ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo



tải về 1.54 Mb.
trang3/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

1.2. Tài nguyên thiên nhiên

1.2.1. Tài nguyên khoáng sản


Trong khu vực nghiên cứu, ở vùng đất liền ven bờ và đảo có một số loại khoáng sản như khoáng sản nhiên liệu (than), sa khoáng (như titan - zircon, vàng,…), vật liệu xây dựng (cát thuỷ tinh, đá vôi vỏ sò, cuội, sạn, cát, sét...). Ngoài ra, vùng nghiên cứu còn xuất hiện các điểm quặng, điểm khoáng hóa đã được phát hiện và đánh giá cụ thể như sau:

1.2.1.1. Các mỏ và điểm khoáng ven bờ


Vùng nghiên cứu đã phát hiện các điểm mỏ sa khoáng biển titan - zircon - đất hiếm (Nguyễn Biểu và nnk, 1985; Trần Văn Trị, 1991) phân bố dọc theo dải bờ biển gồm: Bình Ngọc, Vĩnh Thực, Hà Cối, Quan Lạn, Hoàng Châu, Thái Ninh. Ngoài ilmenit trong các sa khoáng này còn chứa các khoáng vật nhóm đất hiếm và kim loại hiếm như zircon, thori…

Tuy nhiên, đa số các tụ khoáng có quy mô nhỏ, các sa khoáng titan ven biển đều phân bố sát bờ biển hoặc ven các đảo, trong các bãi cát hoặc cồn cát nguồn gốc biển - gió tuổi Holocen (mvQ23) hoặc mvQ22-3). Ở nhiều nơi các thân sa khoáng đang bị xói lở tạo các thân sa khoáng ở bãi triều, cồn ngầm. Các sa khoáng titan tập trung trong các cồn cát từ Hà Cối đến Mũi Ngọc và rìa phía Nam đảo Vĩnh Thực, rìa đông đảo Quan Lạn. Các diện phân bố sa khoáng đều kéo dài 7 - 10 km, rộng vài chục mét đến hàng trăm mét, ở mỗi tụ khoáng và điểm quặng có 1 - 2 thân sa khoáng dạng lớp dày 0,5 - 3 m. Hầu hết các thân quặng đều lộ thiên hoặc bị phủ một lớp cát mỏng.



Bảng 1.5. Các mỏ khoáng triển vọng giai đoạn 2008 - 2020

STT

Vùng (khoáng sản)

Ký hiệu trên bản đồ

DDiện tích km2

Mức độ điều tra

Trữ lượng, tài nguyên dự báo

Yêu cầu tiếp theo

Cát san lấp













1

Tiên Yên- Đầm Hà

16.B-Csl

45

Điều tra

TNDB 14 triệu m3




2

Yên Hưng

14.B-Csl

34

Điều tra

TNDB 11 triệu m3

Titan (ilmenit) sa khoáng













3

Bình Ngọc

4.A.II-Ti

6

Thăm dò

TL 67,68 nghìn tấn

Khai thác


4

Vĩnh Thực

9.A.II-Ti

20,5

Thăm dò

TL 50 nghìn tấn

5

Hà Cối

4.A.II-Ti

20,5

Đánh giá

TNDB 176 nghìn tấn

Thăm dò,

khai thác



6

Thôn Trung

4.A.II-Ti

10,5

Điều tra




Đánh giá, thăm dò, khai thác

7

Thôn Hai

4.A.II-Ti

10,5

Điều tra

TNDB 7 nghìn tấn

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2009

Bảng 1.6. Quy hoạch thăm dò khai thác khoáng sản giai đoạn 2008 - 2020

STT

Tên mỏ và khu vực

Nội dung công việc

Thời gian dự kiến

Dự kiến vốn đầu tư (tỷ đồng)

1

Sét gạch ngói Tiên Yên – Ba Chẽ

Thăm dò

2008-2010

0.7

2

Sét gạch ngói Hải Hà

Thăm dò

2008-2010

0.7

3

Granit ốp lát Vần Mây và đá xây dựng Tiên Yên

Thăm dò

2008-2015

1.4

4

Granit ốp lát Khoảng Nam Châu, và đá xây dựng Hải Hà

Thăm dò

2008-2010

1.4

5

Kaolin-pyrophylit Tấn Mài-Hải Hà

TD bổ sumg

2011-2015

0.6

6

Pyrophylit Mộc Pai Tiên-Đầm Hà

Thăm dò

2011-2015

1

7

Antimon Tấn Mài-Hải Hà

Thăm dò

2008-2010

3

8

Vàng Đèo Phật Chỉ-Ba Chẽ

Thăm dò

2011-2015

4

9

Vàng Ngàn Trùng-Bình Liêu

Thăm dò

2011-2015

4

10

Vàng Làng Cổng-Ba Chẽ

Thăm dò

2016-2020

4

11

Vàng Khe Quế-Tiên Yên

Thăm dò

2016-2020

4

12

Vàng Pình Hồ-Đầm Hà

Thăm dò

2016-2020

4

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2009

Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu của sa khoáng là ilmenit, ngoài ra có zircon, rutil và một số khoáng vật khác. Hàm lượng ilmenit trong sa khoáng khác nhau ở các tụ khoáng, điểm quặng. Ở tụ khoáng Bình Ngọc hàm lượng ilmenit thay đổi từ 10 kg/m3 đến 625 kg/m3 (trung bình: 100 - 150 kg/m3); ở Vĩnh Thực: 10 - 30 kg/m3. Các tụ khoáng và điểm quặng vùng này đều có quy mô nhỏ. Tổng trữ lượng và tài nguyên khoảng 90 ngàn tấn TiO2.


1.2.1.2. Biểu hiện khoáng sản biển nông ven bờ

a. Các dị thường trọng sa

- Ilmenit: là khoáng vật nặng phổ biến nhất trong vùng, với tần suất gặp 99% (1343/1356 mẫu). Hàm lượng dao động từ ít đến 36.044 g/m3, hàm lượng nền 238,6 g/m3. Trên cơ sở phân bậc hàm lượng của mỗi bậc vành, vùng nghiên cứu có 5 vành bậc III, 4 vành bậc II và một số vành bậc I, chúng phân bố trong trường trầm tích cát tuổi Holocen muộn đến Holocen sớm - giữa.

- Zircon: là khoáng vật nặng phổ biến trong vùng với tần suất gặp 99,1% (1344/1356 mẫu). Hàm lượng dao động từ ít đến 14491 g/m3, hàm lượng nền là 42g/m3. Vùng nghiên cứu có 3 vành bậc III và 3 vành bậc II của khoáng vật zircon và một số vành bậc I. Các vành phân tán bậc cao của zircon tập trung trong các trầm tích cát biển tuổi Holocen sớm-giữa và trầm tích cát tiền châu thổ của các sông lớn tuổi Holocen muộn.





Hình 1.2. Bản đồ phân bố trọng sa và triển vọng khoáng sản khu vực ven bờ và biển nông vùng biển Tiên Yên – Hà Cối

- Rutil + anatas: là các khoáng vật nặng phổ biến trong vùng, với tần suất gặp là 97,57% (1323/1356 mẫu). Hàm lượng dao động từ ít đến 3106 g/m3. Hàm lượng nền 25,5 g/m3. Vùng nghiên cứu có 4 vành phân tán bậc III và 6 vành phân tán bậc II của các khoáng vật rutin và anatas; diện phân bố khoáng vật rutil và anatas trong trầm tích cát biển có tuổi Holocen sớm- giữa và trầm tích cát tiền châu thổ tuổi Holocen muộn.

- Casiterit: là khoáng vật nặng rất ít phổ biến trong vùng khảo sát, tần suất gặp ~ 2,8%. Hàm lượng dao động từ 1 hạt đến 431 hạt/10dm3 phân bố rải rác trong vùng nghiên cứu. Với tần suất xuất hiện thấp, phân bố không tập trung nên chúng chỉ được thể hiện trên bản đồ vành trọng sa dưới dạng các điểm có biểu hiện casiterit.

- Coridon: là khoáng vật rất hiếm gặp, trong vùng nghiên cứu chúng có tần suất xuất hiện là 1,9% (27/1356 mẫu) dưới dạng hạt nhỏ, phân bố chủ yếu trong các trầm tích cát biển tuổi Holocen sớm-giữa.

- Vàng: là khoáng vật rất hiếm gặp trong vùng chỉ có 4 trạm có vẩy vàng nhỏ, với hàm lượng dao động từ 1-10 vảy nhỏ/10dm3, phân bố trong trường trầm tích cát bùn khu vực vịnh Bái Tử Long và từ Cửa Mô đến đảo Cô Tô; chúng được thể hiện trên bản đồ vành trọng sa dưới dạng các điểm có biểu hiện vàng (Au).

b. Các dị thường địa hóa

Kết quả nghiên cứu địa hoá trầm tích tầng mặt đáy biển vùng biển vịnh Tiên Yên cho thấy đặc điểm địa hóa và quy luật phân bố của một số nguyên tố điển hình trong trầm tích đáy biển như sau:

Nguyên tố titan (Ti)

Titan là thành phần chính trong nhiều khoáng vật nặng của sa khoáng biển như ilmenit (FeTiO3), rutin (TiO2), anatas, leicoxen (TiO2)... Ngoài ra, Ti còn tham gia trong tổ hợp đồng hình của nhiều khoáng vật tạo đá. Hàm lượng oxyt titan có ở hầu hết các loại đá từ trầm tích, biến chất đến magma, dao động trong khoảng từ 0,2 - 0,5%. Hàm lượng trung bình của TiO2 trong trầm tích biển nông Thế giới (0,65%), trong vỏ trái đất (0,45%).

Trong trầm tích tầng mặt hàm lượng Ti dao động 240 - 7074 ppm, đạt hàm lượng trung bình là 3157 ppm. Kết quả tính toán các tham số địa hoá cho thấy hàm lượng của Ti có sự khác biệt giữa hai đới: đới ven bờ 0 - 10 m nước: Ctb = 3146 ppm, và đới ngoài khơi 10 - 30 m nước: Ctb = 3112 ppm. Sự khác biệt này liên quan đến đặc điểm thành phần trầm tích cũng như nguồn gốc thành tạo chúng. Kết quả tính toán, các tham số địa hoá của Ti như sau:


  • Hàm lượng nền: 3119 ppm

  • Hàm lượng dị thường bậc 1: 4472 ppm

  • Hàm lượng dị thường bậc 2: 5826 ppm

  • Hàm lượng dị thường bậc 3: 7048 ppm

Trong trầm tích tầng mặt, Ti phân bố tương đối đồng đều V=42,86% trong toàn vùng.

Các dị thường Ti chủ yếu hình thành ở độ sâu 0 - 20 m nước, nó phân bố trong trường trầm tích hạt mịn và ở khu vực từ cửa sông Bạch Đằng đến Đông Nam đảo Cát Bà. Các dị thường của Ti có liên quan tới các quá trình phân dị, chọn lọc tự nhiên lâu dài, chúng chuyển dần vào sa khoáng. Một phần Ti tồn tại dưới dạng các khoáng vật bền vững như ilmenit (FeTiO3), rutin (TiO2), anatar. Trong trầm tích tầng mặt Ti có tương quan chặt với Zr, V (R= 0,75). Ti còn tương quan với các khoáng vật ilmenít, zircon.

Theo chiều sâu của tập mẫu ống phóng trọng lực, hàm lượng trung bình của Ti tương đương với hàm lượng trung bình của nó trong vịnh Tiên Yên – Hà Cối.

Nguyên tố zirconi (Zr)

Trong sa khoáng biển, Zr là nguyên tố chính trong khoáng vật nặng zircon (ZrSiO4). Ngoài ra, Zr còn tham gia vào thành phần của nhiều khoáng vật khác dưới dạng đồng hình với các nguyên tố Ti, Cr... Kết quả nghiên cứu từ những năm đầu 90 đến nay cho thấy nếu Zr tham gia vào thành phần của sa khoáng biển thì nó có tương quan khá chặt chẽ với nguyên tố Ti cũng như với khoáng vật zircon.

Trong vùng nghiên cứu hàm lượng Zr dao động trong khoảng 10 - 880 ppm, đạt hàm lượng trung bình 261 ppm. Hàm lượng Zr có sự phân dị giữa hai đới: đới 0 - 10 m nước: Ctb = 264 ppm; đới 10 - 30 m nước: Ctb = 254 ppm. Kết quả tính toán các tham số địa hóa của Zr như sau:


  • Hàm lượng nền: 217 ppm

  • Hàm lượng dị thường bậc 1: 305 ppm

  • Hàm lượng dị thường bậc 2: 392 ppm

  • Hàm lượng dị thường bậc 3: 479 ppm

Các dị thường của Zr chủ yếu tập trung ở khu vực: phân bố độ sâu 0 - 10 m nước từ khu vực đảo Sậu Nam. Nguồn gốc các dị thường Zr có liên quan trực tiếp tới các sản phẩm rửa lũa các vật liệu của vỏ phong hóa cổ, từ các thành tạo đá gốc ven biển và dưới biển, một phần do các vật liệu trầm tích từ lục địa được hệ thống sông mang ra sau đó phân dị và lắng đọng. Các thân quặng đang được khai thác tại khu vực này là nguồn gốc tạo nên các dị thường Zr trong vùng nghiên cứu.
c. Các dị thường phổ gamma

Trên cơ sở sự phân tích các dị thường hàm lượng của từng nguyên tố phóng xạ Th, U, K và phân tích tổng hợp bản đồ dị thường phổ gamma thấy rõ: các dị thường hàm lượng thori, uranivà kali có đặc điểm riêng.

Các dị thường uranni phân bố trên các khu vực trầm tích thành phần bùn cát và cát hạt mịn chứa bùn. Sự tăng cao hàm lượng Urani trong các lớp bùn là do các loại trầm tích bùn sét có khả năng hấp thụ urani cao trong quá trình lắng đọng. Trong các loại đá trầm tích thì các trầm tích bùn cát, hàm lượng trung bình của U là cao nhất: 2,69 ppm.

Các dị thường kali phân bố trên diện tích các trường trầm tích thành phần cát sạn và cát bùn, nằm ở khu vực ngoài xa bờ hơn.

Trong các loại dị thường các nguyên tố phóng xạ, chỉ có dị thường thori có liên quan với sa khoáng. Các dị thường thori là một trong những dấu hiệu quan trọng để phát hiện, tìm kiếm các thân quặng sa khoáng biển. Phương pháp phổ gamma có ưu điểm là có thể phát hiện nhanh ngay tại hiện trường các dị thường phóng xạ, trong đó có dị thường thori. Cụ thể như sau:

Dị thường hàm lượng nguyên tố thori vùng biển nghiên cứu đã xác định có 3 mức giá trị: bậc I từ 6,5 đến 8,5 ppm; bậc II từ 8,5 đến 10,5 ppm và bậc III là lớn hơn 10,5 ppm.

Các trường dị thường của thori phát triển rất rộng và phân bố khá đều trên diện tích nghiên cứu. Các trường dị thường ở đây thường nằm trên các trường trầm tích cát bùn, cát bùn hạt mịn chứa bùn.

Các trường dị thường thori thường nằm ở các khu mỏ sa khoáng biển, có sự cộng sinh chặt chẽ giữa hàm lượng quặng và hàm lượng chất phóng xạ thori. Tại vùng bờ biển nghiên cứu, đã có một số mỏ, điểm quặng sa khoáng ven biển được phát hiện (từ Hà Cối đến Mũi Ngọc).

1.2.2. Tài nguyên sinh vật


Sinh vật tại vịnh Tiên Yên đa dạng và có giá trị lớn về nguồn lợi khai thác và sinh thái. Tổng hợp các kết quả khảo sát điều tra về đa dạng sinh học vùng ĐNN Tiên Yên cho thấy tại đây đã ghi nhận được 260 loài động vật đáy thuộc 89 họ, 237 loài sinh vật nổi (188 loài thực vật và 49 loài động vật), 33 loài rong biển, 4 loài cỏ biển, 15 loài thực vật ngập mặn và 36 loài chim.

Nguồn lợi hải sản tự nhiên có giá trị kinh tế cao có thể phát triển nuôi trồng và những đối tượng có giá trị kinh tế cần được bảo vệ khai thác hợp lý trên vùng triều và ven biển Tiên Yên được chia thành 4 nhóm chính theo bảng 1.7.

Thành phần loài thực vật ngập mặn phân bố ở khu vực này chủ yếu là những loài chịu mặn, những loài ưa lợ không thấy xuất hiện như Bần (Sonneratia). Thảm thực vật ngập mặn ở vùng ĐNN vịnh Tiên Yên phát triển tốt nhất so với vùng cửa sông ven biển Đông Bắc, tạo thành thảm rừng xanh tốt, mật độ cây phân bố dày, cây cao, tạo ra các quần xã thực vật ngập mặn phân bố khác nhau:

- Quần xã sú (Aegiceras corniculatum) chủ yếu phân bố ở vùng triều thấp chịu tác động nhiều của sự ngập lụt thủy triều hàng ngày, chiều cao cây khoảng 2 - 3 m;

- Quần xã trang (Kandelia obovata), đước (Rhizophora apiculata), vẹt (Bruguiera gymnorrhiza) thuần chủng phân bố ở vùng triều, nền đáy ở khu vực này gồm bùn và đất sét, chịu ảnh hưởng thủy triều không thường xuyên. Ở đây trang (Kandelia obovata), đước (Rhizophora apiculata), cao trung bình 3 - 3,5 m, thậm chí có cây cao tới 8 m tạo thành một vành đai xanh tốt bảo vệ vùng triều;

- Quần xã giá (E. agallocha), vạng hôi (Clerodendrum inerme) và các cây bụi khác, chủ yếu phân bố ở vùng triều cao ít chịu ảnh hưởng chế độ ngập lụt của thủy triều hàng ngày.



Bảng 1.7. Một số loài hải sản tự nhiên có khả năng nuôi tại Tiên Yên và những loài cần được bảo vệ, khai thác hợp lý

STT

Tên loài

Vùng phân bố

Tên VN

Tên khoa học

I

Nhóm giáp xác

1

Tôm he mùa

Penaeus merguiensis

Vùng cửa sông, ven biển


2

Tôm he Nhật Bản

Penaeus japonicus

3

Tôm rằn

Penaeus semisullatus

4

Tôm rảo

Meatapenaeus ensis

5

Tôm sú

Penaeus monodon

6

Cua biển

Scylla paramamosain

7

Ghẹ xanh

Portunus pelagicus

8

Ghẹ hoa

Portunus trituberlatus

II

Nhóm cá

9

Cá vược

Lates calcarifer

Cửa sông và vùng nước lợ

10

Cá tráp

Sparus macrocephalus

11

Cá đối

Mugil cephalus

12

Cá dìa

Siganus guttatus

13

Cá bống bớp

Bostrichthys sinensis




14

Cá song

Epinephelus bleekeri




15

Cá mú

Cromileptes altivelis




III

Nhóm nhuyễn thể

16

Ngao

Meretrix meretrix

Đai cát, doi cát

17

Ngán

Lucina philippinarum

Trong RNM

18

Vạng

-

Trong RNM

19

Hầu cửa sông

Ostrea rivularis




20

Sò lông

Anadara suberenata




21

Sò huyết

Anada granosa




IV

Nhóm các loài khác

22

Sá sùng*

Sipunalus nudus

Đai cát bao ngoài RNM và doi cát, trương cát

23

Bông thùa / Đanh biển*

Phascotosoma simillis

Ghi chú: * Đối tượng hải sản tự nhiên có giá trị cần có biện pháp bảo vệ và khai thác hợp lý

Nguồn: Báo cáo Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản mặn, lợ huyện Tiên Yên, Quảng Ninh giai đoạn 2003-2010

Ngoài ra còn có các quần thể nhân tác như rừng trang trồng và rừng vẹt dù trồng. Hệ sinh thái RNM vịnh Tiên Yên là nơi cư trú của nhiều loài đặc sản có giá trị như ngán, cua bùn, bạch tuộc, sâu đất, vạng… cũng như cung cấp nguồn giống quan trọng của tôm, cua, cá cho vùng biển ven bờ. Đây là nơi sản xuất năng suất sơ cấp rất lớn cho hệ sinh thái ĐNN vịnh Tiên Yên.


1.2.3. Tài nguyên ĐNN


Trong vùng vịnh Tiên Yên có 10 kiểu ĐNN, tổng diện tích 52.517 ha (bảng 1.8), trong đó các kiểu ĐNN vùng biển ở độ sâu dưới 6 m khi triều kiệt (A), bãi cát/bùn vùng gian triều (Ga), RNM (I) và vùng NTTS nước mặn/lợ chiếm diện tích chủ yếu (1a) (Bảng 1.8).

ĐNN ven biển vịnh Tiên Yên có chức năng sinh thái lớn. Với hệ thống luồng lạch, bãi triều và RNM rộng lớn, nơi đây trở thành bãi sinh sản, ươm nuôi, lưu giữ nguồn giống sinh vật thủy sinh cho toàn vịnh Tiên Yên và biển ven bờ thông qua 6 cửa khác nhau (Tấn, Đại, Tiểu, Bò Vàng, Mô và Cửa Ông). Do có nguồn thức ăn phong phú nên nhiều loài động vật có giá trị kinh tế cao cư trú và trưởng thành như sá sùng, sò huyết…



ĐNN vịnh Tiên Yên chủ yếu có nguồn gốc tự nhiên, do ngập chìm thung lũng sông cùng với quá trình sụt hạ tương đối kiến tạo hiện đại và dâng cao mực nước đại dương thế giới sau băng hà lần cuối. Ngoài ra, ĐNN khu vực này còn có nguồn gốc nhân sinh, chủ yếu là chuyển đổi mục đích sử dụng ĐNN. Trong quá trình khai thác và sử dụng cửa sông Tiên Yên, các cộng đồng dân cư đã biến một bộ phận ĐNN ở đây thành vùng đất canh tác nông nghiệp, vùng thổ cư, đặc biệt thành đầm nuôi thủy sản mặn - lợ.

Bảng 1.8. Diện tích các kiểu ĐNN ven biển vịnh Tiên Yên (ha)

STT

Kiểu ĐNN ven biển

Ký hiệu

(theo Ramsar)

Hải Hà

Đầm Hà

Tiên Yên

1

Vùng biển ở độ sâu dưới 6m khi triều kiệt

A

20.350

4.290

118

2

Thảm cỏ biển

B

150

80

 

3

Bãi cát vùng gian triều

Ea

549

71

115

4

Bãi bùn vùng gian triều

Gb

 

124

460

5

Bãi cát/bùn vùng gian triều

Ga

7.379

6.234

885

6

Bãi đá, sỏi vùng gian triều

Eb

58

 

40

7

Rừng ngập mặn

I

2.066

2.521

3.982

8

Đầm lầy mặn/lợ ven biển

H

7,36

89

 

9

Vùng NTTS nước mặn/ lợ

1a

200

189

2.205

10

Vùng NTTS trong RNM

1b

 

 

354




Tổng

52.517

Nguồn: Trung tâm Viễn thám, 2007

Vùng ĐNN vịnh Tiên Yên có các hệ sinh thái như bãi triều, cửa sông và RNM. Hệ sinh thái bãi triều bao gồm bãi triều thấp và một phần của bãi triều cao thuộc kiểu ĐNN không phủ thực vật ngập mặn. Hệ sinh thái cửa sông bao gồm hệ thống cửa sông và các kênh đào. Hệ sinh thái RNM tương ứng với loại hình ĐNN bãi triều có phủ TVNM với 15 loài cây ngập mặn phát triển tốt. Các bãi triều cao có phủ thực vật ngập mặn phân bố rộng khắp ở các khu vực ven biển huyện Tiên Yên, Đầm Hà, tập trung nhiều ở Đại Bình và Đông Hải.



  1. Vùng biển ở độ sâu dưới 6m khi triều kiệt

Kiểu ĐNN này mở rộng ra phía biển, được giới hạn bởi đường đẳng sâu 6 m khi triều kiệt. Diện phân bố của vùng nước biển này bắt đầu từ phía ngoài hệ thống các đảo như đảo Cái Chiên, đảo Vĩnh Thực... đến đường đẳng sâu 6 m khi triều kiệt. Diện tích phân bố của kiểu ĐNN này rất lớn, chiếm 47,1% tổng diện tích ĐNN và được người dân địa phương sử dụng để đánh bắt một số loại hải sản.

  1. Bãi cát, bùn vùng gian triều (Ga)

Kiểu ĐNN chiếm 27,6% tổng diện tích ĐNN của vùng nghiên cứu, phân bố chủ yếu ở vùng cửa sông Ma Ham. Thành phần trầm tích của kiểu ĐNN này là cát khoảng 60-70%, bùn 30 - 40%. Hiện nay kiểu ĐNN này đang được người dân sử dụng nuôi ngao, nghêu và khai thác một số loại như: ngao, nghêu, giun đất,…




  1. Hình 1. 3. RNM ven vịnh Tiên Yên

    Ảnh: Nguyễn Tài Tuệ, 2007



    Rừng ngập mặn (I)

Vùng nghiên cứu có nhiều điều kiện thuận lợi cho RNM phát triển, kiểu ĐNN này chiếm 16,3% tổng diện tích ĐNN của vùng nghiên cứu, phân bố dọc ven bờ từ cửa sông Ka Long đến cửa sông Hà Cối, với mật độ cây dày thành phần chủ yếu là mắm đước, vẹt, sú, trang… Hệ sinh thái RNM có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho các loài động vật thuỷ sinh (trong đó có nhiều loài hải sản có giá trị cao như sá sùng, bông thùa, ngao, tôm, cua,…); là nơi cư trú, bãi đẻ của nhóm giáp xác (Crustacea), thân mềm (Mollusca), giun nhiều tơ (Polychaeta)…




  1. Hình 1.4. Đầm nuôi tôm xã Quảng Điền - Hải Hà

    Ảnh: Nguyễn Tài Tuệ, 2007
    Vùng nuôi trồng thủy sản nước mặn/lợ (1a)

Trong vùng nghiên cứu, một số kiểu ĐNN được chuyển đổi sang làm ao, đầm, vùng NTTS mặn, lợ. Điển hình như bãi triều, RNM và khu vực nước cửa sông. Chủ yếu là nuôi các loài tôm sú. Các xã có diện tích NTTS lớn là Quảng Thắng, Phú Hải, Quảng Minh, Vạn Ninh và khu vực cửa sông Ka Long. Bên cạnh đó, các vùng nước cửa sông có chế độ thủy văn, hải văn, chất lượng môi trường, dinh dưỡng tốt nên người dân còn sử dụng nuôi thủy sản lồng bè tại các khu vực này.

1.2.4. Tài nguyên đất


Theo Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai huyện Tiên Yên thời kỳ 2002 - 2010, vùng đồng bằng ven biển huyện Tiên Yên được chia thành 3 loại đất chính:

Đất cồn cát và bãi cát: được phân bố chủ yếu ở các xã ven biển như Đồng Rui, Hải Lạng, Đông Ngũ và thị trấn Tiên Yên, có diện tích khoảng 265 ha bằng 0,43% tổng diện tích tự nhiên của huyện.

Đất mặn: đất mặn Tiên Yên được chia thành 5 loại: mặn sú vẹt, mặn chua, đất mặn do ảnh hưởng của mạch nước ngầm, đất ít mặn, đất mặn và chua mặn. Đất này được phân bố chủ yếu ở các xã ven biển và rất phức tạp, do tác động của con người, sự xâm nhập của nước biển nên hình thành nhiều loại khác nhau. Diện tích khá lớn, chiếm khoảng 9.380 ha, chiếm 15,2 % diện tích đất tự nhiên của huyện.

Đất phù sa sông: đây là những dải đất hẹp chạy dọc theo các triền sông Tiên Yên, sông Phố Cũ, sông Ba Chẽ và một số nhánh sông khác với tổng diện tích là 1.135 ha, chiếm 1,84 % diện tích đất tự nhiên của huyện. Là loại đất được hình thành do sản phẩm của sông biển bồi tụ, bị nước biển xâm nhập nên bị mặn đồng thời trong lòng đất có xác rễ sú vẹt thối mục thải ra các khí độc như CH3, H2S, axít hữu cơ làm cho đất bị nhiễm độc và chua.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương