hoà khí hậu, phòng chống bão lũ.

  • Giá trị tuỳ chọn là những giá trị tiềm năng chưa sử dụng ở hiện tại nhưng có thể sử dụng ở tương lai. Ví dụ: giá trị phát triển du lịch của một quần đảo, giá trị thương mại của dược liệu trong các loài thực vật.

Giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị tồn tại và giá trị lưu truyền

  • Giá trị tồn tại là sự thỏa mãn nằm trong tri thức, cảm nhận của cá khi đơn giản là biết được tài nguyên này đang tồn tại ở một trạng thái nào đó. Ví dụ: giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, giá trị cảnh quan.

  • Giá trị lưu truyền là sự thỏa mãn nằm trong cảm nhận của cá nhân khi biết được thông tin về tài nguyên được hưởng thụ bởi các thế hệ tương lai. Ví dụ: giá trị bảo tồn các loài quí hiếm, bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử cho các thế hệ tương lai.

Hình 2.2. Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên

Nguồn : Turner và Pearce (1993)

c. Thiệt hại môi trường


Dịch vụ môi trường

Trạng thái nền

Dịch vụ bị suy giảm và phục hồi sau sự cố





Thời điểm tác động xảy ra Thời gian

Hình 2.3. Thiệt hại môi trường của ô nhiễm/suy thoái/sự cố

Nguồn: Dixon, 1999

Như vậy, trong điều kiện thông thường nếu không có các sự cố hay suy thoái môi trường xảy ra thì các hệ sinh thái và môi trường là một loại tài sản cung ứng các dòng hàng hóa và dịch vụ cho hệ thống kinh tế (gọi là trạng thái nền baseline services). Tuy nhiên, khi xảy ra sự cố thì các qui trình, cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái sẽ thay đổi, từ đó dẫn đến sự cắt đứt hoàn toàn hoặc giảm sút số lượng và chất lượng dịch vụ cung cấp cho hệ thống kinh tế so với trạng thái thông thường. Sự thay đổi này cũng được thể hiện thông qua những thay đổi trong hàm sản xuất và hàm lợi ích của các cá nhân. Đó chính là các thiệt hại kinh tế của sự cố/ô nhiễm/suy thoái môi trường. Đánh giá thiệt hại môi trường, về lý thuyết phải xác định được sự chênh lệch giữa phúc lợi tạo ra bởi hai trạng thái môi trường trong hàm sản xuất và tiêu dùng của các cá nhân bị tác động. Ví dụ: giá trị du lịch bị giảm do sự cố tràn dầu, giá trị phòng hộ của rừng bị suy giảm sau bão lũ, năng suất nông nghiệp giảm do ô nhiễm đất sau bão,...


2.2.1.2. Các phương pháp lượng giá tổn thất tài nguyên - môi trường


Dựa trên cơ sở lý thuyết kinh tế, các nhà kinh tế thực nghiệm đã xây dựng và phát triển các phương pháp (kỹ thuật) đánh giá giá trị của TN-MT và thiệt hại môi trường. UNEP (2008) phân chia các phương pháp thành ba loại là các phương pháp dựa vào thị trường thực (real market), các phương pháp dựa và thị trường thay thế (surrogate market) và các phương pháp dựa vào thị trường giả định (hypothetical market).




Hình 2.4. Khái quát các phương pháp lượng giá thiệt hại môi trường

a. Phương pháp dựa vào thị trường thực

Phương pháp giá thị trường

Khái niệm

Phương pháp giá thị trường là phương pháp ước lượng giá trị kinh tế của các sản phẩm và dịch vụ hệ sinh thái được trao đổi, buôn bán trên thị trường, cụ thể là lượng giá sự thay đổi về số lượng hoặc chất lượng của hàng hoá, dịch vụ đó. Phương pháp này được sử dụng để đo lường giá trị sử dụng trực tiếp, đặc biệt là các sản phẩm, hàng hoá hệ sinh thái.



Mô tả

Phương pháp này dựa trên giả thiết về thị trường không bị bóp méo bởi sự kiểm soát tỷ giá hối đoái, giá trần hay các loại thuế, trợ cấp hay độc quyền. Khi đó, trong một thị trường hiệu quả, người bán và người mua đều có thông tin đầy đủ về thị trường, và các hàng hoá, dịch vụ. Các sản phẩm đều phản ánh đầy đủ chi phí cơ hội của việc sử dụng nguồn tài nguyên.



Ưu điểm

Đây là phương pháp đơn giản, dễ hiểu nhất để xác định giá trị các hàng hoá của hệ sinh thái dựa vào giá thị trường của chúng. Phương pháp này phản ánh người dân sẽ sẵn lòng chi trả bao nhiêu cho các sản phẩm từ hệ sinh thái được mua bán trên thị trường.



  • Thu thập dữ liệu về giá thị trường, lượng mua, bán và chi phí tương đối đơn giản.

  • Phương pháp này sử dụng các số liệu quan sát được về sự ưa thích của người tiêu dùng.

Hạn chế

  • Phương pháp này khó áp dụng với các hàng hoá từ hệ sinh thái do nhiều loại trong số chúng không có giá trên thị trường.

  • Mặt khác, giá trên thị trường thường bị bóp méo do thuế, trợ cấp, độc quyền, thông tin không hoàn hảo và nhiều loại thất bại thị trường khác, do vậy nó không phản ánh giá trị thực của các sản phẩm hệ sinh thái.
Phương pháp thay đổi năng suất (productivity change)

Khái niệm:

Phương pháp này coi sự thay đổi trong năng suất là cơ sở đo lường giá trị, đồng thời sử dụng giá thị trường để tính toán đầu vào và đầu ra trong sản xuất và lượng giá những thay đổi vật lý trong quá trình này. Ví dụ: Phương pháp này được sử dụng để đo lường sự suy giảm sản lượng mùa vụ do xói mòn đất hoặc nhiễm mặn đất gây ra.



Mô tả:

Sử dụng phương pháp thay đổi năng suất cần tiến hành theo hai bước cơ bản và các vấn đề cần lưu ý trong mỗi bước như sau:

Bước 1: Xác định phạm vi và qui mô thay đổi năng suất

Vấn đề quan trọng nhất trong phương pháp này là phải xác định được các tác động môi trường do sự cố gây ra đối với hệ sinh thái, sau đó tìm hiểu mối quan hệ nhân quả giữa sự suy giảm tính chất của môi trường với các dòng hàng hóa mà nó cung cấp. Ví dụ bão lũ có thể gây ra xói mòn, nhiễm mặn đất; sự nhiễm mặn này sau đó sẽ làm giảm năng suất cây trồng trên diện tích đất canh tác bị nhiễm mặn.

Cũng có thể ước tính mức độ năng suất suy giảm thông qua so sánh năng suất trung bình trước và sau khi có sự cố hoặc năng suất tại các điểm đối chứng thông qua điều tra số liệu thứ cấp và sơ cấp.

Bước 2: Gán giá thị trường cho những tổn thất.

Sử dụng giá thị trường để đo lường những tổn thất năng suất, sản lượng trong sản xuất hoặc chi phí đầu vào gia tăng khi có các sự cố xảy ra. Ví dụ, sử dụng giá thị trường để tính giá trị năng suất lúa bị giảm do nhiễm mặn đất gây ra bởi nước biển dâng sau bão.

Ưu điểm


  • Đây là phương pháp lượng giá các tác động ít gây tranh cãi. Cơ sở áp dụng phương pháp này khá đơn giản, có thể dễ dàng giải thích và chứng minh được. Phương pháp này khá đơn giản vì sử dụng giá thị trường để đo lường tổn thất trong sản xuất hoặc chi phí đầu vào gia tăng.

  • Do dữ liệu không khó thu thập nên phương pháp này không tốn chi phí.

Hạn chế

  • Sử dụng giá thị trường có thể đem lại kết quả sai do sự can thiệp của chính phủ gây bóp méo thị trường như thuế, trợ cấp, bảo hộ nhập khẩu hoặc do độc quyền.

  • Trong nhiều trường hợp, sự thay đổi trong sản xuất không đủ lớn để biến đổi giá thị trường. Tuy nhiên, khi sự thay đổi đó là đủ lớn thì việc giá thị trường thay đổi sẽ làm phân tích khó khăn hơn.
Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được (Avoided Cost - AC)

Trong rất nhiều trường hợp, hệ sinh thái ĐNN có khả năng phòng hộ, bảo vệ được các tài sản có giá trị kinh tế cho con người. Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được sử dụng thông tin về những thiệt hại có thể tránh được hoặc giá trị của những tài sản được ĐNN bảo vệ khi có những biến cố môi trường xảy ra như là lợi ích của hệ sinh thái. Ví dụ, nếu một khu RNM có khả năng phòng hộ bão cho cộng đồng thì giá trị của khu RNM đó có thể được tính bằng những thiệt hại về tài sản mà cộng đồng tránh được nếu cơn bão xảy ra trong trường hợp không có rừng bảo vệ.

Phương pháp này đặc biệt hữu dụng trong việc đánh giá giá trị của các vùng ĐNN có chức năng bảo vệ tự nhiên. Từ đó cung cấp cho các nhà quản lý luận điểm, bằng chứng để đầu tư cho công tác bảo tồn ĐNN. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp cũng có một số vấn đề. Thứ nhất, việc thu thập các thông tin tổng thể về thiệt hại để so sánh giữa vùng được bảo vệ bởi dịch vụ sinh thái và vùng đối chứng khi có sự cố xảy ra là rất tốn kém về thời gian và kinh phí vì những tác động có thể là trực tiếp, gián tiếp và lâu dài. Ngoài ra, việc xây dựng các mô hình để ước tính qui mô tác động của sự cố khi không có hệ sinh thái ĐNN bảo vệ cũng đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp hoặc các thông tin chi tiết.


Phương pháp chi phí thay thế (Replacement Cost - RC)

Phương pháp chi phí thay thế ước lượng giá trị của các dịch vụ sinh thái ĐNN xấp xỉ bằng với chi phí để cung ứng hàng hoá và dịch vụ tương đương do con người tạo ra. Ví dụ, giá trị của một vùng ĐNN hoạt động như một vùng hồ tự nhiên có thể được ước lượng bằng chi phí xây dựng và hoạt động của một hồ nhân tạo có chức năng tương tự. Phương pháp này thường được sử dụng để xác định giá trị gián tiếp của ĐNN thông qua việc tìm hiểu giá thị trường của các dịch vụ tương đương do con người tạo ra.

Theo Dixon (1993), phương pháp này đặc biệt hữu ích cho việc lượng giá các dịch vụ của ĐNN, khá đơn giản trong ứng dụng do không phải thực hiện các cuộc điều tra chi tiết. Tuy nhiên, nhược điểm chính của phương pháp này là đôi khi rất khó tìm được các hàng hóa nhân tạo thay thế tương đương cho các hàng hoá và dịch vụ sinh thái. Từ đó, phương pháp chi phí thay thế có thể không đưa ra những đo lường giá trị kinh tế một cách chính xác mà thường là đánh giá quá cao hoặc quá thấp giá trị của ĐNN.


b. Các phương pháp dựa vào thị trường thay thế


Thực tế cho thấy, có một số hàng hóa và dịch vụ của ĐNN mặc dù có được mua bán, giao dịch trên thị trường nhưng giá thị trường không phản ánh đầy đủ giá trị của các hàng hóa và dịch vụ này. Khi đó, người ta phải xác định giá trị của hàng hóa, dịch vụ mà ĐNN cung cấp dựa vào việc phân tích thông tin trên thị trường thay thế. Có hai phương pháp truyền thống thuộc nhóm này là chi phí du lịch và giá trị hưởng thụ.
Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method – TCM)

Chi phí du lịch là phương pháp được thiết kế và áp dụng để đánh giá giá trị giải trí của môi trường và các hệ sinh thái. Giả thiết cơ bản của TCM rất đơn giản, đó là chi phí bỏ ra để tham quan một điểm du lịch giải trí phần nào phản ánh được giá trị giải trí của nơi đó. Mặc dù không quan sát trực tiếp được sự mua bán chất lượng hàng hoá môi trường của du khách nhưng chúng ta có thể thu nhận được thông tin về hành vi và sự lựa chọn của du khách để hưởng thụ TN-MT. Thông qua việc ước lượng đường cầu du lịch cá nhân hoặc đường cầu thị trường, các nhà kinh tế sẽ tính được phần phúc lợi của cá nhân hay xã hội thu được khi tham gia thị trường du lịch tại điểm xem xét.

Hiện nay có hai cách tiếp cận chi phí du lịch phổ biến là chi phí du lịch theo cá nhân và chi phí du lịch theo vùng. Trong cả hai trường hợp, đường cầu du lịch đều được ước lượng thông qua chuỗi số liệu về mối quan hệ giữa số lần tham quan của một cá nhân/hoặc tỷ lệ tham quan của một vùng (được coi là xấp xỉ của lượng giải trí) với chi phí du lịch của cá nhân/hoặc chi phí du lịch trung bình của vùng (được coi là xấp xỉ cho giá giải trí). Tổng lợi ích kinh tế của địa điểm đối với khách du lịch được tính bằng thặng dư tiêu dùng hay chính là phần diện tích dưới đường cầu.

Desvousges (1998) có chỉ ra một số ưu nhược điểm khi áp dụng TCM. Về ưu điểm, đây là phương pháp dễ được chấp nhận về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn do dựa trên mô hình đường cầu truyền thống và mối quan hệ giữa chất lượng hàng hoá môi trường với chấp nhận chi trả thực tế để hưởng thụ giá trị hàng hoá của du khách.

Tuy nhiên, cũng có một số trở ngại khi áp dụng TCM. Thứ nhất là vấn đề đa mục đích (multiple purpose trip) có thể phát sinh khi du khách đi tham quan nhiều điểm trong cùng một chuyến đi và vì vậy chi phí du lịch toàn bộ không phản ánh giá trị du lịch tại một điểm cụ thể. Ngoài ra, khi điểm du lịch có sự hiện diện của khách quốc tế thì việc phân vùng và tính toán chi phí của từng vùng là khá phức tạp do cả vấn đề du lịch đa mục đích và ước tính tỷ lệ du lịch.


Phương pháp giá trị hưởng thụ (Hedonic Pricing Method – HPM)

Phương pháp giá trị hưởng thụ được sử dụng để ước tính giá trị của môi trường ẩn trong giá thị trường của một số loại hàng hóa và dịch vụ thông thường. Ví dụ, giá trị cảnh quan môi trường được ẩn trong giá bán hoặc thuê bất động sản. Phương pháp này được phát triển từ cơ sở lý thuyết về thuộc tính giá trị của Lancaster (1966) trong đó lợi ích của mỗi cá nhân khi tiêu dùng một loại hàng hóa phụ thuộc vào các thuộc tính của hàng hóa (attributes). Nếu chất lượng môi trường là một thuộc tính của hàng hóa thì thông qua mô hình hóa mối quan hệ giữa mức sẵn sàng chi trả cho hàng hóa của các cá nhân với các thuộc tính của hàng hóa, ta có thể tách được phần tác động và giá trị của các thuộc tính môi trường trong lợi ích cá nhân.

Mặc dù được áp dụng khá phổ biến nhưng phương pháp HPM có một số các nhược điểm nhất định. Thứ nhất, để đảm bảo độ tin cậy thì HPM đòi hỏi một số lượng dữ liệu rất lớn để chạy mô hình. Ví dụ, nghiên cứu về thị trường bất động sản cần có các mảng dữ liệu về giá bất động sản ở nhiều khu vực, các thuộc tính của bất động sản, các giao dịch thị trường thực tế trong một khoảng thời gian đủ lớn. Thông thường các thuộc tính môi trường của bất động sản rất ít khi được ghi chép khi tiến hành giao dịch, vì vậy phải kết hợp dữ liệu thuộc tính thông thường với dữ liệu thông tin địa lý (GIS) để hoàn thiện bộ số liệu. Thường thì HPM chỉ được áp dụng tại các quốc gia phát triển với hệ thông cơ sở dữ liệu đầy đủ. Thứ hai, một vấn đề mang tính thống kê có thể phát sinh khi xử lý số liệu là đa cộng tuyến (multicollinearity) khi hai hay nhiều biến độc lập trong mô hình có quan hệ tương quan lớn hoặc tương quan với thuộc tính môi trường. Điều này làm cho việc diễn giải tác động đơn lẻ của từng thuộc tính đến giá hàng hóa là rất khó khăn.


c. Các phương pháp dựa vào thị trường giả định


Với những hàng hóa và dịch vụ của ĐNN không có thị trường và không có giá cả, các nhà nghiên cứu phải xây dựng các thị trường giả định và quan sát hành vi của cá nhân trên các thị trường này để tính phúc lợi khi tham gia thị trường, từ đó ước tính giá trị của các hàng hóa và dịch vụ môi trường. Nhóm phương pháp này thường được sử dụng để xác định các giá trị phi sử dụng của ĐNN.
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contigent Valuation Method - CVM)

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên được phát triển bởi Davis (1963) trong lĩnh vực phân tích marketing, sau đó được chuyển sang áp dụng trong đánh giá môi trường Thông qua việc xây dựng các kịch bản về giả định về chất lượng môi trường và thu thập thông tin về hành vi và sự lựa chọn tiêu dùng của cá nhân đối với kịch bản giả định này, chúng ta có thể ước lượng được sự thay đổi trong phúc lợi của cá nhân khi chất lượng môi trường thay đổi. Từ đó tính được thặng dư tiêu dùng của cá nhân khi tham gia thị trường giả định; lợi ích này đo lường giá trị của môi trường đối với chính cá nhân đó. Phương pháp này thường được sử dụng để lượng giá các giá trị phi sử dụng của môi trường vì các giá trị này thường không có thị trường giao dịch.

Mặc dù CVM có rất nhiều biến thể khác nhau và ngày càng được hoàn thiện thì vẫn có một qui trình chung gồm một số bước cơ bản là (i) Xác định nhóm đối tượng và phạm vi đánh giá. (ii) Xây dựng dự thảo bảng hỏi và điều tra thử để điều chỉnh bảng hỏi và cách tiếp cận lấy số liệu. (iii) Xây dựng bảng hỏi chi tiết bao gồm các thông tin về thị trường giả định, tình huống giả định, phương tiện chi trả và câu hỏi về sự sẵn sàng chi trả. (iv) Thu thập số liệu hiện trường và xử lý dữ liệu. (v) Tính toán phúc lợi dựa trên mô hình thực nghiệm và suy rộng kết quả tính toán.

Về ưu điểm, CVM cho phép xác định các giá trị khó lượng hóa của TN-MT. Cách tiếp cận đánh giá được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về độ thỏa dụng và hàm cầu cá nhân, vì vậy mang tính hợp lệ về lý luận. Ngoài ra, thông tin ước lượng nếu được tiến hành với qui trình chuẩn mực, có độ tin cậy cao có thể sử dụng trong hoạch định các chính sách, công cụ quản lý tài nguyên.

Tuy nhiên, như đã nêu, phương pháp này cho đến nay vẫn gặp sự phê phán rất nhiều do tính chất giả định của nó. Vì vậy nhược điểm lớn nhất của phương pháp là người trả lời không tham gia một tình huống thực tế mà chỉ là giả định. Vì vậy, động cơ chi trả và mức chi trả có thể rất sai lệch so với khi họ phải đối mặt với một tình huống thực. Carson (1993) có nhận diện 4 loại sai lệch chính khi áp dụng phương pháp gồm sai lệch giả định (hypothetical bias), sai lệch chiến lược (strategic bias), sai lệch thiết kế (designing bias) và sai lệch xuất phát điểm (starting bias). Các sai lệch này có thể được giảm thiểu qua những kỹ thuật trong thiết kế và điều tra. Một nhược điểm nữa khi áp dụng phương pháp là sự tốn kém về thời gian và kinh phí do đòi hỏi sự tham gia của nhiều chuyên gia, họp nhóm tư vấn thảo luận, điều tra thử tại hiện trường, điều chỉnh câu hỏi, và một kích cỡ mẫu lớn.


Phương pháp mô hình lựa chọn (Choice Modelling –CM)

Mô hình lựa chọn là phương pháp lượng giá thông qua tuyên bố về sở thích được sử dụng để đánh giá giá trị phi sử dụng của tài nguyên thông qua việc xây dựng hai hay nhiều kịch bản giả định, mỗi kịch bản có nhiều thuộc tính khác nhau (attributes). Thông qua sự lựa chọn của cá nhân với từng kịch bản, nhà nghiên cứu có thể ước lượng được phúc lợi cá nhân khi tham gia kịch bản và sự đánh đổi về giá trị giữa các thuộc tính trong các kịch bản.

Phương pháp CM được xây dựng dựa trên thuyết lợi ích ngẫu nhiên của Manski (1977) và thuyết thuộc tính của giá trị của Lancaster (1966). Hai lý thuyết này cho phép lượng giá các hàng hoá môi trường dưới dạng các thuộc tính của chúng thông qua việc áp dụng mô hình lựa chọn xác suất để chọn ra cách kết hợp các thuộc tính đó. Bằng cách đặt cho mỗi thuộc tính một mức giá hoặc mức chi phí thì các ước lượng về lợi ích biên sẽ được chuyển thành các ước lượng về tiền tệ đối với mỗi sự thay đổi các mức độ của thuộc tính.

Qui trình tiến hành CM cũng bao gồm một số bước giống như CVM. Về ưu điểm, CM cho phép đánh giá giá trị của nhiều kịch bản lựa chọn khác nhau cũng như sự đánh đổi trong các thuộc tính của từng kịch bản, từ đó cho phép nhà quản lý nhiều ý tưởng để lựa chọn hướng quản lý môi trường khi đã có kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, CM vẫn là phương pháp phân tích dựa trên kịch bản giả định, từ đó vẫn phát sinh vấn đề sai lệch giả định đối với người được phỏng vấn trong khi trả lời. Ngoài ra, CM đòi hỏi quá trình xây dựng phiếu điều tra phức tạp do mỗi kịch bản có nhiều thuộc tính, việc xác định qui mô của mỗi thuộc tính phải dựa vào các bằng chứng khoa học và ý kiến dự đoán sâu của các chuyên gia có chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm thực tiễn.

d. Phương pháp chuyển giao lợi ích

Phương pháp chuyển giao lợi ích là phương pháp được dùng để ước tính các giá trị kinh tế cho những dịch vụ của hệ sinh thái bằng cách chuyển những ước tính hiện hành của giá trị môi trường từ nơi này sang nơi khác (cụ thể ở đây là từ nơi nghiên cứu sang nơi hoạch định chính sách). Phương pháp này được sử dụng khi không đủ thời gian, nguồn vốn hoặc thiếu thông tin, không thể thực hiện các cách đánh giá lợi ích khác bằng dữ liệu sơ cấp. Chẳng hạn, giá trị phòng chống thiên tai hay bảo tồn ĐDSH ở một vùng ĐNN cụ thể có thể được ước tính bằng cách sử dụng các giá trị đã tính có điều chỉnh từ một nghiên cứu được tiến hành ở nơi khác.

Liên quan đến việc chuyển giao các đơn vị lợi ích từ nơi nghiên cứu tới nơi hoạch định chính sách. Hầu hết các phương pháp chuyển giao được dùng cho đến nay bao gồm cách tiếp cận giá trị lợi ích hoặc hàm lợi ích.

Cách tiếp cận giá trị lợi ích

Trong ứng dụng cơ bản nhất của phương pháp giá trị lợi ích, ước tính có giá trị vô hướng (WTP trung bình hay trung vị/đơn vị bị tác động) thể hiện kết quả của nghiên cứu hiện hành, hoặc việc lựa chọn những nghiên cứu hiện hành mà được tiến hành ở một nơi cụ thể.

Chẳng hạn, thặng dư tiêu dùng trung bình /một chuyến đi câu cá có thể được rút ra từ một nghiên cứu chi phí du lịch. Giá trị đơn vị này sau đó có thể được dùng để đánh giá một thay đổi trong chất lượng hay trong việc cung cấp thêm các cơ hội câu cá giải trí ở những vị trí khác. Đặc biệt, tổng chi phí/lợi ích của một sự thay đổi trong các cơ hội câu cá giải trí ở địa điểm cần hoạch định tương đương với thay đổi dự đoán trong số chuyến đi câu được tạo ra cho địa điểm tăng thêm bởi thặng dư tiêu dùng trung bình/chuyến đi câu.

Để nâng cao chất lượng chuyển giao giá trị lợi ích có thể phải điều chỉnh những ước tính định giá vô hướng. Những điều chỉnh này thường mang tính chất đặc thù và thường phản ánh ý kiến chủ quan của người phân tích. Đánh giá có thể được điều chỉnh tính đến những khác biệt về:

- Đặc điểm kinh tế xã hội của những người có liên quan

- Đặc điểm tự nhiên của địa điểm nghiên cứu và hoạch định

- Thay đổi được đề xuất trong việc cung cấp hàng hoá được đánh giá giữa các địa điểm

- Những điều kiện thị trường áp dụng cho các nơi (thay đổi về khả năng sẵn có của những vật thay thế)

Một dạng được sử dụng rộng rãi để chuyển giao là:

WTPj = WTPi(Yj/Yi)e

Trong đó:



Y: thu nhập theo đầu người

e: Độ co giãn của WTP theo thu nhập.

Trọng số điều chỉnh nói chung được sử dụng là thu nhập. Nhưng phải thực hiện một điều chỉnh tương tự cho những thay đổi trong các đặc điểm khác (ví dụ dân cư)



Cách tiếp cận hàm lợi ích

Với cách tiếp cận này, mối quan hệ giữa WTP và những đặc điểm của người bị tác động và nguồn tài nguyên được đánh giá là về mặt lý thuyết. Hàm tổng thể sau đó được chuyển giao tới nơi hoạch định và điều chỉnh sao cho càng phù hợp hơn đối với các đặc điểm dân cư và tài nguyên tại nơi đó. Hàm đánh giá đã điều chỉnh được dùng để đánh giá những thay đổi về chất lượng hay việc cung cấp tài nguyên đã nói đến - dữ liệu từ nơi hoạch định được thay thế cho vế bên phải các biến số trong hàm đánh giá.

Hàm lợi ích:

WTPi = f (SCi)

Trong đó: WTPi là mức sẵn sàng chi trả của cá nhân tại địa điểm i để cải thiện hoặc tránh sự suy giảm chất lượng môi trường.

F (SCi) là hàm số các đặc điểm kinh tế, xã hội của cá nhân như thu nhập, giới tính, trình độ học vấn, khả năng nhận thức về môi trường.

Khi chuyển giao lợi ích, nhóm nghiên cứu có thể sử dụng hoặc điều chỉnh các hệ chặn trong hàm f (SCi) số tùy thuộc vào hoàn cảnh rồi thu thập các giá trị cụ thể của SC tại điểm hoạch định chính sách và gán vào các hệ số đã điều chỉnh để ước lượng các mức chi trả tương ứng. Phương pháp này được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia đang phát triển khi đánh giá các giá trị của môi trường bằng cách nhập và điều chỉnh các giá trị lượng giá sẵn có tại các quốc gia đã phát triển.


2.2.2. Cách tiếp cận và các mô hình lượng giá tổn thất TN-MT áp dụng cho vịnh Tiên Yên

2.2.2.1. Cách tiếp cận

Nghiên cứu sử dụng 2 cách tiếp cận lượng giá thiệt hại cơ bản:
Cách tiếp cận 1:

So sánh giá trị được đánh giá của TN-MT tại hai thời điểm (A và B) trong chuỗi thời gian. Phần chênh lệch tuyệt đối giữa giá trị tại hai thời điểm sẽ cho biết sự biến động trong giá trị đánh giá của tài nguyên: có thể dương (tăng lên) hoặc âm (giảm đi).
Cách tiếp cận 2:

Đánh giá giá trị tài nguyên tại một thời điểm rồi kết hợp với những phân tích về sự biến động vật lý của tài nguyên để đánh giá giá trị bị tổn thất trong một giai đoạn xác định.

Trong phạm vi nghiên cứu, cả ba nhóm giá trị là sử dụng trực tiếp, sử dụng gián tiếp và phi sử dụng được lượng giá thiệt hại. Tuy nhiên, trong mỗi nhóm giá trị, sẽ có những loại giá trị được phân tích và đánh giá sâu hơn do mang tính chất đặc trưng tại khu vực nghiên cứu và mức độ sẵn có của nguồn dữ liệu đầu vào.



Bảng 2.1. Khái quát các phương pháp lượng giá tổn thất TN-MT

STT

Phương pháp

Loại đối tượng cần lượng giá

1

Giá thị trường

Lâm sản, thủy hải sản, dược liệu, phân bón, năng lượng, giao thông thủy, khai thác khoáng sản, phát triển đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, lắng đọng trầm tích, ổn định vi khí hậu

2

Chi phí du lịch/giá thị trường

Giá trị sử dụng trực tiếp của du lịch

3

Chi phí thiệt hại tránh được (cost avoided)

Lưu giữ và đồng hóa chất thải, chắn sóng, gió bão, bảo vệ bờ biển

4

Chi phí thay thế

Điều tiết nước ngầm

5

Mô hình hàm sản xuất hộ gia đình

Cung cấp, tích lũy và tái tạo chất dinh dưỡng

6

Mô hình đánh giá ngẫu nhiên

Duy trì ĐDSH, nơi cư trú, nơi kiếm ăn, bãi đẻ cho sinh vật, nghiên cứu và giáo dục
2.2.2.2.. Các mô hình lượng giá tổn thất tài nguyên - môi trường
Mô hình giá thị trường

Phương pháp giá thị trường để ước lượng thặng dư sản xuất từ việc khai thác, NTTS. Về bản chất, thặng dư sản xuất là sự chênh lệch giữa giá bán của sản phẩm và chi phí để sản xuất sản phẩm đó và thể hiện phần đóng góp của NTTS trong việc tao ra giá trị sản phẩm. Thặng dư sản xuất được tính theo công thức:

Trong đó Vi: Thặng dư sản xuất của sản phẩm thứ i



Pi: Giá sản phẩm thứ i

Qi: Lượng sản phẩm i khai thác, sản xuất

Ci: Chi phí liên quan đến quá trình khai thác, sản xuất sản phẩm i
Mô hình chi phí du lịch

Phương pháp chi phí du lịch (TCM) sử dụng thông tin về sự lựa chọn và các hành vi du lịch của du khách để ước lượng đường cầu đối với các nơi vui chơi giải trí, từ đó đánh giá giá trị cho các cảnh quan này. Giả thiết cơ bản của TCM là chi phí phải bỏ ra để tham quan một điểm du lịch giải trí, phần nào phản ánh được giá trị giải trí của nơi đó.

Đối với một cá nhân, hàm lợi ích có dạng :



Max U (x, n, q)

với ràng buộc: M + (w.T) = x + (pn.n)

Trong đó :


U : hàm lợi ích cá nhân

x : chi tiêu cho các hàng hóa khác

n : số lần đi tham quan, du lịch

M : thu nhập ngoài lao động

T : tổng quĩ thời gian

q : chất lượng nơi du lịch

w : tiền lương

P: tổng chi phí cho một lần tham quan

Bài toán hàm mục tiêu trên khi giải sẽ cho hàm cầu có dạng :

n* (pn, M, q)

Về thực nghiệm, có thể ước lượng được hàm cầu cá nhân trực tiếp, trong đó số lần tham quan là một hàm số phụ thuộc vào các biến độc lập như chi phí du lịch, sở thích, giới tính, thu nhập.

Hàm cầu cá nhân tuyến tính có dạng :

n = B0 pn + B1x1 + B2x2 +...+Bmxm

Trong đó n là số lần tham quan của một du khách, n phụ thuộc vào chi phí du lịch và các biến kinh tế - xã hội của cá nhân.

Khi số lần đi tham quan của cá nhân đến điểm tham quan là không nhiều trong một khoảng thời gian nào đó thì có thể ước lượng hàm cầu du lịch theo vùng (ZTCM). Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát tới vị trí nghiên cứu với tổng chi phí du lịch của vùng xuất phát.

Vi = V(TCi, POPi, Si)

Trong đó : Vi: Số lần viếng thăm từ vùng i tới điểm du lịch

POPi: Dân số của vùng i

Si: Các biến kinh tế xã hội của mỗi vùng.

Thông thường biến phụ thuộc được biểu hiện dưới dạng (Vi/POPi) hay tỉ lệ số lần tham quan trên 1000 dân.

Mô hình hàm sản xuất hộ gia đình Cobb-Douglas

Mô hình được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của RNM đối với năng suất NTTS. Các thông tin thu thập sẽ giúp ước lượng các tham số của mô hình này.

Hàm sản xuất tổng quát có dạng:



Y = KaLb

Trong đó, sản lượng Y được mô tả là hàm của các yếu tố đầu vào. Các yếu tố đầu vào được chia thành 2 nhóm chính là vốn (K) và lao động (L).

Hàm ước lượng bình phương nhỏ nhất sẽ có dạng:

LnY = alnK+ blnL

Trong mô hình thực nghiệm, nghiên cứu sử dụng kết hợp giữa ý tưởng của mô hình lý thuyết và phương trình hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng để xem tác động của những yếu tố nội và ngoại sinh tới năng suất nuôi tôm, trong đó ngoài vốn và lao động là hai yếu tố truyền thống, mô hình có lồng ghép thêm yếu tố ngoại sinh là diện tích RNM trong ao.

Sử dụng dạng hàm Cobb-Douglas mở rộng ta có:

LnY = a*lnK + b*lnL + c*LAND + d*FOREST



Bảng 2.2. Giải nghĩa các biến số trong mô hình hàm sản xuất

Tên biến

Ký hiệu

Giải nghĩa

Đơn vị

Sản lượng tôm

Y

Năng suất tôm thu hoạch trên 1 hecta ao nuôi

kg/hecta/năm

Chi phí

CAPITAL

Chi phí ngoài lao động trên 1 ha ao nuôi

Nghìn đồng

Lao động

LABOR

Tổng số ngày lao động trên mỗi ha ao nuôi một năm

Số ngày lao động/ha/năm

Diện tích nuôi

AREA

Diện tích ao nuôi

Hecta

RNM

FOREST

Tỷ số giữa diện tích RNM trong ao so với tổng diện tích của ao nuôi

%

Biến giả

DUMMY

Biến giả phân biệt giữa ao nuôi quảng canh và ao nuôi sinh thái

Nuôi quảng canh = 0

Nuôi sinh thái = 1



Với những biến số trên, hàm sản xuất chung cho một quan sát thứ i có dạng:

ln(Yi) = a1 + a2DUMMYi + a3lnLABORi + a4lnCAPITALi + a5lnAREAi+ a6DUMMYi*FORESTi
Mô hình tham số ngẫu nhiên (Random Utility Model- RUM)

Mô hình được sử dụng để ước lượng mức sẵn sàng chi trả của cộng đồng (lợi ích của cộng đồng) cho bảo tồn các giá trị phi sử dụng nghiên cứu tại khu vực.

Gọi Vij, là lợi ích (utility) của hộ gia đình thứ j cho việc lựa chọn bảo tồn hoặc cải thiện chất lượng của ĐNN theo phương án thứ i. Trong đó i = 1 là môi trường được cải thiện, còn i = 0 là giữ nguyên hiện trạng. Vij là một hàm số của các thuộc tính của lợi ích từ bảo tồn ĐNN và các đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ gia đình:

Vij = Vi(Mj, zj, ij) (1)

Trong đó Mj là thu nhập của hộ gia đình thứ j, zj là một vector của các đặc điểm kinh tế- xã hội hộ gia đình và các thuộc tính của ĐNN, ij là các sai số ngẫu nhiên. Câu hỏi nhị phân sẽ yêu cầu người trả lời lựa chọn giữa việc cải thiện chất lượng ĐNN hoặc giữ nguyên hiện trạng với một chi phí phải trả hàng tháng là t.

Để đo phúc lợi của người tham gia thị trường, mô hình logarithmic utility model được sử dụng. Trong khi mô hình lợi ích ngẫu nhiên (random utility model) với hàm số thu nhập tuyến tính giả định rằng lợi ích cận biên của thu nhập (marginal utility of income) là cố định trong tất cả các phương án mà câu hỏi lựa chọn đưa ra thì mô hình logarithmic utility model cho phép biến số này thay đổi khi thu nhập thực tế thay đổi.

Xác xuất để câu trả lời là “Có” đối với kịch bản “thay đổi” đề ra được tính như sau:



(2)

hay (3)

Giả sử biến số ngẫu nhiên j phân bố chuẩn với giá trị trung bình là 0 và phương sai là 2 thử hàm số phân phối của câu trả lời “Có” là:

(4)

Phần được gọi là thu nhập chuẩn. Vector tham số {/,/} có thể được ước lượng thông qua việc chạy mô hình probit/binary trên dữ liệu ma trận , từ đó cho phép tính giá trị trung bình của WTP



(5)



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương