ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo



tải về 1.54 Mb.
trang2/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14



MỞ ĐẦU


Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài, có hệ thống tài nguyên thiên nhiên phong phú đặc biệt là các vùng đất ngập nước (ĐNN) với nhiều loại hình đa dạng như đầm phá, đầm lầy, bãi bồi cửa sông, RNM ven biển…ĐNN là một tài nguyên quan trọng cung cấp nhiều giá trị trực tiếp, gián tiếp và phi sử dụng cho cộng đồng xã hội như thủy sản, dược liệu, phòng chống thiên tai, bảo vệ bờ biển, hấp thụ CO2, bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học cũng như các giá trị văn hóa, lịch sử và xã hội khác. Mặc dù có vai trò và ý nghĩa quan trọng nhưng tại Việt Nam các thông tin về giá trị kinh tế của ĐNN còn thiếu, rời rạc và kém đồng bộ. Đặc biệt là việc sử dụng và quản lý ĐNN chủ yếu mang tính hành chính, kỹ thuật trong khí các khía cạnh kinh tế chưa được nhìn nhận và xem xét đúng mức.

Vịnh Tiên Yên là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng đối với vùng biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ cũng như tiềm năng về phát triển du lịch, khai thác khoáng sản. Đặc biệt là có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với đa dạng các kiểu ĐNN. Tuy nhiên, trong những năm qua vai trò “kinh tế” trong cộng đồng đóng vai trò quan trọng. Do đó, con người đã tìm mọi cách để thu lại lợi ích kinh tế cao nhất như sử dụng thuốc hóa học quá mức trong nông nghiệp để tăng năng suất cây trồng, phát triển công nghiệp, khai thác khoáng sản không qua cấp phép…các hoạt động trên đã phần nào trực tiếp và gián tiếp đến các giá trị của vùng ĐNN. Tất các các yếu tố đó cùng với tác động khách quan của tự nhiên như bão, lũ lụt đã làm suy giảm giá trị kinh tế của vùng nghiên cứu. Vì vậy, việc xác định giá trị kinh tế mất đi cũng như những nguyên nhân gây tổn thất tài nguyên - môi trường là cơ sở nhằm đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên - môi trường khu vực nghiên cứu. Vì vậy, báo cáo nghiên cứu lượng giá tổn thất tài nguyên – môi trường vịnh Tiên Yên do tác động của các yếu tố tự nhiên và nhân sinh là đòi hỏi cấp bách hiện nay.


1. Mục tiêu


Lượng giá tổn thất tài nguyên - môi trường do tác động của các yếu tố tự nhiên và nhân sinh nhằm đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vịnh Tiên Yên.

2. Nhiệm vụ


- Điều tra thu thập các yếu tố làm suy giảm giá trị tài nguyên - môi trường: nhân sinh (nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp, khai thác khoáng sản, du lịch, giao thông vận tải…), tự nhiên (lũ lụt, xói lở, bồi tụ, biến đổi khí hậu…)

- Phân tích đánh giá, giá trị mất đi của tài nguyên – môi trường do tác động của hoạt động tự nhiên và nhân sinh

- Lượng giá tổn thất tài nguyên – môi trường do tác động của hoạt động tự nhiên và nhân sinh

CHƯƠNG 1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1. Đặc điểm tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý vùng nghiên cứu


Vịnh Tiên Yên thuộc tỉnh Quảng Ninh nằm ở phía đông bắc của Việt Nam. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng, là căn cứ hải quân cùng với vịnh Bái Tử Long - Hạ Long của vùng biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Vùng nghiên cứu bao gồm các huyện Hải Hà, Đầm Hà và Tiên Yên, phía bắc và tây bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, tây nam giáp huyện Ba Chẽ và thị xã Cẩm Phả, đông bắc giáp huyện Bình Liêu, đông nam giáp thành phố Móng Cái. Vùng có tọa độ địa lý như sau:

- Từ 2101500’’ đến 2103000’’ Vĩ độ Bắc;

- Từ 10702700 đến 10802135’’ Kinh độ Đông.



Hình 1.1. Sơ đồ vùng nghiên cứu Vịnh Tiên Yên (Quảng Ninh)

1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo


Vùng nghiên cứu có đường bờ biển đặc trưng cho kiểu đường bờ của các vùng núi ven biển: dạng đường bờ này thường hình thành từ các đoạn bờ phát triển trên các thành tạo đá gốc rắn chắc (đá vôi, đá trầm tích lục nguyên), xen kẽ các đoạn bờ phát triển trên các thành tạo Đệ tứ bở rời. Đường bờ biển ở đây rất phức tạp do sự tồn tại của nhiều đảo lớn nhỏ ngoài khơi tạo nên vịnh Tiên Yên với nhiều sông (Tiên Yên, Đầm Hà, Hà Cối) và luồng lạch chia cắt. Đường bờ được tạo nên bởi nhiều dạng địa hình, trong đó chủ yếu là dạng địa hình karst với nhiều hang hốc ở các núi ven bờ và các đảo ngoài khơi. Bên cạnh đó, còn có các dạng địa hình phát triển trên các bậc thềm sông biển từ Tiên Yên - Hà Cối.

Địa hình đáy biển vùng nghiên cứu đa dạng và phức tạp là do chúng trải qua một quá trình lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp. Ba giai đoạn phát triển đều được bắt đầu và kết thúc bằng những đợt biển lùi trên phạm vi thềm lục địa. Bề mặt đáy biển của thềm lục địa tồn tại các bậc địa hình liên quan đến các đường bờ biển cổ trong suốt thời gian Đệ tứ. Các bậc địa hình này phân bố ở độ sâu 3 - 5 m; 10 - 20 m; 25 - 30 m; 50 - 60 m ứng với thời kỳ biển tiến Flandrian.


1.1.3. Đặc điểm địa chất

1.1.3.1. Đặc điểm các thành tạo địa chất

a. Các thành tạo địa chất trên đất liền

Theo tính chất cơ lý, khả năng chống chịu và tàng trữ độc tố có thể chia các thành tạo địa chất trên đất liền của khu vực nghiên cứu thành 3 nhóm chính như sau:

+ Các thành tạo đá gốc rắn chắc: vùng Tiên Yên có nhiều đảo với kích thước khác nhau và rất đa dạng về hình dáng. Đá gốc tạo nên đảo chủ yếu là các đá trầm tích lục nguyên và đá carbonat cụ thể là: cát kết, bột kết xen tuf (đảo Cái Chiên) tuổi Ocđovic-Silua (O3-Stm); cuội kết, sạn kết, đá phiến sét, đá phiến silic, đá vôi nâu đỏ (đảo Thoi Xanh, đảo Sậu Nam, đảo Sậu Đông, hòn Dểu, hòn Du và đáy biển khu vực này) tuổi Devon (D1sc); cát kết thạch anh, cát kết dạng quắc zit, bột kết, đá phiến sét, đá phiến silic (đảo Chàng Ngọ, đảo Đông Ma) tuổi Devon (D1đd); Đá vôi, silic vôi, đá vôi sét (hòn Chim, hòn Bé phía Nam vùng nghiên cứu và đáy biển) tuổi Devon(D2bp); cuội kết, sạn kết, cát kết thạch anh, đá phiến màu đen (đảo Vạn Vược, đảo Vạn Mặc, hòn Đá Dựng, hòn Ven, hòn Thoi Day, hòn Đoạn và núi Vạn Hoa) tuổi Triat (T3n-rhg); bột kết, cát kết, cát kết vôi, cuội kết, sét than (phân bố phổ biến trong diện tích vùng nghiên dọc theo bờ hướng đông bắc - tây nam, dưới đáy vịnh và các đảo nhỏ trong vùng) tuổi Jura (J1-2hc). Các đá tạo nên bờ và đảo nói chung bị dập vỡ và phân cắt mạnh, bởi vậy nguy cơ xói lở ở vùng nghiên cứu rất lớn. Ngoài ra các đặc điểm hình thái của đảo và sự phân bố các đảo đã tạo nên những phụ vùng địa chất môi trường.

+ Các thành tạo trầm tích bở rời, chịu tải kém và tàng trữ độc tố kém: thuộc nhóm này là trầm tích có tuổi từ Holocen sớm- giữa đến Pleitocen muộn bao gồm cát, cát vàng, cát trắng, cát sạn: trong phạm vi vịnh Tiên Yên (từ phía đông xã Phú Hải đến xã Đông Ngũ) các đoạn bờ trên đất liền tạo từ cát có dạng hình cung, cấu tạo chủ yếu từ cát, có giá trị du lịch cao. Các đảo trong vùng này có nhiều bờ cát và bãi biển đẹp có giá trị du lịch cao như bờ cát phía Tây Nam đảo Cái Chiên, Cái Bầu......

+ Các thành tạo chịu tải kém và có khả năng tàng trữ độc tố tốt: thuộc nhóm này là các thành tạo trầm tích tuổi Holocen bao gồm bột sét màu xám nâu giàu mùn thực vật phân bố hai bên cửa sông Tiên Yên, các bãi bồi cửa sông và một số diện tích nhỏ phía đông nam đảo Miếu và phía Bắc sát bờ đảo Cái Chiên.


b. Các thành tạo địa chất dưới đáy biển

Căn cứ vào hàm lượng cấp hạt mịn trong trầm tích có thể chia trầm tích tầng mặt trong vùng ra thành 3 nhóm chính theo khả năng tàng trữ độc tố từ kém đến cao như sau:

+ Nhóm trầm tích có khả năng tàng trữ độc tố kém (cát, cát sạn, vụn vỏ sinh vật…) phân bố từ phía tây nam đảo Cái Chiên (7 - 12 m nước) kéo dài gần hết phía nam vùng nghiên cứu.

+ Nhóm trầm tích có khả năng tàng trữ độc tố trung bình (cát bùn, cát bùn sạn, cát bột…). Trường bùn chứa cát sạn phát triển chủ yếu ở phía bắc vùng nghiên cứu. Trường cát bùn chiếm một diện tích khá lớn ở phía bắc vùng nghiên cứu từ Đầm Hà đến xã Phú Hải (7 - 15 m nước) còn có trường cát bùn với diện tích nhỏ hơn phân bố ở khu vực đông bắc, đông và nam đảo Thoi Xanh, phía bắc và nam đảo Vạn Vược, đông bắc hàn Sậu Nam. Trường cát chứa sạn bùn phân bố ở phía xung quanh đảo Thoi Xanh, tây nam đảo Thoi Xanh (10 - 15 m nước), tây và tây bắc đảo Vạn Vược, nam và bắc đảo Cái Chiên, xung quanh đảo hòn Miêu.

+ Nhóm trầm tích có khả năng tàng trữ độc tố tốt (bùn, sét, sét bột… phân bố thành 2 diện tích nhỏ đông nam đảo Miêu và sát bờ về phía bắc đảo Cái Chiên là bùn hiện đại có nguồn gốc sông biển.


1.1.3.2. Hệ thống đứt gãy


Trong vùng biển vịnh Tiên Yên các hoạt động kiến tạo xảy ra mạnh mẽ được nhận biết qua hệ thống đứt gãy trong vùng từ Paleozoi sớm đến nay. Các hệ thống đứt gãy phát triển theo 2 phương chính: Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam. Trong đó hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam hoạt động rõ nét nhất, đóng vai trò khống chế và tạo nên khung cấu trúc khối tảng và các trũng của khu vực.

+ Hệ thống đứt gãy phương Đông Bắc - Tây Nam bao gồm 1 đứt gãy chính hoạt động từ Paleozoi sớm đến Mezozoi muộn. Đứt gãy kéo dài từ núi Thị Thừa đến phía đông đảo Sậu Nam.

+ Hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam: bao gồm 2 đứt gãy Cái Chiên-Thoi Dây và Hòn Dều- Thoi Xanh, là hệ thống đứt gãy trượt tạo điều kiện cho các khối tảng dịch chuyển. Các đứt gãy này có phương kéo dài gần song song với bờ biển hiện đại.

1.1.3.3. Đặc điểm địa động lực


Vùng nghiên cứu nằm chọn trong 2 yếu tố kiến tạo phức nếp lồi Paleozoi Quảng Ninh (ven biển và đất liền) và trũng Tây Lôi Châu (ngoài khơi). Các yếu tố kiến tạo này có phương á vĩ tuyến. Phần đất liền và ven biển trong tân kiến tạo vận động nâng là chủ yếu. Trong Holocen và hiện đại, dọc đới bờ thể hiện rõ các khối nâng Cát Bà - Tiên Yên và khối sụt vụng Tiên Yên. Ngoài khơi thuộc rìa bồn trũng Tây Lôi Châu, vận động sụt lún trong tân kiến tạo không mạnh mẽ.

1.1.4. Khí hậu

1.1.4.1. Nhiệt độ, độ ẩm


Vùng nghiên cứu mang những nét chung của khí hậu miền bắc Việt Nam: khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt là mùa đông và mùa hè.

- Mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) lạnh, ít mưa. Nhiệt độ trung bình khoảng 18oC, thường có gió mùa Đông Bắc đi kèm với không khí lạnh, vào tháng 1 nhiệt độ hạ thấp nhất trong năm (13,8 - 14,7oC) (bảng 1.1).

- Mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) nóng ấm, mưa nhiều khí hậu nóng nhất là từ tháng 4 đến tháng 8. Nhiệt độ không khí trung bình 28oC.

Trong các tháng 4 và 10 khí hậu của vùng có tính chuyển tiếp giữa mùa đông và mùa hè.

Lượng bức xạ trung bình hàng năm 115,4 Kcal/cm2. Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm trên 23oC. Ðộ ẩm không khí trong vùng nghiên cứu có giá trị thay đổi từ 82-85%, cực tiểu 75%.

Bảng 1.1. Nhiệt độ trung bình (oC) tháng và năm của một số trạm trong vùng nghiên cứu và các vùng phụ cận


 

I

II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

NĂM

Tiên Yên

14,0

20,8

20,2

23,4

25,8

28,3

28,3

28,6

28,5

24,8

19,3

17,6

23,3

Quảng Hà

13,8

20,4

19,8

22,7

25,6

28,1

28,3

28,7

28,0

24,9

19,1

17,4

23,1

Cô Tô

14,7

20,1

19,2

22,6

25,6

28,6

28,6

29,0

28,3

25,9

20,4

17,8

23,4

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009

Lượng mưa trong vùng nghiên cứu có sự biến đổi theo mùa trong năm và phụ thuộc vào các vùng khác nhau. Vào mùa mưa có mưa rất lớn do tác dụng chắn của địa hình, nhất là khi dòng áp thấp hay bão. Lượng mưa trung bình năm đạt trên 1.400 mm, có nơi trên 2.000mm (Quảng Hà 2.000mm/năm) (bảng 1.2). Trên các đảo lượng mưa giảm, trong mùa đông - xuân các vùng hải đảo thường có sương mù dày đặc, có gió mạnh quanh năm.



Bảng 1.2. Lượng mưa trung bình (mm) tháng và năm tại một số trạm trong vùng nghiên cứu và vùng phụ cận

 

I

II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

NĂM

Tiên Yên

1,8

18,3

14,8

167

200

466

311

86,8

261

124

11,1

13,6

1.676

Quảng Hà

1,6

13,6

68,7

230

263

293

483

201

254

168

32,3

33,8

2.042

Cô Tô

2,4

1,9

28,1

48,8

187

110

230

154

321

321

22,9

31,0

1.458

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009

1.1.4.2. Chế độ gió


Nhìn chung toàn vùng biển nghiên cứu chịu ảnh hưởng của hai chế độ gió mùa là gió mùa Đông Bắc (mùa đông) và Tây Nam (mùa hè).

Mùa gió Đông Bắc (từ tháng 11-4): vào mùa đông, vùng nghiên cứu có hướng gió thịnh hành là ĐB ở phía Bắc với tần suất tới 80% (trạm Cô Tô), đi về phía Nam hướng gió thịnh hành chuyển dần sang hướng Bắc với tần suất 70% (trạm Hòn Ngư). Các hướng khác có tần suất từ vài % đến 20%. Tần suất xuất hiện gió trên cấp 5 (>8m/s) khoảng 20-25%. Thời gian lặng gió ở phía Nam cao hơn phía Bắc.

Mùa gió Tây Nam (từ tháng 5-10): vùng vịnh Bắc Bộ có tần suất gặp gió Nam lớn nhất ở phía Bắc (trạm Cô Tô: 40%) chuyển dần vào Nam lại gặp chủ yếu gió TN với tần suất 35% (trạm Hòn Ngư). Tuy nhiên trong vùng tần suất gặp gió ĐN cũng khá lớn (20-25%). Tốc độ gió đạt trên cấp 5 có tần xuất khá cao 15-20%.

1.1.5. Thủy văn, hải văn

1.1.5.1. Thủy văn


Hệ thống sông-suối: phần ven bờ vùng nghiên cứu có nhiều hệ thống sông đổ trực tiếp ra biển. Tuy nhiên, hầu hết các sông đều có diện tích lưu vực nhỏ, chiều dài sông ngắn và thuộc vùng núi giáp biển, nên độ dốc lớn (bảng 1.3).

Bảng 1.3. Đặc trưng hình thái của một số sông chínhđổ vào vùng nghiên cứu và các vùng phụ cận

Số TT

Tên hệ thống sông

Diện tích lưu vực (km2)

Chiều dài sông (km)

Độ dốc bình quân lưu vực (%)

Tên cửa sông chính đổ vào vùng

1

Tiên Yên

1.070

82

28,1

Tiên Yên

2

Hà Cối

206

32,0

22,5

Cái Chiên

3

Đầm Hà

106

25,0

18,5

Đan Buôn

Chế độ dòng chảy: chế độ dòng chảy sông mang tính chất mùa khá rõ: mùa lũ và mùa kiệt phụ thuộc vào mùa mưa nhiều và mùa mưa ít. Lượng dòng chảy vào mùa mưa nhiều chiếm khoảng 75-80% tổng lượng nước cả năm. Lượng nước của sông Tiên Yên - 0,66x109 m3/năm.

1.1.5.2. Hải văn


Độ muối: nếu như độ muối tầng mặt ở ngoài khơi có giá trị cao và biến động không nhiều, thì ở vùng ven bờ độ muối có giá trị thấp hơn và biến thiên khá phức tạp, phụ thuộc rất rõ vào lượng nước ngọt từ lục địa mang ra. Vào mùa mưa, giá trị độ muối của vùng biển ven bờ hạ xuống rất thấp, đặc biệt ở các vùng gần cửa sông.

Nhiệt độ nước biển: nhiệt độ nước biển tầng mặt khá cao. Nhiệt độ trung bình nhiều năm đạt 27,3oC, trong đó ngoài khơi là 27,5oC, còn ven bờ là 26,6oC. Cả ven bờ lẫn ngoài khơi, càng về phía Nam nhiệt độ càng tăng. So với nhiệt độ không khí thì nhiệt độ nước biển có biên độ trong năm nhỏ hơn, nghĩa là nhiệt độ nước biển điều hoà hơn: mùa đông ấm hơn và mùa hè mát hơn. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các dòng biển bức tranh phân bố nhiệt độ nước tầng mặt cũng bị phức tạp hơn.

Bảng 1.4. Độ muối trung bình tháng (‰) tai một số trạm quan trắc trong vùng nghiên cứu

Địa điểm

I

II

III

IV

V

VI

VII

VIII

IX

X

XI

XII

Hòn Gai

31,5

31,8

31,7

30,8

28,7

24,8

21,0

20,8

22,0

26,0

28,9

30,8

Hòn Dấu

28,1

28,1

28,4

26,8

22,7

17,1

11,9

10,9

12,9

18,6

22,4

26,3

Cô Tô

31,5

31,6

31,8

31,5

31,3

31,2

30,8

29,3

28,9

30,3

31,0

31,3

Sóng biển: các đặc trưng của sóng ở vùng nghiên cứu phụ thuộc chủ yếu vào chế độ gió của 2 mùa chính (mùa đông và mùa hè) kết hợp với địa hình ở từng đoạn cụ thể. Vào mùa đông, hướng sóng thịnh hành là Đông Bắc, Đông, độ cao sóng trung bình từ 0,5 - 0,75 m, độ cao sóng cực đại có thể lên tới 2,5 - 3 m. Mùa hè, hướng sóng thịnh hành là Nam, Đông Nam, độ cao sóng trung bình tương đương với mùa đông nhưng độ cao sóng cực đại lớn hơn, đạt từ 3,0 - 3,5 m.

Đặc điểm thuỷ triều: vùng nghiên cứu có chế độ nhật triều thuần nhất. Độ lớn triều đạt khoảng 2,6 m đến 3,6 m vào kỳ nước cường.

Dòng chảy: trong vùng nghiên cứu cả mùa đông và mùa hè đều tồn tại một xoáy thuận có tâm nằm ở khoảng giữa vịnh. Mùa đông tâm này dịch xuống phía nam còn mùa hè thì dịch lên phía bắc. Như vậy vùng biển nghiên cứu thuộc rìa phía tây của hoàn lưu này nên cả hai mùa đông và hè đều có dòng thường kỳ có xu hướng từ bắc xuống nam. Từ bắc xuống nam hướng dòng chảy thay đổi theo địa thế đường bờ và có hướng thay đổi từ tây nam đến nam và nam đông nam. Mặt khác, do địa hình vùng biển này rất phức tạp, cho nên hướng dòng chảy tầng mặt có sự khác nhau khá rõ nét giữa các vị trí quan trắc khác nhau. Tốc độ trung bình 20 - 25 cm/s. Các vũng vịnh ở phía Bắc của vùng này có nhiều đảo che chắn nên dòng chảy diễn biến rất phức tạp và chủ yếu bị chi phối bởi dòng triều và địa hình đáy biển. Đặc biệt tốc độ dòng chảy rất lớn khi đi qua các eo hẹp, cửa giữa các đảo (có thể trên dưới 100 cm/s). Ở ven bờ khu vực các cửa hệ thống sông lớn (sông Tiên Yên) dòng chảy rất phức tạp do động lực của dòng chảy sông rất lớn vào mùa lũ.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương