ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo


Nuôi trồng, khai thác thủy sản



tải về 1.54 Mb.
trang5/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

1.3.3. Nuôi trồng, khai thác thủy sản


Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản là ngành lợi thế của khu vực nghiên cứu. Là vùng ven biển, có nhiều bãi bồi, có tài nguyên nước phong phú với nguồn nước ngọt quanh năm nên điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc nuôi trồng và khai thác thuỷ sản bao gồm cả nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và hải sản biển. Bên cạnh đó, các huyện cũng đã chỉ đạo tích cực việc chia nhỏ đầm thuỷ sản để nâng cao hiệu quả trên diện tích nuôi trồng, quy hoạch vùng nuôi thuỷ sản theo phương pháp thâm canh và thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ cho phát triển thuỷ sản. Nhờ vậy, sản lượng, giá trị ngành thuỷ sản của khu vực trong mấy năm qua liên tục tăng.

Hoạt động NTTS diễn ra có quy mô, có quy hoạch cụ thể, nhất là các huyện Tiên Yên, Hải Hà. Huyện Tiên Yên có khoảng 1.000 ha bãi triều phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực các xã ven biển Đồng Rui, Hải Lạng, Đông Hải. Tổng sản lượng khai thác mỗi năm đạt 650 - 750 tấn/năm, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt từ 200 - 250 tấn/năm.

Tại huyện Tiên Yên, dải RNM ven biển trên 3.400 ha ở các xã Đông Hải, Đông Ngũ, Đồng Rui, Tiên Lãng, Hải Lạng được khoanh nuôi, bảo vệ, bảo tồn tính đa dạng sinh học. Thuỷ sản vốn là ngành truyền thống, mũi nhọn trong phát triển kinh tế nên huyện đã đề ra mục tiêu tiếp tục quan tâm đầu tư để thuỷ sản trở thành ngành sản xuất hàng hoá theo quy mô lớn. Các xã Đông Ngũ, Hải Lạng, Tiên Lãng, Đông Hải, Đồng Rui là vùng nuôi tôm công nghiệp và nuôi nhuyễn thể trong bãi triều RNM dọc cửa sông Cái Mắm, Chùa Sâu... Gần 100ha vùng trồng lúa kém hiệu quả ở các xã Đông Hải, Đông Ngũ, Tiên Lãng sẽ được chuyển sang vùng NTTS nước ngọt. Đặc biệt xã Tiên Lãng được xác định là trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá phục vụ cho hoạt động khai thác, đánh bắt tuyến khơi của người dân.

Những năm gần đây, huyện Hải Hà đã tổ chức tập trung đánh bắt và NTTS có hiệu quả. Năm 2006, sản lượng khai thác và nuôi trồng đạt 10.050 tấn, bằng 109,06% kế hoạch; trong đó sản lượng khai thác đạt 6.050 tấn, bằng 129,83% kế hoạch và sản lượng nuôi trồng đạt 4.000 tấn, bằng 87,82% kế hoạch. Giá trị sản xuất ngành ngư nghiệp đạt 80.815 triệu đồng, bằng 118,41% kế hoạch. Nhìn chung, tình hình khai thác và NTTS đang có chiều hướng phát triển tốt. Sản lượng khai thác tăng, nuôi trồng đang hướng tới những sản phẩm có giá trị kinh tế cao.

Ở huyện Đầm Hà, tổng diện tích sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản năm 2005 là 318,0 ha. Diện tích nuôi trồng liên tục tăng qua các năm: năm 2000 – 136,4 ha, năm 2001 – 150,0 ha, năm 2002 – 198,7 ha, năm 2003 – 221,0 ha, năm 2004 – 274,3 ha và năm 2005 – 318,0 ha. Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản tập trung chủ yếu ở một số xã ven biển như Tân Bình (140,1 ha – năm 2005), Đầm Hà (108,7 ha – năm 2005); các xã còn lại có diện tích nuôi trồng ít, có xã chỉ khoảng vài ha như xã Quảng Lâm (4,4 ha), xã Quảng Lợi (2,6 ha). Sản lượng nuôi trồng cũng như đánh bắt của huyện Đầm Hà nhìn chung tăng qua các năm, trong đó cá là loại được khai thác nhiều nhất.

Sản phẩm chính của nuôi trồng thuỷ sản là cá, tôm, cua là những sản phẩm thuỷ sản có giá trị cao. Toàn khu vực hiện đã có 11 trại giống thuỷ sản nước lợ, 1 trại giống thuỷ sản nước ngọt, bình quân hàng năm đã sản xuất 120 triệu tôm giống, 4,5 triệu cua biển giống, 6,5 triệu cá giống các loại. Nguồn giống sản xuất đa dạng, cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất trong khu vực. Trong tương lai, ngành nuôi trồng thuỷ sản sẽ còn tiếp tục phát triển vì đây là ngành có tiềm năng phong phú, lại được quan tâm đầu tư áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng và sản xuất.


1.3.4. Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng


Hoạt động công nghiệp ở khu vực vịnh Tiên Yên phát triển chưa mạnh, bao gồm: nhà máy giấy Tiên Lãng (huyện Tiên Yên), khai thác cát, đá xây dựng, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, sơ chế chè (huyện Hải Hà), chế biến, khai thác vật liệu xây dựng (huyện Đầm Hà). Các cơ sở sản xuất công nghiệp này đều có quy mô nhỏ, chưa được đầu tư phát triển một cách toàn diện. Các hoạt động thương mại, dịch vụ tập trung chủ yếu ở các thị trấn Quảng Hà, Đầm Hà, Tiên Yên và một số điểm ở cảng Mũi Chùa (xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên). Đa số các hộ kinh doanh nhà hàng, khách sạn, dịch vụ theo quy mô nhỏ lẻ, hầu hết theo hình thức tư nhân và cá thể.

Năm 2007, tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện Hải Hà là 257 cơ sở, huyện Đầm Hà 270 cơ sở. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của khu vực bao gồm cát, sỏi, gạch nung các loại, thức ăn gia súc, quần áo, giấy,… Giá trị sản xuất công nghiệp tăng lên qua các năm, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế chung của địa phương cũng như toàn tỉnh. Cụ thể, năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp của huyện Đầm Hà và Hải Hà lần lượt là 37.705 triệu đồng, 49.970 triệu đồng; còn năm 2006 là 45.040 và 58.305 triệu đồng và năm 2007 là 56.403 và 73.283 triệu đồng.



Trong tương lai dự án khu công nghiệp - cảng biển Hải Hà đi vào hoạt động sẽ đóng vai trò là khu vực kinh tế động lực phía bắc của cả nước. Hải Hà sẽ là trung tâm công nghiệp - cảng biển, trung tâm sửa chữa và đóng tầu thủy lớn của cả nước… phục vụ phát triển KT-XH khu vực nghiên cứu.

1.3.5. Giao thông vận tải

1.3.5.1. Đường bộ


Huyện Hải Hà có quốc lộ 18A chạy qua với 27 km và đường tỉnh lộ 340 với 18,3 km. Trong huyện có hệ thống đường trục liên xã có chiều dài 117 km và đường liên thôn 572 km. Tuy nhiên, một số nơi trong huyện vẫn còn đường đất với chất lượng xấu nhưng nhìn chung các xã ven biển đều có bến tàu neo đậu, hệ thống đường giao thông trục xã, liên xã phát triển tương đối tốt, thuận lợi cho việc giao lưu đi lại. Huyện Đầm Hà cũng có quốc lộ 18 đi qua, hệ thống giao thông liên xã, liên thôn hiện nay đang được đầu tư phát triển.

Bảng 1.26. Doanh thu ngành vận tải theo thành phần kinh tế và ngành vận tải

Loại

Hải Hà

Đầm Hà




2004

2005

2006

2007

2004

2005

2006

2007

Đường bộ

6.755

7.622

8.670

9.990

3.899

4.729

5.651

6.868

-Vận tải hàng hóa

3.225

3.622

4.100

4.720

1.675

2.215

2.647

3.297

-Vận tải hành khách

3.530

4.000

4.570

5.270

2.224

2.514

3.004

3.571

Đường thủy

280

310

350

400







35

50

-Vận tải hàng hóa

280

310

350

400







35

50

-Vận tải hành khách

























Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hải Hà và Đầm Hà, 2007

Bảng 1.27. Khối lượng hành khách luân chuyển

Loại

Hải Hà

Đầm Hà




2004

2005

2006

2007

2004

2005

2006

2007

Đường bộ

11.955

13.036

14.810

15.300

8.896

10.056

11.464

13.871

-Ô tô

11.583

12.640

14.400

14.820

8.896

10.056

11.464

13.871

-Phương tiện khác

372

396

410

480













Bảng 1.28. Khối lượng hàng hóa luân chuyển

Loại

Hải Hà

Đầm Hà




2004

2005

2006

2007

2004

2005

2006

2007

Đường bộ

1.095

1.560

2.262

3.348

1.146

1.218

1.295

1.333

- Ô tô, công nông

1.095

1.560

2.262

3.348

1.040

1.104

1.175

1.206

- Phương tiện khác













106

114

120

127

Đường thủy







285

320

483

508

538

555

- Đường biển







285

320

483

508

538

555

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hải Hà và Đầm Hà, 2007.

Hệ thống đường quốc lộ qua huyện Tiên Yên phát triển nhất trong số ba huyện, gồm cả quốc lộ 18, 18A và 4B; ngoài ra còn có đường tỉnh lộ 330 đi qua. Các đường quốc lộ trong khu vực huyện Tiên Yên đã được nâng cấp và bắc cầu kiên cố, tạo sự đi lại thuận lợi. Xã đảo Ðồng Rui đã đắp đường nối liền vào đất liền, khó khăn lớn nhất vẫn là đường đến các khe bản. Hai xã Hà Lân, Ðại Dực chưa có đường ô tô đến xã. Thương mại vốn có thế mạnh do là ngã ba giao lưu với nhiều huyện trong đó có đường cửa khẩu ra Móng Cái, lên cửa khẩu Hoành Mô, cảng Mũi Chùa đang được xây dựng (có khả năng đón tàu 3-4 ngàn tấn) ở đầu mút Quốc lộ 4 sẽ mở ra khả năng lưu thông không chỉ của huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh mà còn cả các tỉnh Lạng Sơn, Hà Bắc.


1.3.5.2. Đường thủy


Ngoài giao thông đường bộ, giao thông đường thủy tại khu vực nghiên cứu cũng khá phát triển. Hiện nay, khu vực vịnh Tiên Yên – Hà Cối có cảng Vạn Hoa và cảng Mũi Chùa. Cảng Mũi Chùa nằm giữa khu vực Hòn Gia và Hải Ninh, có khả năng đón tàu 1 – 1,5 vạn tấn ra vào thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa trong vùng và các tỉnh lân cận như Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang. Tuy cơ sở hạ tầng của cảng còn thấp, số lượng tàu thuyền qua lại còn ít nhưng trong tương lai đây là cảng biển có tiềm năng phát triển, thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá.

Hiện nay, khu công nghiệp – cảng biển Hải Hà đang được đầu tư với quy mô 5.000 ha và khu cảng biển nước sâu Hải Hà đang được đầu tư với quy mô 1.100 ha có chức năng chính: bao gồm hệ thống nhiều hệ thống cảng.



Tóm lại, khu vực nghiên cứu nằm trong khu kinh tế trọng điểm của khu vực phía bắc nên hoạt động giao thông vận tải đường bộ và đường thủy diễn ra cao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong vùng.

1.3.6. Du lịch


Tiên Yên là nơi có bề dày lịch sử văn hoá và truyền thống cách mạng, vị trí địa lý rất thuận lợi. Đây là nơi có sự giao thoa nền văn hoá nên rất có tiềm năng phát triển du lịch.

Bảng 1.29. Số cơ sở kinh doanh thương mại, du lịch và khách sạn, nhà hàng ngoài quốc doanh

Huyện



2004

2005

2006

2007

Hải Hà

Phú Hải

28

30

36

45

Quảng Điền

28

29

29

23

Quảng Phong

16

17

26

31

Đường Hoa

26

28

29

25

Đầm Hà

Tân Bình

23

30

32

35

Đầm Hà

65

78

75

70

Tân Lập

­-

­-

­-

22

Đại Bình

10

17

19

19

Tiên Yên

Đông Hải

­-

­-

­-

­-

Tiên Lãng

­-

­-

­-

­-

Đông Ngũ

­

­-

­-

­-

Tổng

196

229

246

270

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hải Hà, Đầm Hà, 2007

Trong những năm gần đây, hoạt động du lịch ở vùng nghiên cứu có những bước phát triển đáng kể, số cơ sở kinh doanh thương mại, du lịch và khách sạn, nhà hàng ngoài quốc doanh ngày một tăng để đáp ứng các nhu cầu về du lịch và dịch vụ. Năm 2007, tổng số cơ sở kinh doanh dịnh vụ thương mại là 270, tăng 37,76% so với năm 2004 (bảng 1.29). Số cơ sở kinh doanh trên địa bàn các xã chênh lệnh không nhiều, tuy nhiên xã Đầm Hà có số lượng cơ sở kinh doanh dịnh vụ du lịch vượt trội hơn so với các xã, có tới 70 cơ sở, gấp từ 1,5 đến 3,7 lần so với các xã khác.



Hoạt động phát triển du lịch và dịch vụ tại vịnh Tiên Yên đã góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho một bộ phận người dân. Năm 2007, tổng số người kinh doanh thương mại, du lịch, khách sạn, nhà hàng ngoài quốc doanh vùng nghiên cứu là 407 người, tăng 40,8% so với năm 2004 (bảng 1.30).

Bảng 1.30. Số người kinh doanh thương mại, du lịch, khách sạn, nhà hàng ngoài quốc doanh

Huyện



2004

2005

2006

2007

Hải Hà

Phú Hải

48

56

62

70

Quảng Điền

28

35

35

37

Quảng Phong

25

28

37

47

Đường Hoa

35

38

41

43

Đầm Hà

Tân Bình

51

56

60

60

Đầm Hà

87

92

98

108

Tân Lập

­-

­-

­-

22

Đại Bình

15

17

20

20

Tiên Yên

Đông Hải

­-

­-

­-

­-

Tiên Lãng

­-

­-

­-

­-

Đông Ngũ

­-

­-

­-

­-

Tổng

289

322

353

407

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hải Hà, Đầm Hà, 2007

Bảng 1.31. Doanh thu dịnh vụ trên địa bàn (triệu đồng)

Ngành thương mại

2005

2006

2007

Hải



Đầm Hà

Tiên Yên

Hải



Đầm Hà

Tiên Yên

Hải



Đầm Hà

Tiên Yên

Thương mại

117.343

96.836

­-

162.806

112.419

­-

183.800

126.958

­-

Khách sạn, nhà hàng

48.089

36.047

­-

66.721

42.251

­-

75.324

49.402

­-

Tổng

165.432

132.883

­-

229.527

154.670

­-

259.124

176.360

­-

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hải Hà, Đầm Hà, 2007

Nhìn chung, hoạt động phát triển du lịch và dịch vụ tuy đã được quan tâm phát triển, tuy nhiên so với các ngành kinh tế khác ngành du lịch dịch vụ chiếm tỷ trọng không đáng kể. Năm 2007, tổng doanh thu dịch vụ toàn vùng nghiên cứu đạt 435.484 triệu đồng, trong đó huyện Hải Hà đạt 259.124 triệu đồng, huyện Đầm Hà đạt 176.360 triệu đồng, tăng lần lượt 56,63% và 32,72% so với năm 2005 (bảng 1.31).





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương